Tiểu luận tình huống ngạch chuyên viên xử lý tình huống khiếu nại liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông nguyễn văn z trú tại xã p, huyện q, tỉnh y - Pdf 34

MỤC LỤC
Phần thứ nhất ............................................................................................................. 1
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu .......................................................................................... 2
3. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 2
4. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................... 3
Phần thứ hai................................................................................................................ 4
NỘI DUNG ................................................................................................................. 4
1. Mô tả tình huống ................................................................................................ 4
2. Mục tiêu xử lý tình huống ................................................................................. 9
3. Phân tích nguyên nhân và hậu quả ................................................................ 10
3.1. Nguyên nhân ............................................................................................... 10
3.2. Hậu quả ....................................................................................................... 11
3.3. Cơ sở pháp lý .............................................................................................. 11
4. Xây dựng, phân tích và lựa chọn phương án ................................................ 12
4.1. Phương án thứ 1.......................................................................................... 12
4.2. Phương án thứ 2.......................................................................................... 13
4.3. Phương án thứ 3.......................................................................................... 13
4.4. Lựa chọn phương án ................................................................................... 15
5. Lập kế hoạch tổ chức thực hiện phương án đã lựa chọn ............................. 15
Phần thứ ba ............................................................................................................... 17
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................. 17
1. Quán triệt các nguyên tắc giải quyết khiếu nại đất đai ................................ 17
2. Hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu nại đất đai ............................................. 18
3. Đối với đội ngũ cán bộ làm công tác giải quyết khiếu nại ............................ 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 22


Phần thứ nhất
MỞ ĐẦU

khiếu nại đất đai và thực trạng công tác giải quyết khiếu nại đất đai là rất cần thiết
góp phần vào việc bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đất đai nói
chung và pháp luật về giải quyết khiếu nại đất đai nói riêng trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.
Từ những lý do trên đây, vận dụng những kiến thức đã tiếp thu được trong quá
trình học tập, nghiên cứu ở Lớp Bồi dưỡng chuyên viên K3A-2015 tại Trường Đào
tạo cán bộ Lê Hồng Phong cùng với những kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình
công tác, tôi đã lựa chọn tiểu luận tình huống với đề tài: “Xử lý tình huống khiếu
nại liên quan đến việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn
Văn Z trú tại xã P, huyện Q, tỉnh Y ” làm tiểu luận cuối khóa.
2.Mục tiêu nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá tình huống trong quản lý Nhà nước về
đất đai; trên cơ sở nghiên cứu lý luận cơ bản, phân tích thực tiễn tình hình và giải
quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh tìm ra
phương án tối ưu để xử lý tình huống. Đồng thời, phát hiện những hạn chế, bất cập
trong các quy định của pháp luật và công tác quản lý Nhà nước về đất đâi; để từ đó
kiến nghị các giải pháp, nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giải
quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai, đảm bảo ổn định được tình hình trật
tự xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.
3.Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng để giải quyết, xử lý tình huống được nêu trong
Tiểu luận bao gồm:
- Phương pháp phân tích, phương pháp bình luận, phương pháp diễn giải.
- Phương pháp so sánh, phương pháp đánh giá.
- Phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp, phương pháp lập luận logic.

2


4.Phạm vi nghiên cứu

hướng dẫn của cán bộ địa chính xã, anh Nguyễn Văn A đã làm đơn và được UBND
xã P giao 100m2 trên khu đất mà gia đình ông Z đang trồng hoa màu để làm đất ở;
đồng thời, UBND xã P thu của ông Z 6.000.000 đồng tiền kinh tế đất. UBND xã P
làm mương thoát nước với diện tích 25m2 và đền cho gia đình ông Z 3.000.000
đồng tiền hoa mùa. Diện tích còn lại khoảng 100m2 gia đình ông Z vẫn sử dụng để
trồng rau màu. Tháng 01/2007, UBND xã P đã làm thủ tục giao 100m2 đất còn lại
mà ông Z đang trồng rau màu cho bà Nguyễn Thị T làm nhà ở và thu của bà T
60.000.000 đồng. Khi bà T xây dựng nhà ở, gia đình ông Z phản đối. UBND xã P
mời ông Z lên làm việc và yêu cầu xuất trình giấy tờ về quyền sử dụng đất; Qua

4


xem xét, UBND xã P thông báo diện tích đất còn lại mà ông Z đang sử dụng trồng
rau màu là diện tích thừa, không phải đất sử dụng hợp pháp của gia đình ông,
UBND xã P có quyền giao đất có thu tiền cho người khác sử dụng.
Ngày 09/2/2007, ông Nguyễn Văn Z đã làm đơn khiếu nại gửi UBND xã P,
huyện Q, tỉnh Y với nội dung không nhất trí với cách giải quyết UBND xã P đối
với diện tích đất trồng hoa màu của gia đình ông. Ông Z cho rằng diện tích đất hợp
pháp của gia đình ông là 360m2, nay phải đo đủ cho gia đình số diện tích đó.
Trên cơ sở đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn Z trú tại xã P, huyện Q, tỉnh Y;
UBND xã P đã giao cho cán bộ phụ trách đô thị, địa chính, tư pháp và các thành
viên có liên quan xác minh sự việc. Ngày 25/03/2008, UBND xã P ban hành Thông
báo số 04; với nội dung: “Diện tích đất mà gia đình ông Nguyễn Văn Z trồng rau là
do gia đình tự ý khai phá, nằm ngoài diện tích đất mà UBND xã cấp, hiện đã chấm
dứt quyền sử dụng đất sau khi đã được đền bù hoa lợi, gia đình đã làm đơn nhất trí
nhận 3.000.000đ tại thời điểm năm 1996”. Ông Nguyễn Văn Z không thống nhất và
có đơn khiếu nại đến UBND huyện Q.
Ngày 02/5/2008, UBND huyện Q ban hành Quyết định số 229/QĐ-UB thành
lập Đoàn thanh tra giải quyết đơn khiếu nại ông Nguyễn Văn Z trú tại xã P, huyện

- Thửa 80, diện tích 89m2 do ông Nguyễn Văn M sử dụng, do nhận chuyển
nhượng của ông Nguyễn Văn Z.
- Thửa 92, diện tích 112m2 do ông Nguyễn Văn Z và con trai là ông Nguyễn
Văn C sử dụng, hiện nay đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên
ông Nguyễn Văn Z.
Tổng diện tích 3 thửa đất là 297m2.
Đối chiếu với hồ sơ mà ông Nguyễn Văn Z cung cấp gồm có:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Văn Z với tổng
diện tích 360m2 gồm 130m2 diện tích đất ở và 230m2 diện tích đất giao cho gia đình
sử dụng sản xuất tại tại xã P, huyện Q, tỉnh Y do ông Nguyễn Văn H ký nhưng
không đề thời gian.

6


Như vậy đối chiếu với hồ sơ địa chính hiện đang lưu giữ tại UBND xã P và
các giấy tờ do ông Nguyễn Văn Z cung cấp, thì thửa đất ký hiệu 200a, diện tích
360m2, bản đồ địa chính năm 1991 của gia đình ông Nguyễn Văn Z sử dụng đã có
biến động về diện tích. Nguyên nhân là do đường liên thôn đã được mở rộng và
nâng cấp đã cắt ngang qua một phần diện tích của thửa đất này, đồng thời do có
một phần diện tích đã được chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn M, do đó diện
tích đất của gia đình ông Z còn 205m2 (giảm 115m2).
Theo báo cáo của UBND xã P, việc UBND xã quyết định mở rộng và nâng
cấp con đường liên thôn được thực hiện với chủ trương “Nhà nước và nhân dân
cùng làm” không đền bù việc giải phóng mặt bằng, chỉ thực hiện đền bù hoa màu
(nếu có). Theo hồ sơ làm đường còn lưu lại thì diện tích đất vườn của ông Z được
thu hồi (không đền bù) đề làm đường là 60m2 .Theo biên bản họp tổ dân phố, các
hộ gia đình của ông Z đã ký hợp đồng ký giao đất không phải đền bù. Vậy diện tích
đất ở và đất vườn của gia đình ông A chỉ còn 297m2 là chính xác (kể cả số diện tích
ông Z đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn M).

đình có liên quan làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng
quy định của pháp luật và nghiêm túc kiểm điểm các cá nhân liên quan đến việc
bán đất cho hai hộ Nguyễn Văn A và Nguyễn Thị T. Diện tích của hai hộ sẽ được
xử lý theo quy định của Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thửa đất ký hiệu 200a, diện tích là 360m2, bản đồ địa chính năm 1991 có biến
động về diện tích đất, nguyên nhân do đường liên thôn được mở rộng và nâng cấp
đã cắt ngang một phần của thửa đất nào (60m2), đồng thời do có một phần đã được
chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn M. Việc UBND xã P quyết định mở rộng và
nâng cấp con đường liên thôn được thực hiện với chủ trương “Nhà nước và nhân
dân cùng làm” đã được nhân dân trong khối bàn bạc dân chủ, thống nhất mở đường
không nhận tiền đền bù, nếu diện tích làm đường không năm trong khu vực công
trình nhà ở đã xây dựng của dân, chỉ đền bù hoa màu (nếu có); tại thời điểm UBND
xã P chủ trương thi công đường liên thôn, gia đình ông Nguyễn Văn Z đã ký biên

8


bản thống nhất không đền bù, nên trả lời cho gia đình ông Z biết là sự việc đã được
giải quyết xong trong năm 1992 (thời điểm làm đường liên thôn)”.
Sau khi nhận được quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND huyện Q, ông
Nguyễn Văn Z vẫn không nhất trí và tiếp tục có đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND
tỉnh Y.
2. Mục tiêu xử lý tình huống
Vấn đề đặt ra hiện nay là cần phải sớm giải quyết dứt điểm vụ việc này và làm
bắt cách nào để nâng cao hiệu quả giải quyết, đáp ứng tình hình hiện nay. Xét thấy
đây là một vụ khiếu kiện kéo dài, phức tạp đụng chạm đến vấn đề đất đai là vấn đề
nhạy cảm, bức xúc, cấp bách cần giải quyết ngay với mục tiêu:
- Xử lý dứt điểm vụ khiếu nại kéo dài lên tất cả các cấp, các cơ quan có thẩm
quyền, đúng điểm dừng theo quy định của Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và Luật Đất
đai hiện hành (quyết định giải quyết cuối cùng).

- Giá trị quyền sử dụng đất ngày càng tăng cao; do vậy đã tác động đến việc
khiếu kiện đòi quyền lợi có phần thêm gay gắt.
b. Nguyễn nhân chủ quan:
- Trình độ quản lý hành chính Nhà nước nói chung về đất đai của các cấp, các
ngành từ huyện đến cơ sở còn bất cập.Công tác quản lý đất đai trong một thời gian
dài còn buông lỏng, chưa được chú trọng, hồ sơ địa chính của thửa đất (là căn cứ
quan trọng để giải quyết vụ việc) không đầy đủ, không cập nhật,thiếu chặt chẽ; thủ
tục hành chính không đảm bảo.
- Đội ngũ cán bộ làm công tác chuyên môn về đất đai qua các thời kỳ của
UBND xã P còn non yếu về chuyên môn, kém hiểu biết pháp luật về đất đai, thiếu
tinh thần trách nhiệm, chưa tôn trọng các quy định về pháp luật đất đai, cho nên đã
tham mưu cho UBND xã có hành vi, quyết định hành chính giao đất, thu đất, thu
tiền sử dụng đất trái với quy định của pháp luật về đất đai, về thẩm quyền giao đất,
thu hồi đất, đền bù thiệt hại về đất dẫn đến công dân khiếu nại kéo dài, nhiều cấp,
chậm giải quyết dứt điểm. Mặt khác chưa kịp phát hiện và ngăn chặn những việc
làm sai trái của công dân dẫn đến sự việc phức tạp và có khả năng gây hậu quả
10


không tốt về an ninh, trật tự. Cụ thể: khi ông Z san lấp ao hoang để sản xuất với ý
đồ để chiếm riêng, cán bộ địa chính thị trấn không báo cho ông Z biết đó là việc
làm sai luật và có biện pháp ngăn chặn kịp thời, làm cho ông Z ngộ nhận đó là đất
riêng của mình nên đã khiếu kiện sai và kéo dài.
- Về phía ông Nguyễn Văn Z chưa có ý thức tự giác tìm hiểu để nhận thức
đúng đắn và đầy đủ các quy định của pháp luật đất đi và pháp luật khiếu nại tố cái
dẫn đến những thiếu sót, sai phạm kéo dài ngày càng phức tạp trong việc thực hiện
quyền và nghĩa vụ sử dụng đất làm cho chính quyền các cấp, các cơ quan có thẩm
quyền phải đổ nhiều công sức thời gian, kinh phí vào việc giải quyết việc khiếu nại
tưởng chừng như rất đơn giản.
3.2. Hậu quả

giục, lôi kéo, tổ chức đông người đi khiếu kiện.
Để vụ việc khiếu nại cụ thể của ông Nguyễn Văn Z được giải quyết dứt điểm
thấu đáo, phù hợp với các quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên, tác giả cân nhân nhắc giữa 03 phương án sau:
4. 1. Phương án thứ 1
- UBND xã P giải quyết đền bù cho gia đình ôngA
- UBN tỉnh Y cho phép UBND xã P và UBND huyện Q làm thủ tục hợp thức
hoá, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho các hộ đã được UBND xã P
giao đất và đã thu tiền sử dụng đất.
Phương án này có ưu và nhược điểm sau:
*Ưu điểm:
- Khiếu nại sẽ kết thúc, giải quyết được vấn đề ở khía cạnh “tình”, công dân
(cả ông Z và bà T đều vui vẻ).
- Nhà nước thể hiện sự linh động trong điều hành, quản lý (Do diện tích lô đất
nhỏ, giá đền bù là nông nghiệp không cao).
* Nhược điểm:
- Khía cạnh “lý” không đảm bảo, không tuân thủ nghiêm các quy định của
pháp luật đất đai, ảnh hưởng đến pháp chế XHCN.
12


- Tạo tiền lệ cho những hộ khác cũng trong diện có đất bị thu hồi để làm
đường liên thôn khiếu nại đòi đền bù.
4.2. Phương án thứ 2
Đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh Y căn cứ Luật Khiếu nại năm 2011 quy định
thời hạn khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính để có văn bản bác
đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn Z vì việc thu hồi đất xảy ra năm 1992 đã hết
thời hiệu giải quyết.
Phương án này có ưu và nhược điểm sau:
*Ưu điểm:

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị T
theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền đã được quy định trong Luật đất đai hiện
hành. UBND huyện Q chỉ đạo UBND xã P nghiêm túc kiểm điểm trách nhiệm và
có hình thức xử lý đối các cá nhân có liên quan đã có hành vi vi phạm trong việc
giao đất sai thẩm quyền cho hai hộ ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị T đồng
thời rút kinh nghiệm trong việc quản lý đất đai trên địa bàn.
Phương án này có ưu và nhược điểm sau:
*Ưu điểm:
Nếu thực hiện phương án này là phương án tối ưu vừa giải quyết dứt điểm,
đúng pháp luật, đảm bảo tính nghiêm minh trước pháp luật vừa có tình, có lý đảm
bảo quyền lợi và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của cá nhân công dân có liên quan
trong việc khiếu nại đền bù đất, đảm bảo tính toàn diện, kịp thời làm rõ trách nhiệm
các bên trong vụ việc, xây dựng lòng tin của người dân đối với chính quyền.
*Nhược điểm:
Thực hiện phương án này đòi hỏi chính quyền địa phương phải kết hợp nhuần
nhuyễn cả tính pháp lý và cả đạo lý; vừa mang tính mệnh lệnh đơn phương của nhà
nước, đồng thời cũng phải làm tốt công tác tư tưởng để cho các bên đương sự tự
nguyện chấp hành một cách nghiêm túc.

14


4.4. Lựa chọn phương án
Qua phân tích ba phương án, ta thấy phương án thứ ba là phương án có tính
khả thi nhất, có nhiều ưu điểm nhất, giải quyết tốt mục tiếu đã đặt ra, không những
sẽ kết hợp được hài hoà giữa pháp luật và đạo lý, mà còn phù hợp với thực tế cuộc
sống của nhân dân ở địa phương, giữ vững lòng tin của quần chúng nhân dân trong
việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
5. Lập kế hoạch tổ chức thực hiện phương án đã lựa chọn
Sau khi đã chọn được phương án giải quyết hợp lý, UBND tỉnh Y cần giao

3. Tổ chức họp công bố dự thảo kết luận thanh tra sau khi đã làm việc cụ thể
với các cá nhân liên quan và chính quyền địa phương để thống nhất trước khi ký
kết luận chính thức.
4. Đoàn thanh tra hoàn tất kết luận thanh tra ngay sau khi họp thống nhất dự
thảo để ký công bố chính thức.
5. Giao cho chính quyền và các Ban, Ngành đoàn thể ở địa phương giải thích
cho cán bộ và nhân dân địa phương thông hiểu các nội dung giải quyết của cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền. Làm tốt công tác tư tưởng cho cán bộ và nhân dân, các
cá nhân có liên quan trong việc nghiêm chỉnh chấp hành quyết định giải quyết của
nhà nước theo đúng pháp luật.
6. Giao cho các cá nhân liên quan, chính quyền thị trấn B và huyện C hoàn tất
các thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các cá nhân có liên quan
theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.

16


Phần thứ ba
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Từ vụ việc khiếu nại đền bù về đất đai của ông Nguyễn Văn Z và trên cơ sở
nghiên cứu lý luận cơ bản, phân tích thực tiễn tình hình và giải quyết khiếu nại, tố
cáo liên quan đến lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh. Để góp phần nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đặc biệt là các khiếu nại, tố
cáo trong lĩnh vực đất đai, đảm bảo ổn định được tình hình trật tự xã hội, góp phần
thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tôi xin đưa ra một số kiến
nghị như sau:
1. Quán triệt các nguyên tắc giải quyết khiếu nại đất đai
Khi giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai phải đảm bảo các
nguyên tắc sau:
- Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý; Nhà nước

quyền lực nhà nước ở địa phương, thực hiện chức năng giám sát việc giải quyết
tranh chấp, khiếu nại của Uỷ ban nhân dân, nếu Thường trực Hội đồng nhân dân
chủ trì, có sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể, ban ngành hữu quan thì
hiệu quả hoà giải sẽ được nâng cao.
Do đó, phải thể chế hoá đúng đường lối giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố
cáo có liên quan đến đất đai mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 khoá IX
đã nêu: "Việc giải quyết tranh chấp, trước hết cần tiến hành hoà giải, nếu hoà giải
không thành thì đưa ra Toà án giải quyết. Nhà nước quy định thời hiệu và thời hạn
giải quyết các khiếu nại không để kéo dài, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương là cấp giải quyết cuối cùng các khiếu nại về đất đai trong phạm
vi thẩm quyền của các cấp ở địa phương; trường hợp các đương sự không nhất trí
với quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì đưa
ra Toà án giải quyết. Giải quyết tố cáo về đất đai thì theo pháp luật tố cáo". Cơ chế
trên đảm bảo được tính khách quan, người giải quyết độc lập với người ra quyết
định hành chính, tránh được tình trạng "vừa đá bóng vừa thổi còi", mở rộng tính
18


dân chủ trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân trước pháp luật.
Người khiếu nại chịu trách nhiệm trước pháp luật khi thực hiện quyền khiếu nại;
đồng thời, buộc cơ quan hành chính và cá nhân có thẩm quyền phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật về quyết định của chính mình, nâng cao chất lượng quyết
định hành chính được ban hành.
- Đổi mới cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai là phù
hợp với xu hướng cải cách hành chính, cải cách tư pháp trong tiến trình hội nhập
của nước ta hiện nay; góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại hành chính.
- Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đất đai đầy đủ, kịp thời và đồng
bộ; Rà soát những quy định chưa phù hợp hoặc những vấn đề mới phát sinh, để kịp
thời sửa đổi, bổ sung, tháo gỡ các vướng mắc, chú ý các quy định và ngôn ngữ của
luật, văn bản dưới luật phải được thể hiện hoặc giải thích đầy đủ, rõ ràng, minh

+ Cần có chính sách tài chính phù hợp với hoạt động đặc thù của ngành thanh
tra để họ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
- Đối với UBND cấp huyện: Phải quan tâm hơn nữa đến tổ chức thanh tra về
nhiệm vụ, biên chế, kinh phí hoạt động, nhất là trong việc tuyển dụng cán bộ có
đầy đủ kiến thức, năng lực, phẩm chất để tạo nguồn kế cận cho cán bộ chủ chốt sau
này.
- Đối với UBND cấp xã: Cần bố trí cán bộ chuyên trách có phẩm chất, trình độ
và năng lực làm tham mưu cho lãnh đạo cấp uỷ, chính quyền cấp xã trong công tác
tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân. Trường hợp cần thiết có thể
trưng dụng cán bộ hưu trí, có kiến thức pháp lý, có kinh nghiệm để làm việc này.
Khiếu nại là một kênh thông tin khách quan phản ánh việc thực thi quyền lực
của bộ máy nhà nước, phản ánh tình hình thực hiện công vụ của cán bộ, công chức;
đồng thời là cơ sở pháp lý cần thiết để công dân thực hiện tốt quyền làm chủ và
giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, góp phần làm trong sạch bộ máy nhà
nước đồng thời cũng qua đó phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa. Do đó, công tác giải quyết khiếu nại không những có vai trò quan trọng

20


trong quản lý nhà nước, mà còn thể hiện mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và
nhân dân.
Khiếu nại đất đai đang là một thách thức đối với các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền. Việc giải quyết dứt điểm, có hiệu quả vấn đề này có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc duy trì sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trong cả nước và
ở từng địa phương.
Trong khuôn khổ tiểu luận này, thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng
pháp luật cũng như thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại đất đai, tác giả đề xuất
những kiến nghị, giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về giải quyết khiếu nại
đất đai; đóng góp một phần trong nỗ lực tìm kiếm, xác lập cơ chế thích hợp hướng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status