MỤC LỤC
Nội dung
Mục lục
I. MỞ ĐẦU
II. NỘI DUNG TÌNH HUỐNG
1. Mô tả tình huống
2. Phân tích tình huống
3. Xây dựng đánh giá phương án và lựa chọn phương án
4. Kế hoạch tổ chức thực hiện
III. KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN
1. Kiến nghị
2. Kết luận
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang
01
02
04
04
07
10
13
14
14
15
17
1
I. MỞ ĐẦU
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất trực tiếp, mặt
bằng để sản xuất kinh doanh, xây dựng công sở, các công trình công cộng và nhà
ở. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất
quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho cá nhân, hộ gia đình, tổ chức
Bằng những kiến thức được trang bị thông qua quá trình học tập tại lớp
bồi dưỡng kiến thức QLNN – Chương trình chuyên viên khóa XVII, tỉnh Điện
Biên và sự giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo, tôi đã chọn tình huống
“Giải quyết tranh chấp đất đai giữa hai hộ gia đình ” làm bài tiểu luận cuối khoá
chương trình học tập. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện tiểu luận do trình độ
nhận thức và hiểu biết của tôi về vấn đề này có phần còn hạn chế. Vì vậy, quá
trình thực hiện không thể tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự
quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo và các đồng chí đồng
nghiệp.
3
II. NỘI DUNG TÌNH HUỐNG
1. Mô tả tình huống: Năm 1982 ông Lò Văn P định cư tại bản X xã TC
có khai hoang và làm nương lúa ở bờ khe và phát quang khe đắp đập thành
một cái ao ở lưng chừng núi cách xa khu dân bản địa. Ông tiến hành canh tác
và sử dụng cái ao đó cho đến năm 1990 thì ông P mắc vào tệ nạn Ma tuý, của
cải trong gia đình ông bán đi dần và cuối cùng bán cả mấy mảnh nương ở gần
khu vực ao, riêng ao cá ông không bán.
Trong thời gian ông P nghiện Ma tuý gia đình ông rất khó khăn không đủ
điều kiện để tiếp tục thả cá trên ao đó nữa nên áo cá bỏ hoang từ năm 1991 nhưng
ông vẫn tiến hành dọn dẹp đánh dấu (theo phong tục tập quán). Năm 2003 được sự
tạo điều kiện của chính quyền địa phương cũng như sự nỗ lực của bản thân ông P
đã cai nghiện thành công trở về bản làng tiếp tục sinh sống. Ông cùng gia đình tiến
hành ra cái ao cũ phát cỏ đắp bờ để tiến hành thả cá trên diện tích đất ao mà trước
đây ông đã thả cá. Khi tiến hành đắp bờ thì có ông Quàng Văn V đến ngăn cản, hai
bên đã xảy ra xung đột, không bên nào chịu bên nào.
Ngày 14/4/2004 ông Quàng Văn V đã làm đơn khiếu nại gửi tới UBND xã
TC và uỷ ban UBND huyện TG với nội dung: Năm 1992 tại khu vực khe này
chưa có ai khai thác sử dụng, gia đình ông Quàng Văn V đã cùng một số hộ khác
cải tạo và chia nhau khai thác sử dụng làm ao thả cá. Gia đình ông V được chia
đất phần đầu tiên tính từ đầu khe. Sau khi được chia đất, gia đình ông Quàng Văn
Ngày 14/6/2004 UBND xã lại tiếp tục triệu tập hai gia đình để hoà giải.
Kết quả cuộc hoà giải này UBND xã TC kết luận giao cho ông P được sử dụng vì
UBND xã qua kiểm tra xác định trên khu ao đang tranh chấp (phần đầu tiên tính
từ đầu khe xuống) có một cái ao mà gia đình ông P đang sử dụng, UBND xã xác
định cái ao trên mới đúng là ao được ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất và cũng phù hợp với sự mô tả trong đơn của ông P. Ông V đã không đồng ý
với kết quả hoà giải trên nên ông lại tiếp tục gửi đơn với nội dung như những lá
đơn trước nhưng thêm chi tiết là cái ao trên ông đã cho con trai sử dụng từ năm
2001 nên ao đó không thuộc quyền sử dụng của ông nữa.
Ngày 13/5/2005 UBND xã TC triệu tập hai bên gia đình đến hoà giải
nhưng kết quả hoà giải không thành vì lý do: Ông V có giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số 0045 và phần diện tích ao thể hiện ở GCNQSDĐ là 1000 m
2
nhưng chi tiết giáp ranh ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không
trùng với thực tế khu vực cả hai ao ở khe đồi đó, lại không có sơ đồ mô tả địa
danh bản X nên UBND xã không đủ thẩm quyền giải quyết, yêu cầu cấp trên có
thẩm quyền xác minh giải quyết.
Ngày 23/4/2005 UBND huyện TG yêu cầu phòng Nông nghiệp - Địa chính
5
(Nay là phòng Tài nguyên - Môi trường) xuống địa bàn xác minh giải quyết. Qua
thẩm tra xác minh phòng Tài nguyên - Môi trường kết luận: Khu vực ao đang
tranh chấp vẫn được giao cho ông Quàng Văn V vì ông V đã có giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Còn phần ao trên đầu khe thì Phòng Tài nguyên - Môi trường
không có ý kiến gì.
Lần này vì quá bức xúc với kết luận trên nên ông Lò Văn P đã viết đơn
gửi tới UBND xã, UBND huyện và đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Điện Biên
với nội dung: Năm 1982 gia đình ông đã đến đây khai phá đầu tiên. Sau đó do
điều kiện ông mắc tệ nạn Ma tuý nên không có điều kiện chăn thả cá nhưng gia
đình ông vẫn đánh dấu giữ theo phong tục tập quán. Khi nhà nước có chủ
trương cho nhân dân kê khai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bản
minh của Pháp luật. Giải quyết không đúng không những không bảo vệ được lợi
ích chính đáng của nhân dân mà còn gây ảnh hưởng xấu về mặt xã hội. Việc giải
quyết không dứt điểm sẽ dẫn tới khiếu kiện kéo dài, mất thời gian, công sức, tiền
của cho nhân dân và cán bộ Nhà nước. Vụ việc này cần giải quyết dứt điểm để
nhân dân yên tâm tăng gia sản xuất.
2.2. Phân tích nguyên nhân và hậu quả của tình huống:
* Phân tích: Sau khi nhận được đơn khiếu nại của ông Lò Văn P, UBND
huyện TG đã có Quyết định số 120/QĐ-UBND ngày 7/9/2005 của Chủ tịch
UBND huyện TG về việc thẩm tra xác minh giải quyết tranh chấp giữa 2 hộ gia
đình ông P và ông V. Ngày 8/9/2005 đoàn Thanh tra do Phó Chánh thanh tra
huyện làm trưởng đoàn đã triệu tập, họp đoàn thanh tra.
- Đoàn thanh tra đã xuống UBND xã TC thẩm tra lại toàn bộ sự việc, yêu
cầu UBND xã TC nộp toàn bộ đơn khiếu nại của gia đình ông P và ông V cùng
với các biên bản, kết luận trước và đưa ra một số nội dung nghi vấn, cụ thể:
? Tại sao UBND xã TC lại không thể hoà giải được cũng như có những kết
luận hoàn toàn trái ngược nhau giữa các buổi hoà giải? Thực tế UBND xã cũng
không xác định được vị trí ao thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
là cái ao nào; Ông Chủ tịch xã là anh họ của ông V và lại là em rể ông P nên
trong việc giải quyết gặp rất nhiều khó khăn;
7
? Tại sao Phòng Tài Nguyên - Môi trường huyện lại có kết luận giao khu
đất ao đang tranh chấp cho ông V? Thực chất trong quá trình giải quyết, cán bộ
được phân công tiến hành thẩm tra xác minh đã không tìm hiểu sâu các nhân
chứng am hiểu khu đất nhất là các già làng, trưởng bản, người có uy tín trong
dòng họ, các Đảng viên tại thôn bản nơi ông P và ông V cư trú. Cán bộ địa chính
huyện cũng không tới thực địa để xem xét lại vị trí giáp gianh của khu vực tranh
chấp chỉ đơn thuần xuống gặp cán bộ địa chính xã và ông Chủ tịch xã. Sau khi
xem xét các biên bản hoà giải và căn cứ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
mà kết luận giao khu vực ao đang tranh chấp cho ông V sử dụng, dẫn đến những
kết luận thiếu trung thực.
tuân thủ pháp luật, mặt khác trình độ hiểu biết của cán bộ cấp xã còn hạn chế,
cũng có cán bộ xã đã nhìn nhận được mặt phải của sự việc nhưng còn e ngại và
muốn né tránh gây nên sự mất đoàn kết trong thôn bản nên việc giải quyết công
việc chưa thống nhất đồng bộ;
- Do thiếu hiểu biết pháp luật về đất đai của ông Quàng Văn V và cũng vì
lợi ích cá nhân nên ông đã cố ý tranh chấp phần đất ao với ông Lò Văn P dẫn tới
vụ khiếu kiện kéo dài;
- Hệ thống văn bản quy phạm về đất đai chưa hoàn thiện đồng bộ, thiếu cụ
thể hoá, công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật về đất đai cho quần chúng
nhân dân chưa coi trọng đúng mức, nhất là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số.
Đôi khi các cá nhân, hộ gia đình tranh chấp và khiếu kiện kéo dài không phải do
lợi ích vật chất mà vì tự ái dân tộc;
- Hoạt động của cơ quan quản lý hành chính Nhà nước các cấp chưa đồng
bộ, khoa học nhất là công tác kiểm tra, theo soát theo dõi, thống kê và quản lý đất
đai, đặc biệt là công tác quản lý đất nông nghiệp - lâm nghiệp;
- Chưa chú ý tới thông tin nhiều chiều, né tránh, không chịu sửa sai trước
quần chúng nhân dân và trước cơ quan cấp trên.
*. Hậu quả của tình huống
- Do xem xét giải quyết thiếu khách quan, không kịp thời và không chịu
thừa nhận công tác giao đất không đúng theo quy định của Pháp luật nên đã dẫn
đến việc tranh chấp và khiếu kiện kéo dài gây thiệt hại về thời gian, kinh tế của
9
hai bên gia đình và cán bộ cấp xã, cấp huyện;
- Việc xử lý sai của Phòng Tài nguyên - Môi trường đã gây lên sự bất bình
trong quần chúng nhân dân, làm giảm uy tín chính quyền các cấp và sự nghiêm
minh của Pháp luật;
- Việc sử lý thiếu khách quan đã khiến cho ông Lò Văn P (một người mới
cai nghiện trở về với cộng đồng) có sự mặc cảm tự ti trước mọi người, nếu không
có bản lĩnh rất dễ quay lại con đường tái nghiện.
3. Xây dựng đánh giá phương án và lựa chọn phương án tối ưu
phải có tránh nhiệm cải tạo đất và sử dụng lợi trên đất, ông P có trách nhiệm
đến UBND xã TC, phòng Tài nguyên - Môi trường huyện TG làm thủ tục kê
khai đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Hộ gia đình ông Quàng Văn V tạm thời vẫn được sử dụng phần diện tích
đất ao 1000m
2
theo đơn đã đăng ký (thửa đầu tiên kể từ trên xuống theo dọc khe
nước). Phần đất ao trên nếu thừa so với 1000m
2
thì ông V phải có trách nhiệm với
UBND xã TC, Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện TG làm thủ tục kê khai
đăng ký lại diện tích sử dụng của khu đất hoặc làm thủ tục xin thuê phần diện tích
đất thừa đó.
a. Ưu điểm
- Cả hai gia đình vẫn có đất để sử dụng vào mục đích nông nghiệp;
- Đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý, bảo vệ lợi ích cho người lao động,
khuyến khích được người khai hoang phục hoá nhất là những gia đình có hoàn
cảnh khó khăn và thiếu đất sử dụng như gia đình ông Lò Văn P;
- Tránh tình trạng khiếu kiện kéo dài và cả những tranh chấp có thể xảy ra
sau này;
- Đảm bảo giữ vững được kỷ cương pháp luật, bảo vệ đúng quyền lợi chính
đáng hợp pháp của người lao động;
- Tạo được lòng tin của quần chúng nhân dân với sự nghiêm minh của
pháp luật, đảm bảo uy tín của chính quyền các cấp được tăng cường;
- Giải quyết theo đúng nguyện vọng của UBND xã TC theo biên bản hoà
giải ngày 14/06/2004.
11
b. Nhược điểm
- Ông Quàng Văn V đã không được phần nào trong khu vực tranh chấp;
- Giữa hai hộ gia đình sẽ có sự mất đoàn kết.
12
thời nó đáp ứng được mục tiêu đề ra, các mặt ưu điểm và nhược điểm đều có thể
chấp nhận được và phương án này có tính khả thi cao, được đông đảo quần chúng
nhân dân ủng hộ. Phương án 2 là phương án được lựa chọn để đưa vào áp dụng
sử lý tình huống nêu trên.
4. Kế hoạch tổ chức thực hiện
4.1. Xây dựng kế hoạch triển khai công việc
- Tham mưu ra quyết định thành lập đoàn Thanh tra xác minh giải quyết
đơn thư khiếu nại do Thanh tra huyện làm trưởng đoàn;
- Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định đoàn Thanh tra tiến
hành xác minh tại thực địa và phải báo cáo kết quả bằng văn bản với UBND
huyện;
- Tham mưu cho Chủ tịch UBND huyện ra quyết định về việc giải quyết
đơn thư khiếu nại giữa 2 hộ gia đình ông Lò Văn P và ông Quàng Văn V;
- Khi quyết định giải quyết có hiệu lực thì có trách nhiệm thi hành.
4.2. Thành lập đoàn Thanh tra
Do Chủ tịch UBND huyện TG ra quyết định thành lập.
4.3. Phân công trách nhiệm thực hiện công việc
Phân công trách nhiệm cho từng thành viên trong đoàn, thu thập tài liệu,
chứng cứ, xác minh nguồn thông tin.
4.4. Thẩm tra xác minh
- Xem xét lại tất cả các đơn thư của hai bên;
- Xem xét lại quá trình giải quyết, các biên bản hoà giải và việc xử lý của
UBND xã TC;
- Xem xét quá trình giải quyết của phòng Tài nguyên - Môi trường Huyện;
- Xác minh nguồn thông tin đáng tin cậy, kiểm tra lại công tác giao đất
nông nghiệp và việc quản lý, sử dụng đất đai của phòng Tài nguyên - Môi
trường;
13
- Làm tốt công tác tư tưởng, đồng thời động viên hoà giải 2 hộ gia đình;
2. Kết luận:
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay công tác quản lý
đất đai và đang phải chịu sức ép rất lớn từ nhiều phía. Khối lượng công việc đòi
hỏi người làm công tác quản lý phải thường xuyên nâng cao trình độ, nắm vững
chuyên môn nghiệp vụ, giải quyết công việc phải công tâm khách quan, đúng với
quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó Chính phủ và chính quyền địa phương cần tăng cường kiểm
tra, kiểm soát đánh giá tình hình quản lý đất đai để đưa ra những chính sách phù
hợp. ở tình huống trên cho thấy việc ông Quàng Văn V khiếu nại đến cơ quan
chức năng về trình tự thủ tục là đúng. Song nội dung ông khiếu nại lại không có
cơ sở pháp lý. Chính vì sự thiếu hiểu biết về pháp luật đất đai và sự thiếu tinh
thần trách nhiệm của các cán bộ địa chính đã dẫn tới vụ việc khiếu nại kéo dài.
Qua đó khẳng định sự kém hiểu biết pháp luật về đất đai của một số cán bộ
công chức cũng như tinh thần trách nhiệm không cao của cán bộ chuyên môn.
Hiện nay giá trị đất đai đang có xu hướng ngày càng tăng do tác động nhiều mặt.
Tình hình lấn chiếm, tranh chấp và số lượng đơn thư khiếu nại trong lĩnh vững
này ngày càng nhiều. Chứng tỏ công tác quản lý của các cấp chính quyền đối với
lĩnh vực đất đai còn nhiều bất cập. Có thể ở khu đô thị tranh chấp đất đai do
thuận lợi nhưng ở vùng sâu vùng xa tranh chấp chỉ do đơn thuần vì tự ái cá nhân
dân tộc mà thôi, chính vì vậy các cán bộ quản lý và những cơ quan tham mưu khi
tham gia giải quyết tranh chấp về đất đai phải hết sức mềm dẻo, linh hoạt, phải có
năng lực và phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức của cán bộ công chức nhân dân ở
từng địa phương. Kết hợp công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật sâu rộng
trong cán bộ và quần chúng nhân dân về lĩnh vực đất đai. Giải quyết tranh chấp
về đất đai là vấn đề khó khăn phức tạp.
Vì vậy việc lựa chọn phương án sử lý và thực hiện tốt phương án đã góp
phần vào việc thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, tính
15
nghiêm minh của Pháp luật nhằm hạn chế đến mức tấp nhất những vụ việc tranh
chấp khiếu kiện kéo dài gây thiệt hại cả về kinh tế và bức xúc trong xã hội.