Tiểu luận tình huống xử lý việc tranh chấp đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất - Pdf 34

TRƢỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÊ HỒNG PHONG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

------*------

TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP
LỚP BỒI DƢỠNG KIẾN THỨC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
CHƢƠNG TRÌNH CHUYÊN VIÊN K6A

XỬ LÝ VIỆC TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
VÀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Họ và tên:
Đơn vị công tác:

Nguyễn Thị Thu Thủy
Văn phòng Thành ủy Hà Nội

Hà Nội, tháng 11/2015


MỤC LỤC
--------LỜI NÓI ĐẦU………………………………………………………………..…1
I. NỘI DUNG TÌNH HUỐNG……………………………………………….....3
1.1. Hoàn cảnh xuất hiện tình huống…………………………………......3
1.2. Mô tả tình huống…………………………………………………......3
II. PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG……………………………………………....7
2.1. Mục tiêu ………………….…………………………………………..7
2.2. Cơ sở lý luận………………………………………………………….8
2.3. Phân tích tình huống…………………………………………………..9
2.4. Nguyên nhân dẫn đến xảy ra tình huống………………………….….13

Đất đai là tài nguyên đặc biệt của mỗi quốc gia. Dưới góc độ giá trị lịch sử
- xã hội, đất đai là truyền thống, là cội nguồn của mỗi dân tộc, .. thì sự thiêng
liêng, quý giá khó mà đo định được. Với mỗi một con người, một hộ gia đình thì
đất đai là máu thịt, là cơ sở để sinh cơ, lập nghiệp. Trong tiến trình phát triển của
xã hội loài người thì đất đai và lao động của con người là yếu tố quan trọng nhất
thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Vì vậy, thực tế những năm trước đây cũng như hiện nay ở nước ta, đã từng
xẩy ra những vụ tranh chấp đất đai giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tổ
chức, giữa cộng đồng dân cư này với cộng đồng dân cư khác, hoặc giữa cộng
đồng dân cư với tổ chức, tạo nên những “điểm nóng” khiếu kiện đông người,
vượt cấp không những làm giảm hiệu quả và hiệu lực thi hành của pháp luật về
đất đai, làm phương hại tới lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của người
sử dụng đất hợp pháp, mà còn gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội,
làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước, tạo điều kiện để những thế lực thù địch lợi dụng thực hiện
âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước.
Giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai là một trong những chủ trương
lớn của Đảng và Nhà nước, là một trong những nội dung quan trọng trong công
tác lãnh đạo của cấp ủy đảng, quản lý Nhà nước của chính quyền các cấp về theo
quy định của pháp luật. Thực hiện tốt nội dung này không những góp phần nâng
cao chất lượng, hiệu quả công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý nhà nước về đất
đai, mà còn góp phần đáng kể trong việc giữ gìn ổn định sản xuất, đời sống, phát
triển kinh tế, hàn gắn tình đoàn kết trong nội bộ nhân dân, ngăn ngừa hành vi vi
phạm pháp luật nghiêm trọng có thể xảy ra và sự chống phá của các thế lực thù
địch, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội, cũng như củng cố niềm tin của
nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

1



nghiệm quý báu để có thể vận dụng tham mưu giải quyết các tình huống phát
sinh trong quá trình thực hiện chức năng của cơ quan, đơn vị công tác. Hy vọng
rằng, bài tiểu luận hoàn thành sẽ góp phần đáp ứng yêu cầu hoàn thiện những kiến

2


Tiểu luận tốt nghiệp

Lớp QLHCNN ngạch Chuyên viên

thức lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn về xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý
Nhà nước về đất đai, quản lý đô thị của những người quan tâm nghiên cứu.
Mặc dù có nhiều cố gắng, song, tiểu luận vẫn không tránh khỏi những thiếu
sót. Rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy, cô giáo, bạn bè đồng
nghiệp để tiểu luận được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!

3


Tiểu luận tốt nghiệp

Lớp QLHCNN ngạch Chuyên viên
I. NỘI DUNG TÌNH HUỐNG

1.1. Hoàn cảnh xuất hiện tình huống
Cụ Đào Văn Mạnh và Vũ Thị Tâm sinh được 2 con trai; người con cả là
ông Đào Văn Khắc, vợ ông Khắc là bà Đoàn Thị Như, cả hai ông bà đều làm
nông nghiệp và sinh sống tại quê là xã M; người con thứ hai là ông Đào Văn

Lớp QLHCNN ngạch Chuyên viên

Năm 1983, do cần có kinh phí để tu sửa trường tiểu học nên Ủy ban nhân
dân xã M đã “bán” cho gia đình ông Khắc toàn bộ thửa đất ao (có vị trí liền kề
thửa đất 320 m² mà gia đình ông Khắc đang ở) diện tích 400 m² với mục đích để
nuôi cá. Việc mua bán này có giấy thu tiền viết tay do cán bộ địa chính xã ký
nhận, đồng thời còn được ghi vào một quyển sổ thu của địa chính xã, có chữ ký
của người nộp tiền. Tuy nhiên, sau khi đã trả xong tiền cho xã M, gia đình ông
Khắc đã tự ý san lấp ao, gộp chung vào thửa đất 320 m² mà gia đình ông đang ở.
Đến năm 1985, thửa đất 400 m² lọt giữa khu dân cư, đồng thời nhân việc người
con trai cả của ông là anh Thọ cưới vợ và xin ra ở riêng, nên ông đã xây một
ngôi nhà cấp 4 kiên cố trên phần diện tích 400 m² nêu trên (nhưng để được
hướng tốt nên ngôi nhà được xây có một gian đốc lấn vào thửa đất 320 m² cũ) và
cho vợ chồng anh Thọ toàn bộ tài sản nhà đất này. Vợ chồng anh Thọ đã ở ổn
định, đóng thuế nhà đất đầy đủ từ đó đến nay. Còn vợ chồng ông Khắc và người
con trai út vẫn ở tại ngôi nhà cũ trên diện tích đất 320m² mà ông Khắc được chia
thừa kế năm xưa (người con gái của ông Khắc đã lấy chồng và ở nhà chồng) và
cũng trong thời gian này, xã M tổ chức thực hiện việc đăng ký đất đai, gia đình
ông làm đơn xin đăng ký toàn bộ diện tích 720m² đất (gồm cả phần được thừa
kế và phần đất mua thêm của xã M), nhưng Ủy ban nhân dân xã khi đó chỉ cho
đăng ký và vào sổ đăng ký ruộng đất cho gia đình ông Khắc phần diện tích
320m² có nguồn gốc được thừa kế, phần diện tích đất này có số hiệu là thửa số
124 thuộc Tờ bản đồ địa chính số 6.
Đầu năm 2005, gia đình ông Khắc có đơn đề nghị Ủy ban nhân dân huyện
N xem xét, cho được chia tách thửa đất 720m² làm hai: một phần có diện tích
400 m² để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Thọ, phần 320 m²
còn lại để cấp giấy chứng nhận cho con trai út, nhưng Ủy ban nhân dân huyện N
chỉ đồng ý tách thửa và cấp giấy chứng nhận cho cả hai trường hợp nêu trên nếu
gia đình ông Khắc nộp tiền chuyển mục đích sử dụng đất cho phần diện tích
400m², với lý do phần diện tích đất này có nguồn gốc là đất ao. Tuy nhiên, gia

dân xã M, huyện N giải quyết, thì anh Tiến tiến hành xây tường rào xung quanh
diện tích đất được ông Khắc cho và rao bán để lấy tiền thêm vốn kinh doanh. Do
là đất của tổ tiên để lại, nên bà Như và các con bà khuyên can anh Tiến không
nên bán, nhưng vợ chồng anh Tiến không nghe. Thấy vậy, các con bà Như đã tổ
chức phá bỏ bức tường nói trên. Sau đó, ngày 20 tháng 9 năm 2014, bà Như và
các con bà đã làm đơn gửi lên UBND xã M để đòi lại 60m² đất mà ông bà Khắc
đã cho anh Tiến với hai lý do: Đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
nên chưa được chia tách để bán; ông Chung đã được thừa kế 200 m² đất của các

6


Tiểu luận tốt nghiệp

Lớp QLHCNN ngạch Chuyên viên

cụ để lại, hơn nữa anh Tiến chỉ là con nuôi của ông Khắc và bà Như nên không
được thừa kế phần tài sản, đất đai của gia đình bà.
Sau khi nhận đơn của bà Như, Ủy ban nhân dân xã M đã chuyển hồ sơ lên
Ủy ban nhân dân huyện N đề nghị giải quyết. Ủy ban nhân dân huyện đã chuyển
hồ sơ trên sang Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện để nghiên cứu, đề xuất.
Sau khi xem xét toàn bộ hồ sơ, Phòng Tài nguyên và Môi trường đã báo cáo và
trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện ký Quyết định số 15/QĐ-UB ngày 10
tháng 10 năm 2014 về việc giải quyết đơn đòi lại đất của bà Như với nội dung
yêu cầu anh Tiến phải phá bỏ tường rào xây, trả lại 60 m² đất nói trên cho gia
đình bà Như.
Sau khi nhận được Quyết định của Chủ tịch UBND huyện Ủy ban nhân
dân huyện N, ngày 20 tháng 10 năm 2007, anh Tiến lại tiếp tục gửi đơn khiếu
nại lên phòng Tiếp dân của Ủy ban nhân dân huyện N khiếu nại Quyết định số
15/QĐ-UB, ngày 10 tháng 10 năm 2014. Ngày 28 tháng 10 năm 2014, Chủ tịch

kinh tế cho người có quyền sử dụng đất hợp pháp, mà còn để lại những hậu quả
không tốt, làm giảm lòng tin của nhân dân vào các chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước.
Giải quyết có hiệu quả các tranh chấp đất đai và thực hiện nghiêm túc luật
đất đai chính là nhằm tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa, ổn định chính trị,
giữ vững trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy khi giải quyết các tình huống cần phải
phân tích kỹ nội dung, diễn biến, nguyên nhân dẫn đến sự việc để tìm ra phương
án giải quyết tối ưu nhất.
2.3. Phân tích tình huống
Theo nội dung tình huống trên, việc khiếu nại về cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của gia đình bà Như và tranh chấp đất đai giữa bà Như với
anh Tiến cần phải phân tích cụ thể về trình tự thủ tục giải quyết nội dung đơn
khiếu nại của các cơ quan đối với bà Như (Uỷ ban nhân dân xã M, Uỷ ban nhân
dân huyện N, phòng Tài nguyên Môi trường huyện N và thẩm quyền giải quyết
của các cơ quan, việc áp dụng pháp luật để giải quyết sự việc này như thế nào?
Từ đó mới tìm ra các phương án giải quyết hiệu quả. Cụ thể như sau:
2.3.1. Trình tự, thủ tục giải quyết
Căn cứ hồ sơ vụ việc, cơ quan chức năng của Thành phố C cần tham mưu
với lãnh đạo chỉ đạo các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương liên quan
xem xét, giải quyết vụ việc theo đúng thẩm quyền.
a) Về tranh chấp đất đai
Ủy ban nhân dân xã M sau khi nhận đơn của bà Như đã không tổ chức
hòa giải tại cơ sở để gia đình bà Như với gia đình anh Tiến cùng nhau thương
8


Tiểu luận tốt nghiệp

Lớp QLHCNN ngạch Chuyên viên




Tiểu luận tốt nghiệp

Lớp QLHCNN ngạch Chuyên viên

“1. Việc nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy
định như sau:
Cơ quan tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục đăng ký đất đai,
tài sản khác gắn liền với đất; cấp, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận là Văn
phòng đăng ký đất đai. Nơi chưa thành lập Văn phòng đăng ký đất đai thì Văn
phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh tiếp nhận hồ sơ đối với tổ chức, cơ sở
tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư, tổ chức
nước ngoài, cá nhân nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Văn
phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện tiếp nhận hồ sơ đối với hộ gia đình,
cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu
nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư có nhu cầu nộp hồ sơ
tại Ủy ban nhân dân cấp xã thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tiếp nhận hồ
sơ và trả kết quả. Trường hợp đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với
đất; cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ
ngày nhận đủ hồ sơ, Ủy ban nhân dân cấp xã phải chuyển hồ sơ đến Văn phòng
đăng ký đất đai.
Vì vậy, nếu giả sử không có chuyện tranh chấp về đất đai xảy ra đối với
thửa đất số 124 thuộc Tờ bản đồ địa chính số 6 như đã nêu trên, thì việc chuyển
hồ sơ của Ủy ban nhân dân xã M và huyện N là không đúng với quy định của
pháp luật.
2.3.2. Thẩm quyền giải quyết
a) Về tranh chấp đất đai
Trước hết, để xác định đúng thẩm quyền giải quyết trường hợp khiếu nại

định tại khoản 2 Điều 23 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, ngày 15 tháng 5 năm
2014 của Chính phủ quy định về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai. Cụ thể như sau:
“Trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền đã được sử dụng ổn
định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, không có tranh chấp, phù hợp với quy
hoạch thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích đất đã
được giao theo quy định tại Khoản 1 Điều 20 của Nghị định này”.
Thửa đất anh Thọ đang sử dụng để ở đã đủ các điều kiện quy định tại
Khoản 2 Điều 23 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP nói trên, nên được cấp giấy
chứng nhận. Việc Ủy ban nhân dân huyện N yêu cầu phải nội tiền sử dụng đất

11


Tiểu luận tốt nghiệp

Lớp QLHCNN ngạch Chuyên viên

thì mới cho tách thửa để cấp giấy chứng nhận là không đúng quy định tại Khoản
2 Điều 23 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.
2.3.3. Về nội dung của các đơn khiếu nại
a) Nội dung đơn khiếu nại về việc đòi lại đất của bà Như gồm 2 lý do:
- Thứ nhất là, đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chưa
được chia tách để chuyển nhượng.
- Thứ hai là, ông Chung đã được thừa kế 200m² đất của các cụ để lại, hơn
nữa anh Tiến chỉ là con nuôi của ông bà Như nên không được thừa kế phần tài
sản, đất đai của gia đình bà.
Cả 2 lý do mà bà Như nêu trên đều không phù hợp với các quy định của

anh Tiến 60m² đất. Như vậy, theo quy định tại Điều 636 Bộ Luật dân sự năm
2005 thì anh Tiến nhận thừa kế không thuộc trường hợp thừa kế theo pháp luật
mà thuộc trường hợp thừa kế theo di chúc. Di sản được nhận tùy thuộc vào ý chí
của ông Khắc (người để di chúc) theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 648 của
Bộ Luật Dân sự năm 2005, người lập di chúc có quyền: Phân định phần di sản
cho từng người thừa kế. Vì vậy, việc bà Như cho rằng anh Tiến chỉ là con nuôi,
không được nhận thừa kế là không đúng với các quy định nêu trên.
b) Về nội dung khiếu nại quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân
huyện N mà anh Tiến gửi Ủy ban nhân dân huyện: Từ những phân tích nêu
trên, có thể thấy việc khiếu nại là có cơ sở pháp lý. Đồng thời, việc Ủy ban nhân
dân huyện N ban hành 02 Quyết định (Quyết định số 15/QĐ-UB, ngày 10 tháng
10 năm 2014 và Quyết định số 19/QĐ-UB, ngày 28 tháng 10 năm 2014) bác đơn
khiếu nại của anh Tiến, buộc anh Tiến phải trả lại đất cho bà Như là trái quy
định của pháp luật hiện hành.
Qua phân tích ở trên cho thấy: Vụ việc tranh chấp giữa bà Như với anh Tiến
lúc đầu không phải là vụ tranh chấp phức tạp, khó giải quyết, những căn cứ để hai
bên dựa vào đó đưa ra các yêu sách thực ra đã được pháp luật hiện hành quy định
rõ ràng, cụ thể, có thể tiến hành xem xét, kết luận ngay trong bước hòa giải tại cơ
sở. Song, do làm không tốt công tác hòa giải ngay từ cơ sở nên vụ việc ngày càng
phức tạp hơn, việc kiện tụng, khiếu nại đến nhiều cấp, nhiều nơi, tốn kém tiền của,
thời gian của Nhà nước và công dân.
2.4. Nguyên nhân dẫn đến xảy ra tình huống
2.4.1. Nguyên nhân chủ quan
Cán bộ, công chức là người có trách nhiệm thực hiện nghiêm chủ trương
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tế, do
nhiều nguyên nhân mà một phận không nhỏ cán bộ, công chức tại địa phương,
13


Tiểu luận tốt nghiệp

b) Do quỹ đất ở ngày càng khó khăn, quỹ đất nông nghiệp ngày càng bị
thu hẹp; giá đất ở, đất nông nghiệp ngày một gia tăng, làm cho tình trạng thiếu
đất ở, đất sản xuất nông nghiệp ngày càng trầm trọng. Người dân thiếu đất,
14


Tiểu luận tốt nghiệp

Lớp QLHCNN ngạch Chuyên viên

không còn đất sản xuất; không đủ việc làm, thất nghiệp ngày càng nhiều, tiêu
cực xã hội gia tăng.
c) Các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai trong những năm gần đây
vừa quá nhiều, chính sách lại luôn luôn thay đổi, số vụ tranh chấp đất đai ngày
càng nhiều và phức tạp, việc xử lý gặp khó khăn, để kéo dài và ngày càng phức
tạp hơn.
2.5. Hậu quả tình huống
Vụ tranh chấp giữa bà Như với anh Tiến lúc đầu không phải là vụ tranh
chấp phức tạp, khó giải quyết, những căn cứ để hai bên dựa vào đó đưa ra các
yêu sách thực ra đã được pháp luật hiện hành quy định rõ ràng, cụ thể, có thể
tiến hành xem xét, kết luận ngay trong bước hòa giải tại cơ sở. Tuy nhiên, do
việc giải quyết của Ủy ban nhân dân xã M, huyện N và cơ quan tham mưu là
phòng Tài nguyên Môi trường huyện không đúng thẩm quyền (trong việc giải
quyết tranh chấp đất đai) và việc áp dụng luật đất đai trong trường hợp cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình bà Như sai, dẫn đến việc khiếu
nại nhiều cấp, nhiều nơi, tốn kém tiền của, thời gian, làm cho tình hình phức tạp
hơn; đồng thời, làm cho mối quan hệ tình cảm giữa gia đình bà Như và anh Tiến
không được hàn gắn mà ngày càng căng thẳng hơn.
III. XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
3.1. Mục tiêu xử lý tình huống

nhân được giao trách nhiệm giải quyết vụ việc tranh chấp phải thực hiện đầy đủ,
kịp thời các yêu cầu sau:
- Nhanh chóng kiểm soát được tình huống, không để tình huống phát triển
phức tạp thêm; đồng thời nhận diện đầy đủ, kịp thời bản chất của vụ tranh chấp
để xác định đường hướng giải quyết.
- Phân loại vụ việc tranh chấp.
- Xác định nguồn gốc tranh chấp, các khoảng thời gian liên quan đến việc
áp dụng cơ chế, chính sách, pháp luật có liên quan để làm căn cứ giải quyết.
- Tập hợp đầy đủ hồ sơ, tài liệu, số liệu liên quan đến vụ việc tranh chấp.
3.3. Xây dựng phƣơng án giải quyết
Đối với trường hợp tranh chấp, khiếu nại nhiều vấn đề (khiếu nại về việc
đòi lại đất nhận thừa kế, khiếu nại về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) như đã nêu ở phần trên.
Tuy nhiên, để giải quyết khiếu nại của bà Như về cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thì trước hết phải giải quyết được tranh chấp đất đai giữa bà Như với anh
Tiến. Từ đó, có thể đưa ra một số phương án giải quyết sau để phân tích, lựa chọn:
16


Tiểu luận tốt nghiệp

Lớp QLHCNN ngạch Chuyên viên

3.3.1. Các phương án giải quyết
a) Phương án 1: Giả thuyết
Đội ngũ cán bộ, công chức tại địa phương nắm vững chính sách, luật pháp;
có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững, có trách nhiệm cao trong công việc.
Người dân tại địa phương am hiểu pháp luật, sống và làm việc theo pháp luật.
Đây là phương án tốt nhất trong mọi phương án. Muốn thực hiện được
theo phương án này, thì cấp ủy phải làm tốt công tác chính trị, tư tưởng cho cán

Nhược điểm của phương án này là trông chờ quá nhiều vào các tổ chức
quần chúng ở địa phương, trong khi phần lớn cán bộ trong các tổ chức này làm
việc theo chế độ kiêm nhiệm, thời gian và năng lực còn rất hạn chế, chỉ giải
quyết được những vụ tranh chấp đất đai đơn giản, khi gặp những vụ có tình tiết
phức tạp thì khó có thể giải quyết được.
c) Phương án 3: Các cơ quan chuyên môn căn cứ vào các quy định của
pháp luật đề xuất cho cấp ủy, ủy ban nhân dân cấp mình cách giải quyết
Phương án này chủ yếu dựa vào khung pháp luật để giải quyết. Do đó,
hiệu quả giải quyết sẽ rất cao, kết quả giải quyết được bảo đảm thi hành bởi Nhà
nước; thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật và quyền lực của nhà nước.
Nhược điểm của phương án là nếu trình độ của cán bộ, công chức bị hạn
chế hoặc nếu cán bộ, công chức tiêu cực trong quá trình giải quyết thì vụ việc sẽ
trở nên rất phức tạp, người dân không “tâm phục, khẩu phục”, sẽ tiếp tục khiếu
kiện vượt cấp, khiếu kiện đông người, gây mất ổn định chính trị và trật tự an
toàn xã hội. Hơn nữa, nếu chỉ căn cứ vào pháp luật để giải quyết thì có trường
hợp truyền thống đạo đức của dân tộc bị tổn thương nghiêm trọng.
Trong tình huống nêu trên, nếu giải quyết theo quy định của pháp luật thì
rõ ràng anh Tiến được quyền thừa kế diện tích 60m² đất theo di chúc của ông
Khắc để lại. Tuy nhiên, gia đình anh Tiến đã có “nhà cao, đất rộng” ở thị xã,
anh Tiến lại được gia đình bà Như nuôi dưỡng nhiều năm, nay chỉ để thêm tiền
kinh doanh mà “bán đất” thì hành vi đó chưa phù hợp với đạo lý dân tộc. Hơn
nữa, việc “bán đất” thừa kế của cha ông đối với người dân nông thôn như là một
hành vi vi phạm đạo đức truyền thống dân tộc. Vì vậy, việc Tòa án quyết định
bác đơn đòi lại đất của gia đình bà Như để anh Tiến rộng đường “bán đất”
không sai về pháp luật nhưng sẽ bị người đời lên án, đoàn kết trong gia đình bị
ảnh hưởng.
Xét quá trình giải quyết của các cấp chính quyền (ứng với phương án 3)
cho thấy:
- Đối với Ủy ban nhân dân thành phố C:


không tổ chức hòa giải tại cơ sở mà chuyển thẳng đơn lên Ủy ban nhân dân
huyện N để xem xét giải quyết là trái với quy định tại điều 202 của Luật Đất đai
2013 mà còn thể hiện ý thức trách nhiệm với người dân không cao, để cho vụ
việc ngày một phức tạp hơn.
d) Phương án 4: Chuyển hồ sơ qua Tòa án nhân dân để giải quyết
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai 2013 thì thẩm
quyền giải quyết tranh chấp đất đai đối với trường hợp có giấy chứng nhận
19


Tiểu luận tốt nghiệp

Lớp QLHCNN ngạch Chuyên viên

quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của
Luật Đất đai 2013 là Tòa án nhân dân. Việc xét xử tranh chấp đất đai thông qua
con đường Tòa án có ưu điểm là đảm bảo nguyên tắc mọi công dân đều bình
đẳng theo pháp luật, công bằng, dân chủ và văn minh.
Trong trường hợp tình huống tranh chấp nêu trên, sau khi nhận được đơn
và các hồ sơ pháp lý liên quan của người khởi kiện, căn cứ vào các quy định của
pháp luật Toà án nhân dân xem xét:
- Năng lực hành vi của các chủ thể mà cụ thể là bà Như;
- Tính hợp pháp của di chúc về thừa kế mà ông Khắc đã lập;
- Nguồn gốc đất để thừa kế.
- Diện tích đất để thừa kế theo di chúc so với phần diện tích của mỗi thành
viên trong hộ gia đình ông Khắc và so với hạn mức mà pháp luật quy định nếu có.
- Tính hợp pháp về quyền sử dụng đất đã để thừa kế.
Toà án nhân dân xem xét và thụ lý vụ án, đồng thời thông báo cho người
khởi kiện đến làm thủ tục nộp tạm ứng án phí.
3.3.2. Phân tích, lựa chọn phương án

đúng pháp luật, vì tài sản mà ông để thừa kế là tài sản do ông được thừa kế hợp
pháp và văn bản để thừa kế có chứng nhận của Ủy ban nhân dân xã sở tại.
- Về diện tích đất để thừa kế: Thửa đất mà vợ chồng ông Khắc được thừa
kế có diện tích 320m², khi ông Khắc mất thì diện tích đất ông được quyền để
thừa kế là 160m² (1/2 diện tích thửa đất). Vì vậy, với diện tích 60m² đất ông để
thừa kế cho anh Tiến là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật về thừa kế.
- Anh Tiến tuy không phải là con đẻ của vợ chồng ông Khắc mà là con
nuôi, nhưng việc ông bà Khắc nhận anh Tiến làm con nuôi đã được đăng ký tại
cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Như vậy, xét về pháp lý, anh Tiến là thành
viên của gia đình bà Như và cũng được chia một phần di sản thừa kế của ông
Khắc. Trong trường hợp này thì phần hưởng di sản thừa kế của anh Tiến đã
được định đoạt bởi di chúc mà ông Khắc để lại.
Căn cứ vào tình tiết vụ việc như đã nêu ở phần trên và các quy định của
pháp luật, Tòa án sẽ ra quyết định xử lý vụ kiện như sau:
- Bác đơn đòi lại đất của gia đình bà Như, đồng thời bảo vệ quyền được
hưởng 60m² đất ở của anh Tiến do ông Khắc để thừa kế.
- Gia đình bà Như phải xây lại bức tường cho anh Tiến, hoặc phải bồi
thường thiệt hại cho anh Tiến số tiền là 02 triệu đồng.
3.4.2. Về xử lý đơn khiếu nại cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
của gia đình bà Như

21


Tiểu luận tốt nghiệp

Lớp QLHCNN ngạch Chuyên viên

Như nội dung tình huống đã nêu ở phần trên, đây là vụ khiếu nại kép:
Khiếu nại về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình bà Như



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status