TRƯỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÊ HỒNG PHONG
LỚP BỒI DƯỠNG NGẠCH CHUYÊN VIÊN K6A - 2015
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP
Tên đề tài: Lựa chọn phương án giải quyết tranh chấp trong hoạt động
góp vốn kinh doanh bằng quyền sử dụng đất
Họ và tên học viên: Nguyễn Thị Phương Thủy.
Đơn vị công tác: Phòng Kinh tế quận Hà Đông.
Hà Nội, tháng 11 năm 2015
MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu………………………………………………………..
2
Phần I. Mô tả tình huống………………………………………...
4
1. Hoàn cảnh ra đời của tình huống:………………………..
4
2. Diễn biến tình huống:…………………………………….
a) Xây dựng phương án giải quyết:…………………...
13
b) Lựa chọn phương án tối ưu:………………………..
16
c) Kế hoạch tổ chức thực hiện:………………………..
17
Phần III. Kết luận và kiến nghị………………………………….
18
Tài liệu tham khảo………………………………………………..
21
1
Tiểu luận cuối khóa lớp chuyên viên K6A.2015
Học viên: Nguyễn Thị Phương Thủy
LỜI NÓI ĐẦU
Sở hữu đất đai theo Hiến pháp năm 1992, là Hiến pháp của thời kỳ đổi
mới, tại Điều 17, khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước quản
đó, góp phần thúc đẩy các quan hệ xã hội phát triển, tạo được niềm tin của nhân
dân đối với bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước. Mặt khác, việc giải quyết các
tranh chấp đất đai nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả sẽ giảm thiểu chi phí xã hội,
chấn chỉnh, uốn nắn những thiếu sót, lệch lạc, yếu kém trong công tác quản lý
nhà nước về đất đai, kiến nghị với cấp có thẩm quyền bổ sung, sửa đổi chế độ
chính sách, pháp luật về đất đai sát, hợp với thực tiễn cuộc sống.
Với những lý do trên, học viên chọn đề tài: Lựa chọn phương án giải
quyết tranh chấp trong hoạt động góp vốn kinh doanh bằng quyền sử dụng
đất làm đề tài cho tiểu luận tốt nghiệp lớp quản lý nhà nước chuyên viên của
mình.
Nội dung tình huống nêu ra hiện nay xuất hiện ngày càng phổ biến, đang
được các cơ quan hành chính và toà án có nhiều quan điểm khác nhau trong việc
xác định thẩm quyền giải quyết.
Mục đích của tiểu luận là nhằm làm sáng tỏ những quy định của pháp luật
về đất đai, về vấn đề kinh tế tài chính trong việc áp dụng chính sách luật và đi
sâu vào tình huống thực tiễn trong xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp về
quyền sử dụng đất khi các tổ chức, cá nhân góp vốn vào doanh nghiệp. Thông
qua đó, học viên đưa ra hướng xử lý phù hợp với pháp luật hiện hành và điều
kiện thể chế. Những yêu cầu trong tình huống quản lý Nhà nước vừa hàm chứa
cơ sở lý luận, vừa chứa đựng các quy định thực định của pháp luật về giải quyết
tranh chấp đất đai và thực tiễn cuộc sống. Mặc dù có nhiều cố gắng, song tiểu
luận không tránh khỏi có những hạn chế, học viên rất mong được sự quan tâm
đóng góp ý kiến của thầy cô Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong thành phố
Hà Nội để tiểu luận được hoàn chỉnh hơn.
3
Tiểu luận cuối khóa lớp chuyên viên K6A.2015
Học viên: Nguyễn Thị Phương Thủy
4
Tiểu luận cuối khóa lớp chuyên viên K6A.2015
Học viên: Nguyễn Thị Phương Thủy
Sau khi bàn bạc với các thành viên trong gia đình, ông Nam đã quyết định
lựa chọn phương án góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Tại Hợp đồng góp vốn vào Công ty Phú An, có ghi rõ: ông Nam nhất trí
góp vốn bằng quyền sử dụng 5.000m2 đất ở thuộc quyền sử dụng của mình trong
thời hạn 10 năm kể từ ngày 20/07/2008 (hiện ông Nam chưa được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng có nguồn gốc đất sử dụng ổn định từ
trước năm 1945) với trị giá 1 tỷ đồng và được ghi vào vốn điều lệ của Công ty
(chiếm 15%). Vì cho rằng đây là thỏa thuận góp vốn, các bên có toàn quyền thỏa
thuận, nên sau khi ký hợp đồng với ông Nam, Công ty Phú An không làm thủ
tục công chứng, chứng thực và đăng ký quyền sử dụng đất đã nhận góp vốn tại
cơ quan có thẩm quyền.
Nhưng sau 03 năm kinh doanh trên diện tích đất đó không hiệu quả, nên
Công ty Phú An đã quyết định cho Công ty cổ phần Dịch vụ và Thương mại
Thành Phong thuê lại cơ sở vật chất trong thời hạn 7 năm còn lại với giá 1,5 tỷ
đồng. Do chuyển đổi Công ty, hệ thống lãnh đạo không đồng nhất giữa Công ty
cũ và Công ty mới, nên anh Phúc đã không được Công ty CPDV&TM Thành
Phong thuê nữa và anh Phúc đã phải nghỉ việc sau 3 năm làm việc cho Công ty
Phú An.
Sau khi chuyển đổi Công ty, ông Nam đã có được một số chứng từ từ con
trai chứng minh Công ty cũ Phú An đã có số lãi nhất định trong 3 năm hoạt động
kinh doanh, và đã đề xuất lên Ban Giám đốc, song Công ty Phú An giải thích
rằng, Công ty hoạt động không hiệu quả và cũng đã nhiều lần nêu lên trong các
cuộc Họp Đại hội đồng cổ đông về tình hình như vậy của Công ty, đồng thời
cũng nhận được sự ủng hộ của đại bộ phận cổ đông trong đó có ông Nam, ủng
ty với ông Nam, cũng được Tòa án quận HĐ thụ lý để giải quyết.
Trong trường hợp nêu trên, việc Chủ tịch UBND quận HĐ tiến hành giải
quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục hành chính theo yêu cầu của ông Nam; còn
Tòa án quận HĐ giải quyết về tranh chấp theo thủ tục tố tụng dân sự có liên
quan đến thỏa thuận góp vốn vào công ty theo yêu cầu của Công ty Phú An đều
phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. Vậy cần đưa ra các phương án
giải quyết và xác định cơ quan nào là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh
chấp này một cách đúng pháp luật, vừa phù hợp với thực tế cuộc sống là mục
đích mà tình huống quản lý nhà nước này đặt ra.
6
Tiểu luận cuối khóa lớp chuyên viên K6A.2015
Học viên: Nguyễn Thị Phương Thủy
Phần II
PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG
1. Cơ sở lý luận:
Thực hiện đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, quyền sử dụng đất cũng được coi là một nguồn lực quan trọng để
phát triển kinh tế. Trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đã ban
hành hàng loạt các quy định để thể chế hoá chủ trương, đường lối này nhằm tạo
điều kiện cho các tổ chức, cá nhân được góp vốn bằng quyền sử dụng đất để gia
nhập thị trường như:
- Bộ luật dân sự 2005;
- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004;
- Luật tố tụng hành chính 2010;
- Luật doanh nghiệp năm 2005;
- Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 của Chính phủ hướng
quy định của Nhà nước về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, hoạt động
góp vốn bằng quyền sử dụng đất được thực hiện trên thực tế.
- Xác định tranh chấp giữa ông Nam với Công ty Phú An về bản chất là
tranh chấp về quyền sử dụng đất hay tranh chấp về việc góp vốn vào doanh
nghiệp, từ đó xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trên, bảo
đảm tính thống nhất và minh bạch của pháp luật trong việc phân định thẩm
quyền giải quyết tranh chấp trên.
- Xác định rõ, minh bạch trong vấn đề kiểm kê tài chính trong vấn đề lợi
tức cổ phần của Công ty với các cổ đông, trong đó có ông Nam. Đảm bảo quyền
lợi của các bên tham gia theo Luật Doanh nghiệp 2005.
3. Phân tích nguyên nhân và hậu quả
a) Nguyên nhân:
Pháp luật đất đai không có quy định nào về việc không cho phép người sử
dụng đất không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong
các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm
2003 được góp vốn theo quy định của pháp luật. Do vậy, việc thỏa thuận góp
vốn bằng quyền sử dụng đất giữa ông Nam với Công ty Phú An trong thời hạn
10 năm với giá trị là 1 tỷ đồng được pháp luật Việt Nam bảo hộ và thừa nhận.
Cụ thể, tại khoản 1 Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định: “Tổ chức,
8
Tiểu luận cuối khóa lớp chuyên viên K6A.2015
Học viên: Nguyễn Thị Phương Thủy
cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền thành lập và quản lý
doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này” và khoản 8 Điều 13
Luật Đất đai 2003 cũng quy định: “Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không
phải là đất thuê có quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất với tổ chức, hộ gia
đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài để hợp tác sản xuất, kinh
quyền sử dụng đất; trường hợp việc góp vốn phát sinh pháp nhân mới thì gửi hồ
sơ đăng ký góp vốn đến cơ quan quản lý đất đai thuộc Uỷ ban nhân dân cấp có
thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho pháp nhân mới đó”.
Trường hợp nêu trên, thỏa thuận góp vốn giữa các bên chưa phát sinh hiệu
lực pháp luật, do chưa làm thủ tục công chứng, chứng thực và đăng ký tại cơ
quan nhà nước có thẩm quyền.
Về phía ông Nam, việc ông cho rằng đây là tranh chấp có liên quan đến
đất đai chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đề nghị Chủ tịch
UBND quận HĐ giải quyết là đúng. Tuy nhiên, đây mới chỉ là hình thức của
tranh chấp, còn về bản chất đó là tranh chấp về việc góp vốn mà đối tượng là
quyền sử dụng đất chưa được cấp Giấy chứng nhận.
Về phía Công ty Phú An, việc Công ty cho rằng đây là tranh chấp có liên
quan đến góp vốn thành lập doanh nghiệp là đúng về bản chất, nội dung của
quan hệ tranh chấp nên đã yêu cầu Tòa án quận HĐ giải quyết, cũng phù hợp
với quy định về thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự. Tuy nhiên, do đối
tượng góp vốn là quyền sử dụng đất chưa có Giấy chứng nhận, nên việc để thỏa
thuận góp vốn giữa các bên được coi là hợp pháp, cần phải tuân theo quy định
của pháp luật chuyên ngành về hình thức và thủ tục, mà ở đây các bên cần phải
tuân thủ những quy định về công chứng, chứng thực và đăng ký tại cơ quan có
thẩm quyền theo quy định của Luật Đất đai năm 2003.
Thứ hai, hiện nay còn tồn tại những mâu thuẫn, bất cập giữa hệ thống
pháp luật về đất đai và pháp luật dân sự. Việc yêu cầu của ông Nam được xác
định là giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất chưa có Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Do 5.000m2 thuộc quyền sử dụng của ông Nam không có
giấy tờ và chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên theo quy định
tại điểm a khoản 2 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003, thẩm quyền giải quyết
thuộc Chủ tịch UBND cấp huyện nơi có đất tranh chấp “Tranh chấp về quyền sử
dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không
10
viện dẫn trình tự, thủ tục quy định tại Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi
hành, mà không thể viện dẫn quy định của pháp luật dân sự. Trong khi đó Luật
Đất đai năm 2003 quy định về vấn đề này chủ yếu ở hình thức, không đề cập
đến nội dung.
11
Tiểu luận cuối khóa lớp chuyên viên K6A.2015
Học viên: Nguyễn Thị Phương Thủy
Thứ ba, việc tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân gia nhập thị trường đã
được pháp luật ghi nhận bằng các thủ tục đăng ký kinh doanh, thành lập doanh
nghiệp một cách nhanh chóng, nhưng công tác hậu kiểm trong khâu đăng ký
kinh doanh chưa được cơ quan nhà nước quan tâm, chú trọng. Tình trạng phổ
biến hiện nay khi đăng ký kinh doanh là các bên tham gia góp vốn doanh nghiệp
có văn bản thoả thuận về giá trị vốn góp. Thỏa thuận đó được coi là lĩnh vực dân
sự, nên cơ quan đăng ký kinh doanh thường không tham gia vào việc kiểm tra
tính hợp pháp của nó. Quan niệm như vậy khiến công tác hậu kiểm về việc góp
vốn vào doanh nghiệp bị coi nhẹ, mang tính hình thức. Các bên tham gia góp
vốn và cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ quan tâm đến tính thủ tục, mà thường
không coi trọng việc thực hiện nội dung của thoả thuận đó. Điều này khiến trong
quá trình kinh doanh nếu xảy ra tranh chấp trong việc góp vốn sẽ làm cản trở
hoạt động của doanh nghiệp.
Thứ tư, về việc thanh toán cổ tức, theo Luật Doanh nghiệp 2005 tại mục
3, điều 93. Trả cổ tức: Hội đồng quản trị phải lập danh sách cổ đông được nhận
cổ tức, xác định mức cổ tức được trả đối với từng cổ phần, thời hạn và hình thức
trả chậm nhất 30 ngày trước mỗi lần trả cổ tức. Thông báo về trả cổ tức được
gửi bằng phương thức bảo đảm đến cổ đông theo địa chỉ đăng ký trong sổ đăng
ký cổ đông chậm nhất 15 ngày trước khi thực hiện trả cổ tức, thì ông Nam đã có
đơn kiện gửi lên Tòa án nhân dân quận HĐ cùng các giấy tờ làm bằng chứng
4. Xây dựng và lựa chọn phương án giải quyết
a) Xây dựng phương án giải quyết:
Phương án I: Giải quyết tranh chấp theo thủ tục hành chính
Theo phương án này, xác định Chủ tịch UBND quận HĐ là người có
thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Hoà giải trong việc giải quyết tranh chấp đất
đai nói chung và tranh chấp giữa ông Nam với Công ty Phú An là một thủ tục
có tính bắt buộc. Việc hoà giải được tiến hành ở cấp xã phường theo quy định tại
Điều 135 Luật Đất đai. Trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
đơn, UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp có trách nhiệm phối hợp
với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ
chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai.
Kết quả hoà giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ
ký của các bên tranh chấp và xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi có
đất. Trong trường hợp nêu trên, việc Chủ tịch UBND quận HĐ thụ lý đơn của
13
Tiểu luận cuối khóa lớp chuyên viên K6A.2015
Học viên: Nguyễn Thị Phương Thủy
ông Nam để giải quyết tranh chấp đất dùng để góp vốn vào doanh nghiệp khi
UBND phường PL nơi có đất và nhà chưa tiến hành hoà giải là chưa đúng quy
trình giải quyết tranh chấp đất đai.
Trong trường hợp này Chủ tịch UBND quận HĐ có thể hướng dẫn ông
Nam gửi đơn đến UBND phường PL nơi có đất và nhà để thực hiện việc hoà
giải giữa các bên trước khi gửi đơn đến Chủ tịch UBND quận để giải quyết theo
quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 135 Luật đất đai “Trường hợp kết quả
hoà giải khác với hiện trạng sử dụng đất thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị
trấn chuyển kết quả hoà giải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết
Phương án II: Giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự
Xác định thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án. Khi có đơn khởi kiện
của Công ty Phú An, Tòa án quận HĐ phải căn cứ vào khoản 3 Điều 29 Bộ luật
tố tụng dân sự để thụ lý giải quyết vụ án. Toà án quận HĐ phải tiến hành hoà
giải giữa các bên tham gia tranh chấp.
Nếu hoà giải thành, Toà án quận HĐ lập biên bản hoà giải thành và sau
thời hạn 15 ngày kể từ ngày hoà giải thành các bên không thay đổi ý kiến thì ra
quyết định công nhận hoà giải thành và ra quyết định đình chỉ vụ án. Trong
trường này, Toà án quận HĐ sẽ phải có trách nhiệm hướng dẫn các bên làm thủ
tục công chứng, chứng thực và đăng ký góp vốn bằng quyền sử dụng đất tại Văn
phòng đăng ký đất, nhà quận HĐ.
Nếu các bên không hoà giải được, Toà án quận HĐ phải đưa vụ án ra xét
xử. Theo đó, Toà án quận HĐ sẽ phải xác định thoả thuận giữa các bên tham gia
là hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Căn cứ vào quy định tại Điều 131 Luật Đất đai năm 2003 và Điều 155
Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật
Đất đai năm 2003, việc thoả thuận góp vốn giữa các bên phải làm thủ tục công
chứng, chứng thực và đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong
trường hợp này, thoả thuận giữa các bên chưa công chứng, chứng thực và làm
thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nên chưa phát sinh hiệu
lực pháp luật.
Nếu trong trường hợp Công ty Phú An yêu cầu công nhận thoả thuận góp
vốn vào doanh nghiệp của ông Nam, Toà án quận HĐ sẽ căn cứ Điều 131 Luật
Đất đai năm 2003 và Điều 155 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004
15
Tiểu luận cuối khóa lớp chuyên viên K6A.2015
Học viên: Nguyễn Thị Phương Thủy
Tiểu luận cuối khóa lớp chuyên viên K6A.2015
Học viên: Nguyễn Thị Phương Thủy
để tuyên các bên có trách nhiệm hoàn trả các quyền lợi và nghĩa vụ liên quan để
giải quyết triệt để vấn đề, nếu các bên có yêu cầu giải quyết các tranh chấp
quyền và nghĩa vụ tài chính có liên quan.
Nhưng phương án II có nhược điểm là đương sự phải nộp án phí và phải
tiến hành theo các thủ tục theo pháp luật tố tụng quy định và thời gian kéo dài.
Tuy nhiên, từ những phân tích nêu trên, học viên lựa chọn phương án II,
chuyển vụ việc đến Toà án quận HĐ để giải quyết theo quy định của pháp luật
tố tụng dân sự.
c) Kế hoạch tổ chức thực hiện:
Trong trường hợp sử dụng phương án II, cơ quan Tòa án và Chính phủ
cần thống nhất và có văn bản hướng dẫn trường hợp tranh chấp quyền sử dụng
đất mang góp vốn sẽ do Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, sau đó sẽ
tiến hành thực hiện như phương án II đã trình bày ở trên, như vậy mới tránh
được rủi ro trong việc xác định thẩm quyền.
17
Tiểu luận cuối khóa lớp chuyên viên K6A.2015
Học viên: Nguyễn Thị Phương Thủy
Phần III
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Các vấn đề liên quan đến đất đai, trong thời buổi kinh tế thị trường ngày
nay luôn là chủ đề nóng bỏng cần được các cơ quan chức năng quan tâm và giải
bằng quyền sử dụng đất làm cơ sở cho người sử dụng đất thực hiện quyền của
mình. Cơ quan Toà án trên cơ sở đó cũng có căn cứ để xác định thẩm quyền khi
tham gia giải quyết tranh chấp.
Hai là, xác định rõ thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi góp vốn bằng
quyền sử dụng đất trong tất cả các trường hợp đã có hoặc chưa có Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp sẽ do Tòa án giải quyết. Quy định về
thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất chưa có giấy tờ hợp pháp
khi đem góp vốn hiện nay dẫn đến hoạt động của các cơ quan nhà nước khi giải
quyết tranh chấp và người yêu cầu giải quyết gặp nhiều rủi ro. Quyết định giải
quyết của cơ quan hành chính hay phán quyết của Toà án có thể dễ dàng bị
tuyên là vi phạm pháp luật do trái thẩm quyền, khiến người có yêu cầu phải mất
nhiều thời gian, tốn công sức, tiền của.
Do vậy, đối với những tranh chấp về quyền góp vốn bằng quyền sử dụng
đất, cần nghiên cứu, quy định theo hướng trao quyền giải quyết cho Toà án,
thay vì cơ quan hành chính nhà nước. Theo đó những tranh chấp về góp vốn
bằng quyền sử dụng đất ngay cả đối với trường hợp không có giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hoặc một trong các giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5
Điều 50 Luật Đất đai cũng sẽ cho Toà án giải quyết theo thủ tục dân sự. Quy
định như vậy sẽ giải quyết những chống chéo về thẩm quyền giải quyết giữa các
cơ quan hành chính nhà nước và Toà án theo quy định của Luật đất đai và Bộ
luật tố tụng dân sự.
Thứ ba, thực hiện công tác phổ biến, nâng cao nhận thức pháp luật. Quản
lý nhà nước được thực hiện theo pháp luật là cơ sở chủ yếu để điều chỉnh các
quan hệ xã hội. Muốn tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật, ngăn chặn kịp
thời những hành vi vi phạm, hạn chế sự chồng chéo hoặc đùn đẩy trách nhiệm
giữa các cơ quan có thẩm quyền, cần phải làm tốt công tác phổ biến pháp luật
đến tận cơ sở, thông qua các chương trình giáo dục pháp luật, hỗ trợ pháp lý
doanh nghiệp; làm cho mọi người hiểu và thực hiện đúng pháp luật “Sống và
làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”. Vì vậy, việc nâng cao trình độ của cán
19
[10]. Luật tố tụng hành chính năm 2010.
[11]. Luật doanh nghiệp 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
[12]. Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 của Chính phủ
hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp.
[13]. Luật công chứng năm 2006;
[14]. Nghị định số 02/2008/NĐ-CP ngày 04/01/2008 của Chính phủ Quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Luật công chứng.
[15]. Một số tài liệu liên quan khác.
21
Tiểu luận cuối khóa lớp chuyên viên K6A.2015
Học viên: Nguyễn Thị Phương Thủy