Thảo luận giá trị của tư tưởng hồ chí minh trong thời đại ngày nay - Pdf 34

KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

THẢO LUẬN
GIÁ TRỊ CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

Nhóm 8

1


Hà nội, tháng 9 năm 2010

Mục lục
1.Tình hình Việt Nam..................................................................................................................4
2.Tình hình thế giới.....................................................................................................................4
1.Chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hóa nhân ái của dân tộc Việt Nam.............................6
2.Tinh hoa văn hoá nhân loại.......................................................................................................8
3.Sự tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin....................................10
4.Phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh.....................................................................................11
1.Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.......................................................................................13

1.1.Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội...............13
1.2.Giá trị tư tưởng độc lập dân tộc và CNXH trong thời đại ngày nay....................16
2.Hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc: xu thế lớn của thời đại...............................21

2.2.Giá trị tư tưởng hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc trong thời đại
ngày nay.......................................................................................................................22
3.Văn hóa, đạo đức, nhân cách trong tư tưởng Hồ Chí Minh...................................................28


3


1. Tình hình Việt Nam
Từ thế kỉ XIX đến trước khi thực dân Pháp xâm lược năm 1858, Việt Nam là một
nước phong kiến dưới sự cai trị của triều đình nhà Nguyễn nhu nhược và hủ bại. Các
chính sách đối nội và đối ngoại bảo thủ phản động: tăng cường đàn áp bóc lột bên
trong, bế quan tỏa cảng đối với bên ngoài; cự tuyệt mọi đề án cải cách. Điều này đã
gây ra cho nền kinh tế nông nghiệp vốn đã lạc hậu lại càng trì trệ kém phát triển,
thương nghiệp không được phát triển, đời sống dân sinh khó khăn. Việt Nam vốn đã
nhỏ bé, lại càng không theo kịp các nước, dẫn đến yếu thế về cả ngoại dao cộng thêm
với triều đình nhu nhược. Dẫn đến kết quả tất yếu là khi Pháp xâm lược, triều đình
nhà Nguyễn với sự chống cự yếu ớt gần như không có đã để mất nước vào tay giặc.
Vào cuối thế kỷ thứ XIX và những năm đấu thế kỷ XX, cả dân tộc Việt Nam bị đè
nén bởi hai tầng áp bức, bóc lột của đế quốc Pháp và chế độ phong kiến nhà Nguyễn.
Không cam chịu làm nô lệ, nhân dân Việt Nam đã liên tiếp đứng lên chống bọn đế
quốc thực dân nhưng không thành công. Các sĩ phu yêu nước đều trăn trở về con
đường giải phóng dân tộc, nhưng chỉ có anh thanh niên Nguyễn Tất Thành đã hành
động hết sức sáng tạo mang tính cách mạng. Được Phan Bội Châu định đưa sang
Nhật để du học và để làm cách mạng, nhưng Nguyễn Tất Thành đã từ chối vì Anh
nghĩ rằng, nhờ Nhật chống Pháp thì chẳng khác nào "đưa cọp cửa trước, rước beo cửa
sau". Nguyễn Tất Thành cho rằng, cầnphải tìm hiểu về thế giới, về nước Pháp trước
khi lựa chọn con đường cách mạng cho dântộc mình. Tháng 6- 1911, Nguyễn Tất
Thành đã tâm sự: "Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi
xem xét họ làm như thế nào, Tôi sẽ trở về giúp đồng bàochúng ta".
Từ đầu thế kỉ XX, các cuộc khởi nghĩa đã tạm thời bị dập tắt, thực dân pháp bắt
đầu khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Từ đây, xã hội bắt đầu xuất hiện các tầng lớp
mới như tiểu tư sản, mầm mống giai cấp tư bản… Các phong trào yêu nước chuyển
sang xu hướng dân chủ do các sĩ phu yêu nước cựu học sĩ truyền bá và dẫn dắt. Các
phong trào này cũng nhanh chóng thất bại.

tranh bất khuất của quê hương sông Lam núi Hồng, một mảnh đất địa linh, nhân kiệt.
Người được thừa hưởng trí tuệ uyên bác của người cha là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh
Sắc và ảnh hưởng, hấp thụ những bài học về lòng nhân ái, đức hy sinh cao cả của mẹ
là bà Hoàng Thị Loan. Những năm tháng thơ ấu, Người đã chứng kiến cảnh nước
mất, nhà tan, đời sống nhân dân lầm than, cơ cực, sự thống trị của thực dân Pháp vô
cùng hà khắc và bạo tàn. Các cuộc đấu tranh do các tầng lớp sĩ phu yêu nước lãnh đạo
đều đi đến thất bại. Cách mạng Việt Nam khi đó khủng hoảng về đường lối.
Tiếp thu truyền thống yêu nước, với tư duy độc lập sáng tạo, Hồ Chí Minh đã sớm
hình thành chí hướng và tìm con đường đi cho cho riêng mình. Hồ Chí Minh rất trân
trọng và khâm phục tinh thần đấu tranh bất khuất của những chí sĩ yêu nước trước đó,
nhưng Người có suy nghĩ khác với con đường cứu nước của các bậc tiền bối. Người
cho rằng con đường Đông du của cụ Phan Bội Châu chẳng khác nào “đuổi hổ cửa
trước, rước beo cửa sau”, còn cụ Phan Chu Trinh thực hiện các biện pháp cải lương,
chẳng khác nào “xin giặc rủ lòng thương”. Năm 1911, Người ra đi tìm đường cứu
nước. Người không đi theo con đường của các bậc tiền bối đã đi, mà đi theo con
đường riêng của mình.
Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã hình thành cho Việt Nam các
giá trị truyền thống dân tộc phong phú, vững bền. Đó là ý thức chủ quyền quốc gia
dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, yêu nước, kiên cường, bất khuất... tạo thành động lực
mạnh mẽ của đất nước; là tinh thần tương thân, tương ái, nhân nghĩa, cố kết cộng
đồng dân tộc; thuỷ chung, khoan dung, độ lượng; là thông minh, sáng tạo, quý trọng
hiền tài, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại để làm phong phú văn hoá dân tộc...
Trong nguồn giá trị tinh thần truyền thống đó, chủ nghĩa yêu nước là cốt lõi, là dòng
chảy chính của tư tưởng văn hoá truyền thống Việt Nam, xuyên suốt trường kỳ lịch
sử, là động lực mạnh mẽ cho sự trường tồn và phát triển của dân tộc. Chính sức mạnh
truyền thống tư tưởng và văn hoá đó của dân tộc đã thúc giục Hồ Chí Minh ra đi tìm

7



Phật giáo, đó là tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn; nếp sống giản dị,
thanh liêm; đề cao tinh thần bình đẳng; không xa rời đời sống mà luôn gắn bó với dân
tộc, đất nước.Ảnh hưởng của tư tưởng Lão – Trang cũng thể hiện đậm nét trong con
8


người Chủ tịch Hồ Chí Minh với lòng yêu thiên nhiên, lối sống giản dị, hoà mình với
thiên nhiên của người.
Về Phật giáo, Hồ Chí Minh đã tiếp thu tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu
nạn; coi trọng tinh thần bình đẳng, chống phân biệt đẳng cấp, chăm lo điều thiện …
Về chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, Hồ Chí Minh tìm thấy những điều
thích hợp với điều kiện nước ta, đó là dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh
hạnh phúc.Văn hoá phương Tây với tư tưởng dân chủ cách mạng cũng thể hiện đậm
nét trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người đã nghiên cứu tiếp thu tư tưởng văn hoá dân
chủ và cách mạng của cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ.
Từ khi Người còn học ở các trường Tiểu học Đông Ba, Quốc học Huế, Người đã
say mê môn học lịch sử và tìm hiểu về cuộc Đại cách mạng Pháp năm 1789. Một
điểm quan trọng tác động đến Hồ Chí Minh là tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, nó là
xuất phát điểm để Người xác định hướng đi tìm đường cứu nước của mình. Người kể
lại: Vào trạc tuổi 13, tôi có nghe được những từ “Tự do, bình đẳng, bác ái”, lúc đó các
sĩ phu yêu nước đang bàn với nhau về những từ này, điều đó thôi thúc Người quyết
tâm sang phương Tây, sang Pháp để tìm hiểu tự do, bình đẳng, bác ái, xem họ làm thế
nào để trở về cứu nước, cứu đồng bào. Qua đó, có thể thấy tư tưởng tự do, bình đẳng,
bác ái có ảnh hưởng rất mạnh đến Hồ Chí Minh trước khi xuất dương tìm đường cứu
nước.
Những tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng như Vônte, Rútxô, Môngtexkiơ
cũng ảnh hưởng đến tư tưởng Người. Khi sang Mỹ, Người đã tiếp thu giá trị về quyền
tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của tất cả các dân tộc trong Tuyên ngôn độc lập năm
1776, Người tiếp thu và hình thành phong cách dân chủ của mình từ trong cuộc sống
thực tiễn ở châu Âu.

nghĩa Mác-Lênin, Người tiếp nhận, chọn lọc, chuyển hóa những tinh hoa của dân tộc
và nhân loại để làm giàu cho kho tàng tư tưởng của chính mình. Hồ Chí Minh là hình
ảnh của sự kết hợp đức từ bi, bác ái của đạo Phật, triết học của C.Mác và thiên tài
cách mạng của Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh có vị trí hết sức quan trọng trong việc
phản ánh bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin soi đường cho
cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Nhân cách, phẩm chất, tài năng của Hồ Chí Minh đã tác động rất lớn đến sự hình
thành và phát triển tư tưởng của Người. Đó là một con người sống có hoài bão, có lý
tưởng, yêu nước, thương dân, có bản lĩnh kiên định, có lòng tin vào nhân dân, khiêm
tốn, bình dị, ham học hỏi, nhạy bén với cái mới, thông minh, có hiểu biết sâu rộng, có
phương pháp biện chứng, có đầu óc thực tiễn, v.v.. Chính nhờ vậy, Người đã khám
phá sáng tạo về lý luận cách mạng thuộc địa trong thời đại mới, xây dựng được một
hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc và sáng tạo về cách mạng Việt Nam, đã vượt
qua mọi thử thách, sóng gió trong hoạt động thực tiễn, kiên trì chân lý, định ra các
quyết sách đúng đắn và sáng tạo, biến tư tưởng thành hiện thực cách mạng.

Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay

12


1. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc gắn bó thông nhất với tư tưởng của
Người về chủ nghĩa xã hội.
Chủ nghĩa thực dân - một trong những điều sỉ nhục lớn của loài người - đã đem
xiềng xích, áp bức, đói nghèo, ngu dốt, bệnh tật... đè nặng lên số phận của các dân
tộc nhược tiểu. Giành lại tự do, độc lập là khát vọng cháy bỏng của các dân tộc bị áp
bức trong thế kỷ XX. Hồ Chí Minh được coi là một trong những người tượng trưng
cho ý chí và khát vọng đó. Người đã nêu lên một chân lý nổi tiếng “Không có gì quý

lược ấy của tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở phương pháp luận để hiểu được con
đường phát triển của cách mạng nước ta, đồng thời giúp hiểu rõ những nguyên nhân
sâu xa và diễn biến phức tạp của tình hình thế giới hiện nay. Cũng trên cơ sở ấy hiểu
rõ vì sao Đảng ta lại kết hợp được và kết hợp tốt sức mạnh của dân tộc ta và sức
mạnh của thời đại trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ta. Chân lý độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội không thể tách rời nhau trong tư tưởng Hồ Chí Minh
được cách mạng Việt Nam vận dụng thành công đã khẳng định đó cũng là chân lý
lớn của thời đại.
Người nói: "Muốn biết ta tiến lên chủ nghĩa xã hội như thế nào thì trước hết phải
biết chủ nghĩa xã hội là gì? Chủ nghĩa xã hội ở Người không phải những điều cứng
nhắc, xa lạ với lợi ích vật chất và tinh thần của con người, mà hết sức cụ thể và thiết
thực. Theo Người: “Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm cho nhân dân lao động thoát
nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời
hạnh phúc”. Chủ nghĩa xã hội là giải phóng nhân dân lao động khỏi nghèo nàn, lạc
hậu. Về bản chất, chủ nghĩa xã hội là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ,
"một xã hội không có chế độ người bóc lột người, một xã hội bình đẳng, ai làm nhiều
hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng".
Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là ”làm sao cho dân giàu, nước mạnh", "Mọi người
được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do". Hạnh phúc, tự do theo quan điểm Hồ Chí
Minh là người dân phải được hưởng đầy đủ đời sống vật chất và tinh thần do chủ
nghĩa xã hội đem lại. Đời sống vật chất là trên cơ sở một nền kinh tế cao dựa trên lực
lượng sản xuất hiện đại, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Người
dân từ chỗ có ăn, có mặc, có chỗ ở đến chỗ ăn ngon, mặc đẹp, đời sống sung túc.
Người đủ ăn thì khá giàu. Người khá giàu thì giàu thêm.
Tuy nhiên, chỉ có tăng trưởng kinh tế, thu nhập cao “ăn ngon, mặc đẹp” chưa thể
gọi là chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội là cùng với việc không ngừng nâng cao đời
sống vật chất, là phải không ngừng nâng cao đời sống tinh thần. Trong điều kiện
nước ta, nhiều khi đời sống tinh thần, văn hóa phải đi trước “soi đường cho quốc dân
đi; văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường, tự chủ”. Từ rất sớm,
ngay khi còn phải tập trung vào nhiệm vụ hàng đầu là giành độc lập dân tộc, Hồ Chí

quan, từ hiện thực vận động của lịch sử, từ đặc điểm Việt Nam, một nước vốn là
thuộc địa, nông nghiệp lạc hậu, khoa học kỹ thuật kém phát triển, tiến thẳng lên chủ
nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội trong
quan điểm Hồ Chí Minh không thể suy nghĩ chủ quan, giáo điều, nóng vội, duy ý chí
mà phải dựa trên cơ sở thực tiễn, đặc điểm thế giới và xu thế của thời đại.Đó là sự
vận dụng sáng tạo, kế thừa có chọn lọc tư tưởng Mác-Lênin kết hợp với truyền thống
văn hóa Việt Nam, với khát vọng công bằng, bác ái của loài người…

15


1.2. Giá trị tư tưởng độc lập dân tộc và CNXH trong thời đại ngày nay
1.2.1. Đối với Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam bao quát những vấn đề cốt lõi, cơ bản nhất, trên cơ sở
vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin. Đó là các luận điểm về
bản chất, mục tiêu và động lực của chủ nghĩa xã hội; về tính tất yếu khách quan
của thời kỳ quá độ; về đặc điểm, nhiệm vụ lịch sử, nội dung, các hình thức, bước
đi và biện pháp tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tư
tưởng đó trở thành tài sản vô giá, cơ sở lý luận và kim chỉ nam cho việc kiên trì,
giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng ta, đồng thời gợi mở nhiều vấn
đề về xác định hình thức, biện pháp và bước đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với
những đặc điểm dân tộc và xu thế vận động của thời đại ngày nay.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh,
nhân dân Việt Nam đã thoát khỏi ách thống trị thực dân tàn bạo, giành được độc
lập, tự do, thống nhất đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ phát huy tác dụng
trong giai đoạn Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc cách mạng giải
phóng dân tộc (1945-1954) mà còn xuyên suốt quá trình tiến hành đồng thời hai
chiến lược cách mạng khác nhau, nhưng có quan hệ khăng khít với nhau - cách

vững trên tất cả mọi mặt đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa; không
vì phát triển, tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá mà làm phương hại các mặt khác
của cuộc sống con người. Vấn đề đặt ra là trong quá trình phát triển vẫn giữ vững
định hướng xã hội chủ nghĩa, biết cách sử dụng các thành tựu mà nhân loại đã đạt
được để phục vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là thành tựu khoa
học - công nghệ hiện đại, làm cho tăng trưởng kinh tế luôn đi liền với sự tiến bộ,
công bằng xã hội, sự trong sạch, lành mạnh về đạo đức, tinh thần.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường tất yếu mà đất nước ta phải trải
qua.Chúng ta phải tranh thủ thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ, của
điều kiện giao lưu, hội nhập quốc tế để nhanh chóng biến nước ta thành một nước
công nghiệp theo hướng hiện đại, sánh vai với các cường quốc năm châu như
mong muốn của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn: xây dựng chủ nghĩa xã
hội là sự nghiệp của toàn dân, do Đảng lãnh đạo, phải đem tài dân, sức dân, của
dân làm lợi cho dân, nghĩa là phải biết phát huy mọi nguồn lực vốn có trong dân
để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Theo tinh thần đó, ngày
nay, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải dựa vào nguồn lực trong nước là
chính, có phát huy mạnh mẽ nội lực mới có thể tranh thủ sử dụng hiệu quả các
nguồn lực bên ngoài. Trong nội lực, nguồn lực con người là vốn quý nhất.
Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự
lãnh đạo của Đảng. Việt Nam đang chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa,
sẵn sang là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu
vì hòa bình, độc lập và phát triển. Trong những năm đổi mới, nền kinh tế của đất
17


nước tiếp tục phát triển với nhịp độ cao so với các nước khác trong khu vực. Tình
hình chính trị của đất nước luôn luôn giữ được ổn định. Tình hình xã hội có tiến
bộ. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. Vị
thế của đất nước không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế. Thế và lực của

18


và biết vận dụng một cách sáng tạo nó trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội
hay không. Thực tiễn cho thấy, công cuộc đổi mới đất nước ngày càng đi vào
chiều sâu thì chúng ta càng phải đối diện với những vấn đề khó khăn, phức tạp
mới. Đất nước hiện đang đứng trước cả cơ hội lớn và thách thức lớn. Tất cả đều
đòi hỏi chúng ta phải nhận thức lại cho đúng, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh cho
phù hợp với bối cảnh mới của thế giới và trong nước hiện nay. Vận dụng sáng tạo
bản chất khoa học và cách mang của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã ngày
càng làm sáng tỏ con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới.
Đó là con đường “phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc
thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân
loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ,
để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền tảng kinh tế hiện đại”.
Rõ ràng, chúng ta đang trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa với phương thức “phát triển rút ngắn” nhằm đạt tới mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xây dựng chủ nghĩa
xã hội, đương nhiên là một sự nghiệp to lớn, lâu dài, đầy khó khăn phức tạp.
Nhưng thực tiễn luôn luôn là tiêu chuẩn của chân lý. Thực tiễn hai mươi năm đổi
mới đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế kéo dài, đã hoàn thành những
nhiệm vụ cơ bản của chặng đường đầu của thời kỳ quá độ và bước sang thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của chúng ta đang tiến lên phía trước, bởi chủ
nghĩa xã hội đổi mới của Việt Nam là biểu hiện sinh động sự thống nhất biện
chứng giữa thuộc tính khoa học và thuộc tính cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí
Minh. Con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là không gì có thể ngăn
cản nổi, bởi vì đó là quy luật tiến hóa khách quan của lịch sử, lại đang được Đảng
ta nhận thức và vận dụng sáng tạo. Quán triệt bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh,

thế kỷ XXI”. Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Hồ Cẩm Đào đã khẳng định, “Sự
phát triển và tiến bộ của Trung Quốc hôm nay đã chứng minh chỉ có chủ nghĩa xã
hội mới có thể cứu Trung Quốc, chỉ có cải cách mở cửa mới có thể phát triển
Trung Quốc, phát triển chủ nghĩa xã hội, phát triển Chủ nghĩa Mác. Nhân dân
Trung Quốc có lòng tin, có khả năng kiến thiết đất nước mình, cũng có lòng tin,
có khả năng cống hiến cho thế giới”… Sự lựa chọn mục tiêu xã hội chủ nghĩa và
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh cách đây gần một thế kỷ đang
được nhân loại tiến bộ tiếp tục chứng minh và khẳng định giá trị chân lý.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập và chủ nghĩa xã hội đang ngày càng
được biết đến rộng rãi trên thế giới. Di sản Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội có giá trị thực tiễn không chỉ đối với cách mạng Việt Nam mà cả
đối với nhân loại trong thời đại ngày nay.

20


2. Hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc: xu thế lớn của thời đại
2.1.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các
dân tộc
Đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác cùng phát triển và chính

sách đối ngoại rộng mở đa phương hoá, đa dạng hoá của Việt Nam hiện nay là sự
vận dụng sáng tạo tư tưởng đối ngoại do Hồ Chí Minh khởi xướng từ năm 1947 là
Việt Nam “Làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với ai.” Hồ
Chí Minh đến với nhân loại tiến bộ bằng tình yêu đối với hoà bình và bằng việc tổ
chức nhân dân Việt Nam đấu tranh giành hoà bình và xây dựng quan hệ hữu nghị,
hợp tác, cùng phát triển giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực và với cộng
đồng quốc tế. Là chiến sĩ kiên cường trong cuộc đấu tranh vì hoà bình, hữu nghị giữa

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện nay, những bài học của
Hồ Chí Minh về phương pháp ứng xử nhân nhượng có nguyên tắc trong đấu tranh vì
hoà bình và trong quan hệ quốc tế thực sự là một di sản có giá trị để bảo vệ hoà bình
hiện nay.
2.2.

Giá trị tư tưởng hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc trong
thời đại ngày nay

2.2.1. Đối với Việt Nam
Cùng với quá trình tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện ở trong nước
cách đây hơn 20 năm, Việt Nam kiên trì thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại
độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại rộng mở, đa
phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế với phương châm Việt Nam là bạn, đối
tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế.
Với đường lối đối ngoại đúng đắn đó, quan hệ đối ngoại của Việt Nam đã
không ngừng được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu, vị thế quốc tế của Việt
Nam ngày càng được nâng cao. Đến nay Việt Nam có quan hệ ngoại giao với hơn
170 nước và có quan hệ về kinh tế, thương mại và đầu tư với hơn 200 nước và
vùng lãnh thổ. Việt Nam tham gia ngày càng tích cực trên các diễn đàn khu vực và
thế giới, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của cộng đồng thế giới vì hoà bình,
hợp tác và phát triển.
Trong các hoạt động đối ngoại, Việt Nam ưu tiên tạo dựng khuôn khổ quan
hệ hợp tác hữu nghị, ổn định lâu dài với các nước láng giềng, các nước khu vực
nhằm tạo môi trường hoà bình, ổn định và các điều kiện thuận lợi cho phát triển
đất nước. Quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam –
Lào tiếp tục được củng cố. Quan hệ Việt Nam - Cam-pu-chia tiếp tục phát triển
theo khuôn khổ "láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền
vững lâu dài"; đặc biệt hiệu quả hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư được nâng
cao. Quan hệ Việt - Trung có bước phát triển mới và toàn diện, khuôn khổ quan hệ

2010. Quan hệ giữa Việt Nam và Nga cũng có nhiều khởi sắc mới. Trong chuyến
thăm chính thức Việt Nam nhân dịp dự Hội nghị Cấp cao APEC-14, Tổng thống
Pu-tin nhấn mạnh việc coi quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam là một trong
những hướng ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Nga ở khu vực Châu Á-Thái
Bình Dương và khẳng định Nga sẵn sàng đầu tư mạnh vào Việt Nam trong thời
gian tới. Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU) đã thoả thuận bắt đầu đàm phán
về Hiệp định hợp tác mới thay thế Hiệp định hợp tác khung ký năm 1995, mở
rộng hợp tác và tăng cường trao đổi về nhiều mặt. Nhiều nước EU cam kết tiếp tục
duy trì và tăng viện trợ ODA cho Việt Nam.
23


Trong khi triển khai chính sách đối ngoại đa dạng hoá, đa phương hoá, Việt
Nam luôn coi trọng củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác của Việt
Nam với các nước bạn bè truyền thống, các nước khác ở Châu Á, Đông Âu, Cộng
đồng các quốc gia độc lập (SNG), Trung Đông, Châu Phi và Mỹ La-tinh; hợp tác
phát triển mạnh trên nhiều lĩnh vực, nhất là kinh tế, thương mại, đầu tư, du lịch,
lao động.
Cùng với các hoạt động ngoại giao song phương, ngoại giao đa phương
Việt Nam cũng phát triển mạnh mẽ. Trên các diễn đàn đa phương, Việt Nam ngày
càng đóng một vai trò tích cực và có trách nhiệm đối với các vấn đề quốc tế, khu
vực. Thành công của Năm APEC 2006 tại Hà nội đã ghi đậm dấu ấn của Việt
Nam với nhiều sáng kiến và đóng góp rất tích cực vào các văn kiện quan trọng
được thông qua tại Hội nghị, đặc biệt là Kế hoạch hành động Hà Nội thực hiện Lộ
trình Bu-san. Thành công của Tuần lễ Cấp cao APEC-14 năm ngoái, tiếp theo các
thành công của Hội nghị Cấp cao Pháp ngữ lần thứ 7 (1997), ASEAN VI (1998)
và ASEM V (2004), đã thể hiện một bước phát triển mới của ngoại giao đa
phương Việt Nam, đồng thời phát đi một thông điệp mạnh mẽ tới thế giới và bạn
bè quốc tế về một Việt Nam đổi mới thành công, về chính sách đối ngoại độc lập
tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, và chủ trương hội nhập quốc tế

là dựa trên thế và lực mới của đất nước đã được nâng lên sau 20 năm thực hiện
thành công công cuộc Đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh
đạo. Các hoạt động đối ngoại hiệu quả đã góp phần vào những thành tựu to lớn và
có ý nghĩa lịch sử trong 20 năm qua của cả dân tộc Việt Nam.
Cùng với thế giới, Việt Nam đang vững bước tiến lên trong thập niên đầu
của thế kỷ 21, một thế kỷ đang mở ra những cơ hội to lớn cho các dân tộc cùng
nhau hợp tác và phát triển, nhưng đồng thời cũng chứa đựng rất nhiều thách thức
do tình hình thế giới và khu vực không ngừng biến động và diễn biến khó lường.
Việt Nam tiếp tục giương cao ngọn cờ "hòa bình, hợp tác và phát triển" vì nó
không những phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới mà còn đáp ứng lợi
ích cơ bản và lâu dài của Việt Nam. Hòa bình, ổn định là điều kiện tiên quyết để
phát triển. Ngược lại, phát triển nhanh và bền vững sẽ tạo nền tảng vật chất để
củng cố hơn nữa môi trường hòa bình, an ninh. Nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu
giữ vững môi trường hoà bình và tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh
phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đưa
Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp phát triển vào năm 2020, Việt
Nam sẽ kiên trì thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng
hoá quan hệ quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở
rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác theo phương châm Việt Nam là bạn,
đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế.
2.2.2. Đối với thế giới
Thế giới hiện nay đang diễn ra cả hai tình hình tưởng như mâu thuẫn nhau
nhưng nó lại thống nhất trong một chỉnh thể. Đó là đấu tranh dân tộc và đấu tranh
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status