MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai được ví như “tài sản vô cùng quý giá của quốc gia” và theo như
lời William Petty từng nói: “Lao động không phải là nguồn duy nhất sinh ra
của cải vật chất mà lao động là cha của của cải vật chất, còn đất là mẹ”. Đất
đai là sản phẩm mà thiên nhiên vô cùng ưu ái ban tặng cho con người. Đó là
môi trường sống, là chỗ đứng, là địa bàn hoạt động cho tất cả các ngành các
lĩnh vực. Đặc biệt là trong lao động sản xuất nông nghiệp thì đất đai lại càng
chiếm vai trò quan trọng vì đó là tư liệu không thể thay thế được.
Diện tích đất đai là có hạn trong khi nhu cầu của con người đối với đất
đai ngày càng lớn, quan hệ đất đai phức tạp và luôn biến động, việc quản lý,
sử dụng đất còn nhiều bất cập. Trong khi các chủ sử dụng đất chỉ quan tâm
đến lợi ích trước mắt mà không tính đến mục tiêu lâu dài, gây ra nhiều tranh
chấp đất đai, các vi phạm luật liên tục xảy ra. Các cán bộ, cơ quan còn chưa
thực sự nghiêm trong công tác Quản lý nhà nước về đất đai.
Đứng trước những vấn đề bức xúc như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã rất
nhiều lần thay đổi, bổ sung các chính sách pháp luật về đất đai. Hiến pháp
năm 1980 quy định: “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất
quản lý ”. Để nâng cao vai trò quản lý đất đai, Luật Đất đai 1988 đầu tiên ra
đời, tiếp đến là Luật Đất đai 1993 và Luật Đất đai 2003 đều có nội dung đăng
ký quyền sử dụng đất và lập hồ sơ địa chính, cùng với các các Thông tư, Nghị
đinh, văn bản hướng dẫn thi hành về Luật đã và đang từng bước đi sâu vào
thực tiễn.
Công tác Đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập
Hồ sơ địa chính là một nội dung quan trọng trong 13 nội dung Quản lý Nhà
nước về đất đai được quy định trong Luật đất đai năm 2003. Đăng ký đất đai
Trường đại học TN&MT Hà Nội
Khoa quản lý đất đai
Lớp: LĐH1QĐ2
Trường đại học TN&MT Hà Nội
Khoa quản lý đất đai
Mục đích và yêu cầu
* Mục đích
- Tìm hiểu những quy định của Pháp luật đất đai về công tác quản lý của
Nhà nước về công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, lập hồ sơ địa chính.
- Tìm hiểu và đánh giá thực trạng công tác đăng ký đất đai, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và lập hồ sơ địa chính của Huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình.
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký đất đai, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và lập hồ sơ địa chính của huyện Hoa Lư - tỉnh
Ninh Bình. Các kiến nghị hoàn chỉnh chính sách, văn bản, pháp luật về đất
đai.
* Yêu cầu
- Nắm chắc được quy định của Nhà nước, của ngành và địa phương đối
với công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lập
hồ sơ địa chính để vận dụng vào thực tế của địa phương.
- Thu thập tài liệu, số liệu theo các tiêu chí đã được xác định. Các số liệu
điều tra, thu thập phải chính xác, đầy đủ phản ánh trung thực khách quan việc
thực hiện công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và
lập hồ sơ địa chính của địa phương.
- Xử lý, phân tích số liệu, rút ra kết luận về các tiêu chí phản ánh nội
dung nghiên cứu.
- Kiến nghị và đề xuất phù hợp với thực tiễn của địa phương.
khứ và hiện tại ảnh hưởng đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất. Sự gia
tăng dân số và sự phát triển kinh tế, xã hội đã gây áp lực lên các nguồn tài
nguyên thiên nhiên đặc biệt là đất đai. Cùng với đó là sự ô nhiễm môi trường
ngày càng tăng làm cho đất đai ngày càng bị thoái hóa.
Chính vì vậy mà công tác quản lý và sử dụng đất luôn được Đảng và
Nhà nước ta quan tâm sâu sắc. Trong các nội dung quản lý nhà nước về đất
Sinh viên: Lê Hồng Phong
4
Lớp: LĐH1QĐ2
Trường đại học TN&MT Hà Nội
Khoa quản lý đất đai
đai thì công tác cấp giấy chứng nhận, lập hồ sơ địa chính và đăng ký biến
động đất đai giữ vai trò rất quan trọng. Thông qua công tác đăng ký đât đai
Nhà nước nắm bắt được các thông tin về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và
pháp lý của thửa đất thì mới thực sự nắm chác được tình hình sử dụng và
quản lý chặt chẽ mọi biến động đất đai theo đúng pháp luật. Từ đó, bảo vệ
được lợi ích của Nhà nước, lợi ích cộng đồng cũng như lợi ích của nhân dân.
Đối với Nhà nước, xã hội và nhân dân việc cấp cấp giấy chứng nhận, lập
hồ sơ địa chính và đăng ký biến động đất đai đem lại những lợi ích như:
- Thông qua công tác đăng ký đât đai Nhà nước nắm bắt được các thông
tin về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và pháp lý của thửa đất thì mới thực sự
nắm chắc được tình hình sử dụng và quản lý chặt chẽ mọi biến động đất đai
theo đúng pháp luật. Từ đó, bảo vệ được lợi ích của Nhà nước, lợi ích cộng
chính và đăng ký biến động đất đai đến từng thửa đất là nhiệm vụ không thể
thiếu được của tất cả mọi người tham gia khi sử dụng đất. Nhờ đó người sử
dụng đất yên tâm khai thác tiềm năng của đất hợp lý, có hiệu quả và chấp
hành đầy đủ các quy định về đất đai.
* Căn cứ pháp lý của công tác cấp giấy chứng nhận, lập hồ sơ địa chính
và đăng ký biến động về đất đai.
- Trước khi có Luật Đất đai 2003
Trong thời kỳ trước những năm 1945, ở Việt Nam công tác đăng ký đất
đai có từ thế kỷ VI và nổi bật nhất ở các thời kỳ như : Gia Long, Minh Mạng,
thời kỳ Pháp thuộc. Các vấn đề này cũng đã được quy định trong các Hiến
pháp, Pháp Luật Đất đai như:
Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959 quy định ba hình
thức sở hữu về đất đai: Sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân.
Năm 1980, Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời
khẳng định: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch
chung nhằm đảm bảo đất đai được sử dụng hợp lý, tiết kiệm …”. Công tác
đăng ký đất đai, cấp cấp giấy chứng nhận được Đảng và Nhà nước ta quan
tâm chỉ đạo thông qua hệ thống các văn bản pháp luật.
Hiến pháp năm 1992 ra đời đã khẳng định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ,
tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển thềm lục địa và vùng trời,…
đều thuộc sở hữu toàn dân”. Đây là cơ sở vững chắc cho sự ra đời của Luật
Đất đai năm 1993 được thông qua ngày 14/07/1993. Tiếp theo đó là Luật sửa
đổi bổ sung một số Điều của Luật Đất đai được Quốc hội khóa IX thông qua
ngày 02/12/1998 và Quốc hội khóa X thông qua ngày 29/06/2001.
Sinh viên: Lê Hồng Phong
6
Lớp: LĐH1QĐ2
hoặc chỉnh lý biến động về sử dụng đất trên giấy chứng nhận.
Nghị quyết 775/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02/04/2005 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định giải quyết đối với một số trường hợp cụ thể về
nhà đất trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách
Sinh viên: Lê Hồng Phong
7
Lớp: LĐH1QĐ2
Trường đại học TN&MT Hà Nội
Khoa quản lý đất đai
cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01/07/1991 làm cơ sở xác định điều kiện
cấp giấy chứng nhận đối với trường hợp đang sử dụng nhà, đất thuộc diện
thực hiện các chính sách quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số
23/2003/QH11.
Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27/07/2006 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày
01/07/1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia làm cơ sở xác
định đối tượng được cấp giấy chứng nhận trong những trường hợp có tranh
chấp.
+ Các văn bản thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
ban hành có quy định về cấp giấy chứng nhận, lập hồ sơ địa chính, đăng ký
biến động đất đai và các vấn đề liên quan gồm:
Nghị định số 47/2003/NĐ-CP ngày 12/05/2003 sửa đổi bổ sung một số
Điều của Nghị định 176/1999/NĐ-CP.
Chỉ thị số 05/2004/CT – TTg ngày 29/02/2004 của Thủ tướng Chính phủ
đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai
và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty Nhà nước thành
công ty cổ phần. Trong đó sửa đổi bổ sung một số quy định về việc thu tiền
sử dụng đất khi cấp giấy chứng nhận, việc xác nhận hợp đồng chuyển
nhượng, cho thuê, cho thuê lại QSDĐ, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng
quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao.
Chỉ thị số 05/2006/CT-TTg ngày 22/06/2006 của Thủ tướng Chính phủ
về việc khắc phục yếu kém, sai phạm, tiếp tục đẩy mạnh tổ chức thi hành Luật
Đất đai; trong đó chỉ đạo các địa phương đảy mạnh để hoàn thành cơ bản việc
cấp giấy chứng nhận trong năm 2006.
Nghị quyết số 23/2006/NQ-CP ngày 07/09/2006 về một số giải pháp
nhằm đẩy nhanh tiến độ bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê
theo quy định tại Nghị định số 61/CP ngày 05/07/1994 của Chính phủ, trong
đó quy định việc thu tiền sử dụng đất không bán nhà ở cho người đang thuê.
Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định
bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng
đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
và giải quyết khiếu nại về đất đai.
Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.
Sinh viên: Lê Hồng Phong
9
Lớp: LĐH1QĐ2
Trường đại học TN&MT Hà Nội
Sinh viên: Lê Hồng Phong
10
Lớp: LĐH1QĐ2
Trường đại học TN&MT Hà Nội
Khoa quản lý đất đai
sắp xếp, đổi mới và phát triển các nông, lâm trường quốc doanh. Trong đó có
hướng dẫn việc rà soát, cấp giấy chứng nhận cho các nông, lâm trường quốc
doanh sau khi sắp xếp lại.
Thông tư 95/2005/TT-BTC ngày 26/10/2005 của Bộ Tài chính hướng
dẫn các quy định của pháp luật về lệ phí trước bạ.
Thông tư số 70/2006/TT-BTC ngày 02/08/2006 của Bộ Tài chính hướng
dẫn sửa đổi, bổ sung Thông tư số 117/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ
Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày
03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất.
Thông tư số 09/2006/TT-BTNMT ngày 25/09/2006 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường hướng dẫn việc chuyển hợp đồng thuê đất và cấp giấy chứng
nhận khi chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần hóa; trong đó có
hướng dẫn việc rà soát, cấp giấy chứng nhận cho công ty đã cổ phần hóa.
Quyết định số 08/2006/QĐ – BTNMT ngày 21/07/2006 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường quy định về giấy chứng nhận thay thế cho Quyết định
số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2001.
Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 02/08/2007 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.
Thông tư 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ Tài Nguyên và
thực hiện đối với các đối tượng là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng
đất; là việc ghi nhận về quyền sử dụng đất đối với một thửa đất xác định vào
hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận cho những chủ sử dụng đất hợp pháp
nhằm xác lập mối quan hệ pháp lý đầy đủ giữa Nhà nước với người sử dụng
đất đồng thời nhằm chính thức xác lập quyền và nghĩa vụ của người sử dụng
đất; là cơ sở để Nhà nước nắm chắc và quản lý chặt toàn bộ đất đai theo Pháp
luật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất.
Đăng ký đất đai có hai loại, đó là đăng ký đất đai lần đầu và đăng ký
biến động quyền sử dụng đất. đăng ký đất đai lần đầu được thực hiện trong
trường hợp người sử dụng đất chưa kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và
chưa được cấp giấy chứng nhận. Đăng ký biến động quyền sử dụng đất chỉ
được thực hiện đối với người sử dụng đất đã được cấp giấy chứng nhận hoặc
có các giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 50 - Luật
Đất đai 2003 mà có thay đổi về quyền sử dụng đất hay nội dung sử dụng đất
mà pháp luật quy định. Việc đăng ký đất đai được thực hiện tại văn phòng
đăng ký quyền sử dụng đất (đối với người sử dụng đất ở đô thị) và tại uỷ ban
nhân dân xã (đối với người sử dụng đất ở nông thôn).
- Đăng ký ban đầu được thực hiện với các trường hợp sau:
Sinh viên: Lê Hồng Phong
12
Lớp: LĐH1QĐ2
Trường đại học TN&MT Hà Nội
Khoa quản lý đất đai
+ Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng chưa thực hiện đăng ký quyền
Lớp: LĐH1QĐ2
Trường đại học TN&MT Hà Nội
Khoa quản lý đất đai
+ Chuyển từ hình thức nhà nước cho thuê đất sang hình thức được Nhà
nước giao đất có thu tiền sử dụng đất.
+ Thay đổi về hạn chế quyền của nguời sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản
gắn liền với đất.
+ Thay đổi về nghĩa vụ tài chính mà người sử dụng đất phải thực hiện.
+ Các trường hợp thay đổi: Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản được
phép đổi tên, giảm diện tích do sạt lở, nguời sử dụng đất đề nghị chứng nhận
quyền sở hữư tài sản gắn liền với đất vào giấy chứng nhận đã cấp, thay đổi
thông tin về số hiệu thửa đất, đơn vị hành chính nơi có thửa đất, thay đổi về
nhà ở và công trình xây dựng trên đất, thay đổi diện tích và nguồn gốc, hồ sơ
giao rừng sản xuất, đính chính nội dung ghi trên giấy chứng nhận đã cấp có
sai sót do việc in hoặc cấp giấy chứng nhận mà người đựoc cấp giấy chứng
nhận không đề nghị cấp mới.
- Đối tượng đăng ký quyền sử dụng đất.
Người sử dụng đất phải đăng ký quyền sử dụng đất: là người đang sử
dụng đất và là người có quan hệ trực tiếp đối với Nhà nước trong việc thực
hiện quyền và nghĩa vụ sử dụng đất theo pháp luật. Các đối tượng đăng ký
quyền sử dụng đất (theo Điều 9 và điều 107 của Luật đất đai năm 2003) bao
gồm:
+ Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước;
+ Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất (đối với đất nông nghiệp và công
trình tín ngưỡng);
sử dụng đất;
+ Người đại diện của cộng đồng dân cư sử dụng đất được uỷ ban nhân
dân cấp xã chứng thực;
+ Người đứng đầu cơ sở tôn giáo sử dụng đất;
+ Người đại diện cho những người sử dụng chung thửa đất.
Những người chịu trách nhiệm đăng ký đều có thể uỷ quyền cho người
khác theo quy định của pháp luật.
1.2.3. Cấp giấy chứng nhận
Giấy chứng nhận là giấy do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho
người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất
để họ yên tâm đầu tư, cải tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng đất; Là chứng thư
pháp lý xác nhận mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước với người sử dụng
đất. Quá trình tổ chức việc cấp giấy chứng nhận là quá trình xác lập căn cứ
pháp lý đầy đủ nhất để giải quyết mọi vấn đề có liên quan đến quan hệ đất đai
(giữa Nhà nước là chủ sở hữu với người sử dụng đất và giữa người sử dụng
Sinh viên: Lê Hồng Phong
15
Lớp: LĐH1QĐ2
Trường đại học TN&MT Hà Nội
Khoa quản lý đất đai
đất với nhau) theo đúng pháp luật hiện hành.
- Giấy chứng nhận từ trước đến nay tồn tại 4 loại giấy:
+ Loại thứ nhất: Giấy chứng nhận được cấp theo Luật Đất đai năm 1988
do Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) phát hành theo
Trường đại học TN&MT Hà Nội
Khoa quản lý đất đai
mẫu thống nhất trong cả nước. giấy chứng nhận do Bộ Tài nguyên và Môi
trường phát hành.
- Những trường hợp được Nhà nước cấp giấy chứng nhận được quy định
tại Điều 49-Luật Đất đai 2003 gồm:
+ Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, trừ trường hợp thuê đất
nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường , thị trấn;
+ Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15/10/1993 đến
trước ngày 1/07/2004 có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp giấy chứng
nhận;
+ Người đang sử dụng đất theo quy định tại Điều 50, Điều 51 của Luật
này mà chưa được cấp giấy chứng nhận;
+ Người được chuyển đổi, chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho
quyền sử dụng đất; Người nhận quyền sử dụng đất khi xử ký hợp đồng thế
chấp, bảo lãnh quyền sử dụng đất để thu hồi nợ; Tổ chức sử dụng đất là pháp
nhân mới được hình thành do các bên góp vốn bằng quyến sử dụng đất;
+ Người được sử dụng đất theo bản án hoặc Quyết định của Toà án nhân
dân, Quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải
quyết tranh chấp đất đai của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã được thi
hành;
+ Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất;
+ Người sử dụng đất của khu công nghiệp, đất khu công nghệ cao, đất
khu kinh tế;
+ Người mua nhà ở gắn liền với đất ở;
+ Người được Nhà nước thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở.
+ Người sử dụng đất xin hợp thử tách thửa mà pháp luật cho phép.
Hồ sơ địa chính do Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định và hướng dẫn
lập, chỉnh lý, quản lý. Biểu mẫu hồ sơ địa chính được quy định theo Quyết
định 56/QĐ-ĐKTK, Quyết định 449/QĐ-ĐC, Thông tư 1990/TT-BTNMT
gần đây là Thông tư 29/2004/TT-BTNMT và Thông tư 09/2007/TT-BTNMT.
Theo quy định hiện hành hồ sơ địa chính có 2 dạng là hồ sơ địa chính dạng
giấy và hồ sơ địa chính dạng số. Tuy nhiên trong quá trình xây dựng hồ sơ địa
chính dạng số vẫn phải duy trì hệ thống hồ sơ địa chính dạng giấy.
Nội dung hồ sơ địa chính bao gồm các thông tin về thửa đất sau đây: Số
hiệu, kích thước, hình thể, diện tích, vị trí; Người sử dụng thửa đất; Nguồn
gốc, mục đích, thời hạn sử dụng đất; Tài sản gắn liền với đất, nghĩa vụ tài
chính về đất đai đã thực hiện và chưa thực hiện; giấy chứng nhận, quyền và
Sinh viên: Lê Hồng Phong
18
Lớp: LĐH1QĐ2
Trường đại học TN&MT Hà Nội
Khoa quản lý đất đai
những hạn chế về quyền của người sử dụng đất; Biến động trong quá trình sử
dụng đất và các thông tin khác có liên quan;
Hồ sơ địa chính được lập theo đơn vị hành chính cấp ; Lập và chỉnh lý
biến động cho từng thửa đất theo đúng trình tự thủ tục quy định; Hồ sơ địa
chính phải đảm bảo độ chính xác, thống nhất giữa các tài liệu sau: Giữa bản đồ,
sổ đia chính, sổ mục kê, sổ theo dõi biến động đất đai. Giữa bản đồ gốc và các
bản sao của hồ sơ địa chính. Giữa hồ sơ địa chính với giấy chứng nhận và hiện
Khoa quản lý đất đai
đất đai hàng năm. Nội dung các thông tin ghi vào sổ mục kê được ghi theo nội
dung đã chỉnh lý trên sổ địa chính.
- Trách nhiệm lập, nghiệm thu hồ sơ địa chính:
+ Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức việc lập hồ sơ địa chính;
+ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi
trường triển khai việc lập hồ sơ địa chính gốc và làm 02 bản sao để gửi cho
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi
trường và uỷ ban nhân dân cấp xã.
+ Trường hợp trích đo thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất chịu
trách nhiệm kiểm tra chất lượng trước khi sử dụng.
Nội dung kiểm tra, nghiệm thu thực hiện theo quy định của Bộ Tài
nguyên và Môi trường.
- Trách nhiệm chỉnh lý, cập nhật lập hồ sơ địa chính:
+ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng thuộc Sở Tài nguyên và Môi
trường chỉnh lý, cập nhật hồ sơ địa chính gốc;
+ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi
trường và cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn chỉnh lý, cập nhật bản sao hồ sơ
địa chính;
- Trách nhiệm quản lý hồ sơ địa chính:
+ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi
trường quản lý hồ sơ địa chính gốc và các tài liệu có liên quan;
+ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và
Môi trường quản lý bản sao hồ sơ địa chính và các tài liệu có liên quan;
+ Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý bản sao hồ sơ địa chính;
bản trích sao hồ sơ địa chính đã được chỉnh lý, cập nhật và các giấy tờ kèm
theo do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi
trường gửi đến để chỉnh lý, cập nhật bản sao hồ sơ địa chính.
* Hồ sơ địa chính dạng số
gồm: Lập bản đồ địa chính số hoặc số hoá bản đồ địa chính và cập nhật thông
tin thửa đất từ giấy chứng nhận hoặc sổ địa chính,chúng được kết nối bằng
mã thửa đất; Tổ chức quản lý cơ sở dữ liệu bằng phần mềm quản trị cơ sở dữ
liệu được chọn phù hợp với chức năng quản lý hệ thống thông tin đất; Lựa
chọn các phần mềm ứng dụng phù hợp để xử lý, tìm kiếm, thống kê, tổng
hợp, phân tích thông tin đất đai phục vụ yêu cầu quản lý và cung cấp thông tin
đất đai; Tổ chức kết nối hệ thống thông tin đất đai của địa phương với: Mạng
thông tin quản lý hành chính của địa phương, mạng thông tin đất đai quốc gia,
Sinh viên: Lê Hồng Phong
21
Lớp: LĐH1QĐ2
Trường đại học TN&MT Hà Nội
Khoa quản lý đất đai
mạng thông tin chuyên ngành như: Về đầu tư, giá đất, bất động sản, thuế,
ngân hàng…
Hồ sơ địa chính dạng số do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm lập, chỉnh lý, quản lý và
cung cấp hồ sơ địa chính dạng số để thay thế bản sao hồ sơ địa chính trên giấy
cho Phòng Tài nguyên và Môi trường, Uỷ ban nhân dân xã. Điều kiện lập hồ
sơ địa chính dạng số: Có đủ máy vi tính, thiết bị ngoại vi đáp ứng yêu cầu cần
thiết; Cán bộ chuyên môn đủ năng lực sử dụng thành thạo máy vi tính và phần
mềm hệ thống thông tin đất đai.
1.2.5. Kết quả lập hồ sơ địa chính trên địa bàn cả nước
địa phương là: Thiếu về nhân lực; vướng mắc do nhiều xã chưa có bản đồ địa
chính, biến động đất đai lớn nhưng thiếu kinh phí thực hiện kế hoạch cấp
giấy chứng nhận. Thêm vào đó cơ chế chính sách có nhiều điểm bất cập,
chưa thuận lợi và tác động tích cực đến người dân xin cấp giấy. Mặc dù
những năm gần đây Nhà nước có chủ trương khuyến khích mọi người dân
tiến hành làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận theo phương châm đơn
giản hóa các thủ tục, giải quyết nhanh gọn, đúng luật, đúng trình tự, hạn chế
tối đa việc đi lại của người dân. Song theo khảo sát điều tra cho thấy hiện tại
đa phần người dân làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận chủ yếu là do nhu cầu
thiết yếu như: Để thế chấp vay vốn; mua bán; cho tặng; thừa kế... còn lại
những trường hợp khác không có nhu cầu xử lý vì chưa có tiền nộp các khoản
thu. Có thể nói một trong những nguyên nhân chính trong cơ chế chính sách
làm cản trở và chậm đến tiến độ xét cấp giấy chứng nhận hiện nay đó là về
chính sách tài chính về nghĩa vụ đối với Nhà nước của người sử dụng đất.
Sinh viên: Lê Hồng Phong
23
Lớp: LĐH1QĐ2
Trường đại học TN&MT Hà Nội
Khoa quản lý đất đai
Bảng 1: Kết quả cấp giấy chứng nhận các loại đất chính trong cả nước.
Đến tháng 9 năm 2011
S
TT
Đồng bằng Bắc Bộ
3,776,284
3
Bắc Trung Bộ
4
Diện tích
Đất ở nông thôn
Diện tích
Tỷ lệ
diện
tích
Số giấy
2,629,232 10,371,482
86,3
11,671,553
435,967
67,7
29,241
80,928
49,7
769,313
92,3
10,912
25,923
23,0
2,952,270
87,280
82,5
751,014
12,487
56,2
16,399
38,670
69,7
Nam Trung Bộ
1,649,099
743,624
74,7
323,433
1,207,999
82,1
1,118,752
40,438
74,7
458,953
10,910
232,304
7,187
55,8
6,719
28,961
54,7
6
Đông Nam Bộ
1,283,987
1,273,128
87,8
153,898
720,056
87,3
880,108
82,3
2,245,494
85,571
85,7
532,934
16,100
70,1
34,549
53,445
55,5
Số giấy
Số giấy
(ha)
(ha)
Tỷ lệ
diện
Từ năm 1981 đến nay, Tổng cục quản lý ruộng đất (nay là Bộ Tài
nguyên và Môi trường) đã ban hành 6 loại biểu mẫu phục vụ cho công tác lập
hồ sơ địa chính là: Quyết định số 56/QĐ-ĐC ngày 05/11/1981; Quyết định số
499/QĐ-ĐC ngày 27/7/1995; Thông tư 346/1998/TT-ĐC; Thông tư
1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001; Thông tư 29/2004/TT-BTNMT;
Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT.
Hiện nay, các địa phương đã ứng dụng công nghệ thông tin vào việc lập hồ
sơ địa chính dưới dạng số phần nào đáp ứng được yêu cầu ngày càng tăng trong
công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Tuy nhiên việc lập hồ sơ địa chính ở nhiều
địa phương còn chưa đầy đủ (đạt khoảng 70%), mới chỉ tập trung ở một số xã mà
chưa triển khai trên diện rộng. Bên cạnh đó, phần mềm ứng dụng công tác lập hồ
sơ địa chính ở nhiều địa phương chưa thống nhất, chỉnh lý biến động chưa được
đầy đủ, thường xuyên, kịp thời thiếu đồng bộ.
1.2.6. Kết quả thực hiện công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận và lập
hồ sơ địa chính trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
* Kết quả đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
tỉnh Ninh Bình trong thời gian qua đã đạt kết quả như sau:
Sinh viên: Lê Hồng Phong
25
Lớp: LĐH1QĐ2