TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA TÀI NGUYÊN & MÔI TRƯỜNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Tên chuyên đề:
“Tìm hiểu thực trạng công tác đăng ký và cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính tại huyện Hữu Lũng,
tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn từ 2005 – 2011”
Người thực hiện : NGUYỄN THỊ THANH TÂM
Lớp : Quản lý đất đai C
Khóa : 53
Mã SV : 532730
Ngành : Quản lý đất đai
Giáo viên hướng dẫn : ThS. NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
Địa điểm thực tập : Phòng Tài nguyên & Môi trường
huyện Hữu Lũng - tỉnh Lạng Sơn
Thời gian thực tập : Từ 12/01/2012 đến 30/4/2012
Hà Nội, 2012
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình được học tập và rèn luyện tại trường Đại học
Nông nghiệp Hà Nội, dưới sự dạy dỗ và giúp đỡ hết sức nhiệt tình của các
thầy cô giáo cũng như Khoa Tài nguyên và Môi trường và Ban giám hiệu nhà
trường, tôi không chỉ được tiếp thu các kiến thức mà còn được trưởng thành
hơn dưới sự rèn luyện của môi trường đại học. Đó là quãng thời gian quý giá
nhất trong đời. Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn sự
giúp đỡ quý báu và tận tình đó.
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân,
tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Tài Nguyên và
Môi trường, đặc biệt là sự hướng dẫn hết sức nhiệt tình, chu đáo của cô giáo
Nguyễn Thị Thu Hương cùng với sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình của các cán bộ,
chuyên viên phòng Tài nguyên và Môi trường, VPĐK quyền sử dụng đất
2.2. Khái quát về đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất, lập hồ sơ địa
chính 18
2.2.1. Đăng ký đất đai 18
2.2.2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 20
2.2.3. Hồ sơ địa chính 23
2.3. Công tác đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính của
cả nước 27
ii
2.4. Công tác đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính của
tỉnh Lạng Sơn 28
Phần 3 30
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1. Nội dung nghiên cứu: 30
3.1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 30
3.1.1.1 Cơ sở thực tiễn, căn cứ pháp lý của công tác đăng ký đất đai, cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản
khác gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính 30
3.1.1.2. Khái quát về đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất, lập hồ sơ
địa chính 30
3.1.1.3. Công tác đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất, lập hồ sơ địa
chính của cả nước 30
3.1.1.4. Công tác đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất, lập hồ sơ địa
chính của tỉnh Lạng Sơn 30
3.1.2. Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của huyện Hữu Lũng 30
4.3.1. Quy trình, quy phạm thực hiện công tác đăng ký và cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác
gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính trên địa bàn huyện Hữu Lũng 43
4.3.2. Kết quả thực hiện công tác đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất cho
iv
hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư tại huyện Hữu Lũng tính đến hết
tháng 12/2011 47
4.4. Kết quả Đăng ký biến động đất đai của huyện Hữu Lũng giai đoạn
2006-2011 58
4.5. Kết quả lập hồ sơ địa chính của huyện Hữu Lũng 59
4.6. Đánh giá công tác đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất, lập hồ sơ địa
chính 64
4.7. Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đăng ký và cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất, lập hồ sơ địa chính 66
4.7.1. Giải pháp về xây dựng đội ngũ cán bộ 66
4.7.2. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đai 67
4.7.3. Hoàn thiện chính sách pháp luật về đất đai 68
4.7.4. Nâng cao ý thức pháp luật về đất đai cho cán bộ và nhân dân 69
PHẦN 5 70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
5.1. Kết luận 70
5.2. Kiến nghị 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Hiện trạng sử dụng đất năm 2011 huyện Hữu Lũng 40
Bảng 2: Biến động đất đai năm 2011 so với năm 2005 42
Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá đối với mỗi
quốc gia, là điều kiện đầu tiên và nền tảng tự nhiên của bất kỳ một quá trình
sản xuất nào đặc biệt là sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên đất đai cố định,
chúng ta không thể di chuyển đất đai theo ý muốn, chính vị trí cố định này đã
quyết định tính chất vật lý, hóa học, sinh thái của đất đai. Tính cố định của đất
đai yêu cầu con người sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và phát huy hết tiềm
năng của đất đai. Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước đã kéo theo không ít các vấn đề về đất đai nảy sinh: tranh chấp,
lấn chiếm, sử dụng sai mục đích, cấp đất vượt thẩm quyền ngày càng tăng và
nghiêm trọng hơn. Đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách, giải pháp đủ mạnh
để quản lý và sử dụng đất hợp lý và hiệu quả.
Công tác quản lý nhà nước về đất đai đã và đang được Đảng và Nhà
nước quan tâm sâu sắc. Nó được biểu hiện cụ thể qua hệ thống pháp luật về
đất đai.
Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 đã nêu rõ: “ Đất đai
thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý …”
Các luật đất đai năm 1987, 1993, luật sửa đổi bổ sung năm 1998, 2001
và luật đất đai 2003 cùng các văn bản pháp luật có liên quan đã từng bước
hoàn thiện, quy định ngày càng chặt chẽ hơn về chế độ sử dụng và quản lý đất
đai.
Luật đất đai năm 2003 đã quy định 13 nội dung quản lý nhà nước về
đất đai trong đó có công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và lập hồ sơ địa
1
chính. Đây là một thủ tục hành chính nhằm thiết lập một hệ thống hồ sơ địa
chính đầy đủ, chặt chẽ về mặt pháp lý giữa nhà nước và đối tượng sử dụng
đất, là cơ sở để nhà nước quản lý và nắm chặt toàn bộ đất đai theo pháp luật,
quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất và lập hồ sơ địa chính
góp phần hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện.
1.3. Yêu cầu
- Nắm vững những quy định của pháp luật đất đai hiện hành và các văn
bản pháp luật có liên quan.
- Số liệu, tài liệu điều tra phải trung thực, chính xác, khách quan, kịp
thời.
- Những giải pháp có tính khả thi và phù hợp với những điều kiện thực tế
của địa phương.
- Đối chiếu so sánh được giữa lý thuyết đã học và thực tế, vận dụng để
củng cố nâng cao kiến thức.
3
Phần 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở thực tiễn, căn cứ pháp lý của công tác đăng ký đất đai, cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài
sản khác gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính.
2.1.1. Lịch sử đăng ký đất đai ở Việt Nam qua các thời kỳ
* Giai đoạn trước năm 1980:
Ở Việt Nam công tác đạc điền và quản lý điền địa được bắt đầu từ thế
kỷ thứ VI. Dưới thời kỳ phong kiến, triều đình nhận biết vai trò của đất đai
như là yếu tố căn bản để tạo nên sự giàu có, đã thực hiện lập các loại sổ để
biết chính xác khoảng trời đất thuộc quyền cai trị, quản lý của mình.Thời Gia
Long đã lập sổ địa bạ cho từng xã phân biệt rõ đất công điền, tư điền của mỗi
xã. Sổ thể hiện rõ thửa đất của ai, diện tích, tứ cận, đẳng, hạng để tính thuế.
Sổ địa bạ được lập thành 3 bản: bản Giáp nộp Bộ hộ, bản Bính nộp Dinh Bố
Chánh, bản Đinh để lại xã. Triều đình quy định hàng năm tiến hành tiểu tu và
trong vòng 5 năm phải đại tu sổ một lần. Thời kỳ Gia Long, đã tiến hành lập
xong 10444 sổ Địa bạ cho các làng xã từ Mục Nam tới mũi Cà Mau. Tuy
nhiên nhược điểm của sổ địa bạ dưới thời kỳ này là đơn vị đo diện tích thửa
Tại Bắc Kỳ Nhà cầm quyền có chủ trương đo đạc địa chính, xác lập sổ
địa bộ để thực hiện quản thủ địa chính. Do đặc thù đất đai ở Bắc Bộ manh
mún nên bộ máy chính quyền lúc đó đã cho triển khai song song cùng một lúc
hai hình thức: đo đạc chính xác và đo đạc lập lược đồ đơn giản 1/1000, lập sổ
sách tạm thời để quản lý. Hồ sơ đo lược đồ đơn giản gồm có: bản lược đồ giải
thửa, sổ địa chính, lập theo thứ tự thửa, ghi diện tích loại đất, tên chủ, sổ điền
chủ, mục lục các thửa và mục lục điền chủ, sổ khai báo và văn tự.
5
Ở Miền nam Việt Nam trong giai đoạn từ 1945-1975 vẫn tiếp tục áp
dụng Tân chế độ điền thổ theo Sắc lệnh 1925 dưới thời kỳ Pháp thuộc. Hệ
thống hồ sơ địa chính thiết lập theo chế độ này gồm: bản đồ giải thửa, sổ điền
thổ (lập theo lô đất) ghi rõ diện tích, nơi tọa lạc, giáp ranh biến động tăng
giảm, tên chủ sở hữu, sổ mục lục lập theo tên chủ, ghi số hiệu tất cả các thửa
đất của mỗi chủ. Toàn bộ tài liệu trên lập thành hai bộ lưu tại Ty điền địa và
xã sở tại. Chủ sở hữu mỗi lô đất được cấp một bằng khoán điền thổ. Ngoài ra,
tại Miền nam còn áp dụng chế độ quản thủ điền địa. Theo chế độ này phương
pháp đo đạc rất đơn giản, các xã có thể tự đo vẽ lược đồ kết thúc hồ sơ gồm:
sổ điền bộ (lập theo thứ tự thửa, mỗi trang sổ lập 5 thửa). Sổ điền chủ lập theo
chủ sở hữu, mỗi chủ một trang, sổ mục lục tên chủ để tra cứu. Hồ sơ cũng lập
thành hai bộ lưu ở Ty điền địa và xã sở tại. Từ năm 1970, áp dụng luật Người
cày có ruộng, chính quyền Miền nam cũng đã thực hiện cấp giấy chứng nhận
sở hữu ruộng đất cho nông dân. Người được cấp giấy chứng nhận phải trực
tiếp canh tác trên ruộng được cấp giấy 15 năm. Ngoài ra, để được cấp giấy
chứng nhận, gia đình người được cấp giấy chứng nhận phải có người tham gia
quân đội cộng hòa.
Tại miền Bắc Việt Nam, sau cách mạng Tháng 8 năm 1945, chính
quyền Cách mạng thực hiện cải cách ruộng đất, tịch thu ruộng đất của địa chủ
cho dân nghèo. Do điều kiện thiếu thốn, chiến tranh kéo dài hệ thống hồ sơ
chế độ cũ để lại không được chỉnh lý và không sử dụng được. Hệ thống tài
liệu đất đai chủ yếu là bản đồ giải thửa đo đạc thủ công bằng thước dây, bàn
+ Bản kê khai ruộng đất của tập thể;
+ Bản tổng hợp các trường hợp sử dụng đất không hợp pháp;
7
+ Sổ đăng ký ruộng đất cho tập thể và cá nhân;
+ Sổ mục kê;
+ Biểu tổng hợp diện tích;
+ Bảng thống kê diện tích ruộng đất;
+ Giấy chứng nhận;
+ Biên bản thông báo công khai hồ sơ đăng ký.
Kết quả thực hiện khoán 10 và khoán 100 đã đem lại thành tựu to lớn:
sản lượng lương thực, thực phẩm của cả nước tăng vượt bậc, đất đai được
phát huy tối tiềm năng vốn có. Chính kết quả này đã đặt ra yêu cầu cần phải
có quy định bằng luật pháp về vấn đề đất đai và Luật đất đai 1988 ra đời.
Trên cơ sở nền tảng các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai được nêu
trong quyết định 201/QĐ-CP của Chính phủ, đăng ký, cấp giấy chứng nhận
được khẳng định là một nội dung không thể thiếu của quản lý nhà nước về đất
đai, nhất là đối với cấp cơ sở. Sau khi có Luật đất đai năm 1988 công tác đăng
ký thống kê được triển khai thực hiện theo quyết định 201/ĐKTK ngày
24/07/1989 về đăng ký và cấp giấy chứng nhận và thông tư số 302/ĐKTk
ngày 28/10/1989 hướng dẫn thi hành quyết định 201/ĐKTK của tổng cục
quản lý ruộng đất.
Quyết định số 201/QĐ-ĐKTKK ngày 14/07/1989 của tổng cục quản lý
ruộng đất đã khẳng định: “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư
pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho “người sử dụng đất” nhằm
mục đích bảo đảm quyền của người sử dụng đất hợp pháp và quản lý chặt chẽ
đất”. Thực hiện điều 18 Luật đất đai năm 1988, Tổng cục Quản lý ruộng đất
đã ban hành quyết định số: 201/QĐ-ĐKTK ngày 14/07/1989 về việc ban hành
quy định cấp GCN quyền sử dụng đất (giấy có màu đỏ nên được gọi là sổ đỏ);
thông tư số 302/TT/ĐKTK ngày 28/10/1989 hướng dẫn thi hành quyết định
8
tại đô thị, Nghị định số 61/NĐ-CP ngày 5/07/1994 của Chính phủ về mua bán
và kinh doanh nhà ở. Mặc dù có sự chỉ đạo khá quyết liệt của Chính phủ và
quyết tâm rất cao của các địa phương, phấn đấu cấp xong cơ bản GCN ban
đầu vào năm 1999, nhưng tiến độ cấp GCN vẫn rất chậm do nguyên nhân:
- Kinh phí thiếu, lực lượng mỏng, lúng túng trong chỉ đạo của các địa
phương do cùng một lúc có hai ngành cùng tham gia trình cấp GCN quyền sử
dụng đất (ngành Xây dựng tham mưu trình cấp GCN khu vực đất đô thị,
ngành Đất đai – Địa chính tham mưu cấp GCN khu vực đất nông nghiệp nông
thôn);
- Do cấp GCN là một công việc khó khăn phức tạp đòi hỏi hệ thống hồ
sơ liên quan tới chủ thể sử dụng đất và sở hữu tài sản trên đất phải được cập
nhật thường xuyên, trong khi đó đất đai ở nước ta có một thời gian dài bị
buông lỏng quản lý;
- Tình trạng vi phạm pháp luật trong quản lý sử dụng đất là phổ biến,
có nhiều vụ việc vi phạm kéo dài hàng chục năm chưa được xử lý dứt điểm.
Chính sách về đất đai liên tục thay đổi theo từng giai đoạn do nhu cầu
sử dụng đất cho phát triển kinh tế đất nước. Để có cơ sở cấp GCN, cả 2 ngành
Địa chính, Xây dựng đều trình kế hoạch đo đạc lập bản đồ địa chính cơ sở, do
đó thiếu sự quản lý chỉ đạo thống nhất, đặc biệt ngành Xây dựng không thể
đơn phương tiến hành thụ lý cấp GCN do thiếu hệ thống hồ sơ địa chính được
lưu giữ cập nhật thường xuyên. Vào đầu những năm 1998-1999, khi ở các địa
phương tiến hành sáp nhập sở Địa chính và sở Nhà đất, tình trạng chồng chéo
trong cấp GCN mới tạm thời được xử lý, tốc độ cấp GCN mới được đẩy
nhanh đáng kể. Bên cạnh việc cấp “sổ đỏ, giấy hồng” của 2 ngành Đất đai và
10
Xây dựng, cũng trong giai đoạn này, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số
20/1999/QĐ-BTC ngày 25/02/1999 và Thông tư số 122/1999/TT-BTC ngày
13/10/1999 về kê khai, đăng ký sử dụng trụ sở làm việc thuộc sở hữu nhà
nước. Tuy nhiên việc tổ chức thực hiện ở các địa phương rất chậm và số
lượng GCN đã cấp là không đáng kể.
với đất.
- Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 về cấp giấy chứng nhận,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Thông tư 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 quy định về giấy
chứng nhận, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Thông tư 20/TT - BTN&MT ngày 22/10/2010 của Bộ TN&MT quy
định bổ sung về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất.
- Thông tư 16 /TT - BTN&MT ngày 20/5/2011 của Bộ TN&MT quy
định sửa đổi bổ sung một số nội dung liên quan đến thủ tục hành chính về đất
đai.
Những quy định này đã góp phần thống nhất quản lý đất đai, thống nhất
quản lý nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại Việt Nam, đồng thời tạo điều kiện
cho người dân trong quá trình sử dụng đất và sở hữu tài sản có trên đất.
12
2.1.2. Căn cứ pháp lý của công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và lập hồ sơ địa chính
Sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam
Dân chủ Cộng Hoà ra đời, ngành Địa chính từ Trung ương tới cơ sở được duy
trì và củng cố để bảo vệ chế độ sở hữu ruộng đất.
Năm 1954, Hiến pháp mới nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định
3 hình thức sở hữu đất là: Sở hữu Nhà nước, Sở hữu tập thể, Sở hữu tư nhân.
Năm 1976, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời đã
ban hành một số văn bản để điều chỉnh mối quan hệ đất đai, trong đó có nội
dung tổ chức thực hiện kiểm tra thống kê đất đai trong cả nước, để thực hiện
nội dung này Nhà nước đã ban hành quyết định số 169/QĐ-CP ngày
20/06/1977.
Ngày 09/11/1979 Chính phủ đã ban hành Nghị định 404/CP về việc
thành lập hệ thống tổ chức quản lý ruộng đất trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng
thống nhất quản lý Nhà nước đối với ruộng đất trên toàn bộ lãnh thổ.
Ngày 28/10/1989 Tổng cục Quản lý ruộng đất ban hành Thông tư
302/TT-ĐKTK hướng dẫn thi hành Quyết định số 201/QĐ-ĐKTK
Năm 1992, Hiến pháp mới ra đời, thay thế cho Hiến pháp 1980, Luật
Đất đai cũng thay đổi, ngày 14/07/1993 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua Luật Đất đai gồm 7 chương với 89 điều. Tại điều
13 của Luật Đất đai năm 1993 tiếp tục khẳng định đăng ký đất đai, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và lập hồ sơ địa chính là một trong 7 nội dung
quan trọng của quản lý Nhà nước về đất đai.
14
Sau khi Luật Đất đai 1993 ra đời thì hàng loạt các văn bản, thông tư,
nghị định của Nhà nước đã được ban hành như:
- Nghị định 64/CP ngày 27/09/1993 của Chính phủ ban hành bản quy
định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định,
lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp.
- Nghị định 02/CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ quy định về việc
giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài.
- Nghị định 60/CP ngày 05/07/1994 của Chính phủ quy định về quyền
sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị.
- Quyết định số 499/QĐ-ĐC ngày 27/07/1995 của Tổng cục Địa chính
quy định các mẫu sổ mục kê, sổ địa chính, sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, sổ theo dõi biến động đất đai.
- Công văn số 1247/CV-ĐC ngày 13/10/1995 của Tổng cục Địa chính
về việc hướng dẫn xử lý một số vấn đề cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
- Chỉ thị 245/TT ngày 22/4/1996 của Chính phủ về tổ chức thực hiện
một số công việc cấp bách trong quản lý sử dụng đất của các tổ chức trong
nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất.
- Chỉ thị 45/CP ngày 03/08/1996 của Chính phủ bổ sung điều 10 cho
Nghị định 60/CP ngày 05/07/1994 về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng
đất ở tại đô thị.
26/10/2003 và được Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
công bố và có hiệu lực từ ngày 01/07/2004.
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về việc
thi hành Luật đất đai.
- Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử
phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai.
- Quy định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa
chính.
- Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về
thu tiền sử dụng đất khi cấp GCN.
- Thông tư số 01/TT-BTNMT ngày 13/04/2005 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 181/2004/NĐ-CP.
- Nghị định số 142/2004/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ về
thu tiền thuê đất, trong đó có quy định thu tiền thuê đất khi cấp GCN.
- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về việc
sửa đổi bổ sung một số quy định về việc thu tiền sử dụng đất khi cấp GCN,
việc xác nhận hợp đồng chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng
đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất trong khu công
nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao.
17