Tiểu luận xử lý tình huống giải quyết tranh chấp đất đai giữa hai hộ có đất liền kề tại xã tảo dương văn, huyện ứng hòa, hà nội - Pdf 34

TRƯỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÊ HỒNG PHONG TP HÀ NỘI
LỚP BỒI DƯỠNG NGẠCH CHUYÊN VIÊN K3A-2015

TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP

TÊN ĐỀ TÀI: “Giải quyết tranh chấp đất đai giữa hai hộ có đất
liền kề tại xã Tảo Dương Văn, huyện Ứng Hòa, Hà Nội”

Họ và tên học viên: Trịnh Thị Như
Chức vụ: Chuyên viên
Đơn vị công tác: Phòng Tài nguyên và Môi trường
UBND huyện Ứng Hòa

Hà Nội, tháng 11 năm 2015


1. Mở đầu
Đất đai là một loại tài nguyên quý giá đối với con người và sự phát triển
của xã hội. Đặc biệt hơn, đối với mỗi con người thì quyền sở hữu đất là một tài
sản mang ý nghĩa to lớn. Có những người trong xã hội phải cố gắng phấn đấu
nhiều năm thậm chí gần như cả cuộc đời mình cũng chỉ để mong có một mảnh
đất an cư lạc nghiệp. Như vậy có thể thấy đất đai có một vai trò vô cùng quan
trọng trong đời sống. Giá trị của đất đai càng lớn kéo theo đó là một hệ quả tất
yếu của các hành vi vi phạm quy định về đất đai, tranh chấp đất đai ngày càng
phổ biến và mức độ phức tạp ngày càng tăng cao.
Nhà nước ta đã rất cố gắng trong việc giải quyết các tranh chấp đất đai
nhằm giữ ổn định tình hình chính trị, xã hội. Chính vì thế hệ thống các văn bản
quy phạm pháp luật về quản lý đất đai ngày càng được sử đổi, bổ sung và hoàn
thiện hơn. Chính sách, pháp luật về đất đai của Đảng và Nhà nước ta có nhiều
thay đổi tương ứng với từng giai đoạn phát triển của cách mạng. Tuy nhiên tình
hình quản lý và sử dụng đất đai hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, tồn tại dẫn đến

xây dựng các phương án giải quyết vụ việc và lựa chọn phương án giải quyết vụ
việc tối ưu và xây dựng chương trình thực hiện phương án đã chọn
Phần 3: Kết luận và kiến nghị
- Phạm vi nghiên cứu: Vụ việc tranh chấp xảy ra tại thôn Văn Ông, xã Tảo
Dương Văn, huyện Ứng Hòa, Hà Nội.
2. Nội dung
2.1 Mô tả tình huống
Vào năm 2014, ông Tưởng Duy Huyên nguyên quán tại thôn Văn Ông xã
Tảo Dương Văn huyện Ứng Hòa có xảy ra tranh chấp đất đai với hộ liền kề là
ông Nguyễn Tri Thái với nội dung như sau:
Ông Huyên được nhận thừa kế một mảnh đất từ cha mẹ (đã mất) có vị trí
tại xóm 3 thôn Văn Ông, xã Tảo Dương Văn, huyện Ứng Hòa. Mảnh đất được
2


bố mẹ ông Huyên sử dụng ổn định từ năm 1964. Từ năm 1982 ông Huyên và gia
đình chuyển đi nơi khác sinh sống và làm ăn nên mảnh đất được thừa kế bỏ
không.
Năm 1985 hộ ông Nguyễn Tri Thái (hộ liền kề nhà ông Huyên) tiến hành
xây dựng lại nhà ở trên mảnh đất của gia đình mình, do có nhu cầu sử dụng phần
diện tích đất phía trước nhà vào mục đích chăn nuôi nên ông Thái đã xin sử dụng
nhờ 1 phần diện tích đất công (là đường giao thông liên xã) phía trước mảnh đất
nhà ông Huyên để xây dựng tạm chuồng trại chăn nuôi. Tại thời điểm đó do
chưa có nhu cầu sử dụng đến nên ông Huyên đồng ý cho ông Thái sử dụng phần
diện tích phía trước thửa đất nhà ông Huyên. Ông Thái hứa sau này khi nhà ông
Huyên có nhu cầu sử dụng đến sẽ trả lại mặt bằng. Việc trao đổi giữa ông Huyên
và ông Thái chỉ được thực hiện bằng lời nói. Trong quá trình sử dụng nhờ phần
diện tích đất của ông Huyên, ông Thái đã tiến hành xây dựng công trình phụ,
giếng nước, và trụ cổng vào phần diện tích đất phía trước mảnh đất nhà ông
Huyên và còn lấn sang phần móng đất nhà ông Huyên.

- Tưởng Duy Huyên (Con bà Cả)
- Tưởng Duy Thịnh (Con bà Cả)
- Tưởng Duy Vịnh (Con bà Cả)
- Tưởng Thị Khuyên (Con bà Cả)
- Tưởng Thị Hồng (Con bà Cả)
- Tưởng Thị Bình (Con bà Hai)
- Tưởng Thị Thường (Con bà Hai)
Năm 2012, các anh em trong gia đình ông Huyên tiến hành chia đất cho ba
người con là Tưởng Duy Huyên, Tưởng Duy Thịnh và Tưởng Duy Vịnh (lúc đó
bố mẹ đã chết). Việc chia đất chỉ nói miệng chứ không thể hiện trên giấy tờ.
4


Thời gian xảy ra tranh chấp đất giữa gia đình ông Huyên và gia đình ông
Thái từ năm 1985, tại thời điểm đó nhà ông Thái xây dựng công trình phụ có
chiều dài 3m, chiều rộng 1,4m nằm trên đất công (đường giao thông liên xã)
trước thửa đất nhà ông Huyên, tường xây công trình phụ nhà ông Thái xây lấn
lên phần móng nhà ông Huyên khoảng 30cm. Lúc đó gia đình ông Huyên có
phản đối việc xây dựng thì ông Thái nói rằng xin làm nhờ để sử dụng tạm nếu
sau này gia đình ông Huyên có nhu cầu sử dụng thì sẽ trả lại mặt bằng. Năm
2012 gia đình ông Thái tiếp tục xây dựng trụ cổng (kích thước khoảng 60x60cm)
án ngữ trước mặt tiền thửa đất nhà ông Huyên. Năm 2014 gia đình ông Huyên
tiến hành xây nhà và có yêu cầu ông Thái tháo dỡ công trình thì gia đình ông
Thái không tháo dỡ và có nói rằng phần diện tích nhà ông Thái đang sử dụng đã
thực hiện nghĩa vụ tài chính cho xã và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Tuy nhiên em trai của ông Huyên là ông Tưởng Duy Vịnh khẳng định
mình không hề ký tên vào biên bản xác định ranh giới, mốc giới. Vì vậy nếu gia
đình nhà ông Thái được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Huyên
yêu cầu xác minh chữ ký trong biên bản xác định ranh giới, mốc giới kích thước
thửa đất của gia đình ông Nguyễn Tri Thái.

ranh giới, mốc giới thửa đất giữa gia đình ông Vịnh và gia đình ông Thái nhưng
gia đình ông Vịnh không nhất trí và không biết đơn vị đo đạc có đo kích thước
thửa đất của hai gia đình, ông Vịnh không ký vào biên bản ranh giới, mốc giới
kích thước thửa đất của gia đình ông Nguyễn Tri Thái lập ngày 11/3/2012, còn ai
đó giả mạo chữ ký của ông Vịnh thì ông Vịnh không biết.
Căn cứ hồ sơ địa chính, theo bản đồ đo đạc lưu trữ tại UBND xã Tảo
Dương Văn thể hiện:
+ Bản đồ đo đạc năm 1964 tu chỉnh năm 1977, thửa đất của gia đình ông
Tưởng Duy Huyên là thửa số 91, tờ bản đồ số 4, thửa đất của gia đình ông

6


Nguyễn Tri Thái là thửa số 92, tờ bản đồ số 4, không thể hiện diện tích, ranh giới
thửa đất, không có sổ mục kê. Phần diện tích đất gia đình ông Nguyễn Tri Thái
xây dựng trước cửa nhà ông Huyên là đất công (đường liên thôn) UBND xã quản
lý.
- Theo bản đồ đo đạc và sổ mục kê năm 1985:
+ Thửa đất số 445, tờ bản đồ số 9, diện tích 132,0m2 mang tên ông Nguyễn Tri Nội (
là bố đẻ ông Nguyễn Tri Thái).
+ Thửa đất số 446, tờ bản đồ số 9, diện tích 148,0m2 mang tên ông Tưởng Duy
Huyên.
+ Thửa đất số 447, tờ bản đồ số 9, diện tích 96,0m2 mang tên bà Nguyễn Thị Thìn
(là mẹ ông Tưởng Duy Huyên).
+Thửa đất số 448, tờ bản đồ số 9, diện tích 144,0m2 mang tên bà Nguyễn Thị Thìn
(là mẹ ông Tưởng Duy Huyên).
Phần diện tích đất gia đình ông Nguyễn Tri Thái trước cửa nhà ông Huyên
kích thước các cạnh là (phía bắc dài 2,0m, phía nam giáp đất đường liên thôn
chiều dài là 2,0m, phía đông giáp đường liên thôn chiều rộng là 1,0, phía tây giáp
thửa đất của bà Nguyễn Thị Thìn chiều rộng là 1,3m; diện tích là 2,3m2).

Vấn đề đặt ra hiện nay là cần phải sớm giải quyết dứt điểm vụ việc này và
đưa ra được hướng giải quyết tối ưu nhất nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết, đáp
ứng tình hiện quản lý đất đai hiện nay của địa phương. Xét thấy đây là một khiếu
nại nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của các bên liên quan, không
những thế có thể gây lan truyền thông tin lệch lạc trong nhân dân làm mất lòng
tin của nhân dân đối với chính quyền địa phương. Vì vậy vụ việc cần được xử lý
với những mục tiêu sau đây:
- Xử lý dứt điểm vụ khiếu nại kéo dài lên tất cả các cấp, các cơ quan có
thẩm quyền, đúng điểm dừng theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo và Luật
Đất đai hiện hành
8


- Việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Tưởng Duy Huyên phải đảm bảo
đúng pháp luật, đúng trình tự thủ tục, hợp tình, hợp lý, bảo vệ được quyền lợi và
lợi ích hợp pháp của ông Tưởng Duy Huyên là người sử dụng đất có khiếu nại
trực tiếp.
- Xử lý nghiêm minh đúng pháp luật đối với những hành vi vi phạm pháp
luật về Đất đai đai, khiếu nại, tố cáo của cá nhân, tổ chức, chính quyền có liên
quan đế vụ khiếu nại tranh chấp đất đai này nhằm tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai, bảo vệ uy tín, củng cố lòng
tin của công dân đối với chính quyền địa phương các cấp;
- Thông qua việc giải quyết dứt điểm vụ tranh chấp đất đai giữa ông
Tưởng Duy Huyên và ông Nguyễn Tri Thái tại thôn Văn Ông, huyện Ứng Hòa,
Hà Nội để góp phần tuyên truyền phổ biến giáo dục ý thức của người dân trong
việc tuân thủ các quy định của pháp luật về đất đai;
- Đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan đến vụ tranh
chấp;
- Căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai, các loại bản đồ
hiện có tại địa phương làm căn cứ để giải quyết vụ việc theo đúng trình tự thủ

không đầy đủ, không cập nhật, thiếu chặt trẽ, thủ tục hành chính không đảm bảo;
- Đối với UBND xã Tảo Dương Văn đội ngũ cán bộ chuyên trách công việc
quản lý đất đai qua các thời kỳ còn thể hiện nhiều yếu kém, hạn chế về mặt trình
độ chuyên môn, hiểu biết về quy định pháp luật. Mặt khác do đội ngũ cán bộ
quản lý chưa phát huy được hết vai trò trong việc quản lý, kiểm soát các hành vi
vi phạm về đất đai trên địa bàn xã nên không kịp thời ngăn chặn được hành vi vi
phạm ngay từ ban đầu;
- Trong quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND xã Tảo
Dương Văn và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ứng Hòa đã không quản
10


lýchặt chẽ, không thẩm định cẩn thận, không thực hiện đúng quy trình cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Tri Thái;
- Về phía ông Nguyễn Tri Thái đã lợi dụng lòng tin của hàng xóm cũng như
sự quản lý thiếu chặt chẽ của chính quyền địa phương xã Tảo Dương Văn để cố
ý thực hiện những hành vi vi phạm trong việc sử dụng đất đai.
Hậu quả:
- Vụ việc tranh chấp làm ảnh hưởng đến cuộc sống chung của những bên
liên quan đến vụ việc, đồng thời gây mất tình làng nghĩ xóm giữa hai giai đình
xảy ra tranh chấp, gây ảnh hưởng chung đến tình đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau
trong xóm, làng;
Gây ra thiệt hại về kinh tế: Vụ tranh chấp khiến cho gia đình ông Huyên
không thể hoàn thiện việc xây dựng nhà ở trên phần diện tích đất của gia đình
nhà mình do phần phía trước cổng nhà bị chắn bởi phần công trình phụ và trụ
cổng nhà ông Thái;
Vụ tranh chấp xảy ra cho thấy những bất cập, hạn chế, quản lý lỏng lẻo
của địa phương trong công tác quản lý đất đai gây mất lòng tin của nhân dân đối
với các cấp chính quyền.
2.4. Xây dựng, phân tích và lựa chọn phương án giải quyết tình huống

ông Thái với số tiền là 5 triệu đồng. Ông Tưởng Duy Huyên cam kết sẽ ký vào
biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất cho gia đình ông Thái khi UBND
xã Tảo Dương Văn chỉnh lý biến động.
Những lợi thế và thuận lợi của phương án: Là phương án tối ưu vừa hợp
tình vừa hợp lý giúp giải quyết được dứt điểm vụ tranh chấp đúng pháp luật, dựa
trên cơ sở phân tích làm rõ vấn đề của vụ việc theo đúng quy định của pháp luật,
vụ việc được giải quyết bằng sự kết hợp của các quy định pháp luật và đạo lý
tình làng nghĩa xóm giúp các bên liên quan trong vụ việc dễ dàng chấp thuận
theo phương án hòa giải.
12


Những hạn chế, bất cập của phương án: Để thực hiện được phương án này
đòi hỏi cán bộ địa chính xã và chuyên viên phòng Tài nguyên và Môi trường
phải có sự giám sát, theo dõi sát sao trong quá trình các bên thực hiện chấp hành
các nội dung của phương án nhằm đảo bảo quyền lợi của các bên liên quan, nếu
không đảm bảo được sự giám sát chặt chẽ có thể các bên liên quan không thực
hiện đúng với các nội dung của biên bản hòa giải thành.
Phương án 3: Chuyển vụ tranh chấp đến Toà án nhân dân giải quyết
Căn cứ Khoản 1 Điều 203, Luật Đất đai năm 2013 quy định về thẩm
quyền giải quyết tranh chấp đất đai: Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại
Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án
nhân dân giải quyết.
Vì vậy khi các bên liên quan trong vụ việc tranh chấp không đồng ý
vớimphương án hòa giải tại cơ sở thì Phòng Tài nguyên và Môi trường tiến hành
hoàn thiện hồ sơ chuyển vụ việc đến tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa để giải
quyết theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các hồ sơ pháp lý liên quan đến vụ việc do UBND xã Tảo
Dương Văn và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ứng Hòa cung cấp. Tòa

hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
2.5. Lập kế hoạch tổ chức phương án đã lựa chọn
STT

Nội dung thực

Chủ thể thực hiện

hiện

Thời gian

Các điều

thực hiện

kiện phục vụ
thực hiện

1

Làm việc với

Chuyên viên phòng

nguyên đơn là

TN&MT được giao

tiếp công dân,


TN&MT được giao

tiếp công dân,

Nguyễn Tri Thái

giải quyết vụ việc,

máy tính,

ông Nguyễn Tri Thái,

máy in

16/11/2014

Phòng họp

Làm việc với

Chuyên viên phòng

UBND xã Tảo

TN&MT được giao

tiếp công dân,

Dương Văn

máy tính,

là ông Tưởng

ông Tưởng Duy Vịnh

máy in

21/11/2014

Phòng họp

Duy Vịnh
5

Khảo sát thực

Chuyên viên phòng

địa đo đạc mốc

TN&MT được giao

giới 2 hộ tranh

giải quyết vụ việc,

chấp

cán bộ địa chính xã


Phòng họp


ông Tưởng Duy

máy in

Huyên, ông Nguyễn
Tri Thái,
7

Ra quyết định

Chủ tịch UBND

hòa giải thành

huyện Ứng Hòa

30/11/2014

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
Tranh chấp đất đai là một vấn đề hết sức phức tạp, vì trong xã hội hiện nay
việc sở hữu đất đi thay đổi qua từng giai đoạn và sự phân chia các loại đất đai
luôn luôn biến động do chuyển đổi mục đích sử dụng. Pháp luật xã hội chủ nghĩa
là phương tiện quan trọng để Nhà nước quản lý xã hội, quản lý nền kinh tế.
Nhưng nếu nhà nước chỉ ban hành pháp luật mà không đảm bảo được thực hiện
thì pháp luật không thể phát huy được vai trò của mình. Cho nên cùng với việc

các cấp, nhất là ở cấp cơ sở trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp đất đai. Củng cố
hội đồng giải quyết khiếu nại, tố cáo ở cấp huyện để đủ sức giải quyết dứt điểm
các tranh chấp đất đai.
Tiếp tục tăng cường các đoàn, tổ công tác của UBND cấp huyện song
song với việc trang bị kiến thức pháp luật cho các bộ ngành quản lý đất đai có
liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Kiến thức và sự hiểu biết pháp
luật của cán bộ chính là một trong những điều kiện đảm bảo cho người cán bộ
khi tiếp dân có khả năng tuyên truyền, giáo dục và vận động người dân chấp
hành pháp luật;
Kinh nghiệm cho thấy, việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai thời
gian qua hiệu quả nhất là hòa giải, không chỉ chú trọng hòa giải khi phát sinh
tranh chấp, mà khi giải quyết khiếu nại tiếp tục hòa giải cũng đạt được nhiều kết
quả và trong nhiều trường hợp tòa án xét xử hòa giải thành cũng đạt tỷ lệ cao.
17


Hòa giải thành càng nhiều càng tốt vì giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai
ngoài việc đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đảm bảo sự ổn định
còn phải tăng cường sự đoàn kết giữa Nhà nước với dân, giữa dân với dân và
trong thân tộc.
Các quy định hướng dẫn phải cụ thể về việc giải quyết từng loại tranh
chấp đất đai như tranh chấp liên quan đến ranh giới các thửa đất, tranh chấp liên
quan đến quyền thừa kế quyền sử dụng đất, tranh chấp liên quan đến các giao
dịch đất đai (chuyển nhượng, cho thuê…), tranh chấp liên quan đến bồi thường,
giải phóng mặt bằng…

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status