skkn một số phương pháp dạy học sinh vẽ theo mẫu bậc tiểu học có hiệu quả - Pdf 34

Đề Tài:

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP HIỆU QUẢ KHI DẠY – HỌC
PHÂN MÔN VẼ THEO MẪU BẬC TIỂU HỌC

I. PHẦN MỞ ĐẦU:
I.1. Lý do chọn đề tài.
Hòa trong xu thế phát triển của toàn thế giới Việt Nam đang tiến nhanh trên con đường
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để thực hiện thành công công cụộc đó, phát triển giáo
dục là một chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt, bởi nó tác động rất lớn đến các lĩnh vực khác.
Đúng vậy! Để có được một nền giáo dục phát triển toàn diện thì việc giáo dục thẩm mĩ
cho học sinh, tạo điều kiện cho các em tiếp xúc, làm quen và thưởng thức vẻ đẹp của thiên
nhiên, của các tác phẩm mĩ thuật, biết cảm nhận cái đẹp của đường nét, mảng hình, đậm nhạt,
màu sắc, bố cục…đồng thời phát triển khả năng quan sát, nhận xét, tư duy sáng tạo, hình thành
các kỹ năng sống cho học sinh, góp phần phát hiện những học sinh có năng khiếu mĩ thuật, tạo
điều kiện cho các em phát triển tài năng của mình. Thông qua việc vẽ tranh, xem tranh để tìm
hiểu cái đẹp, cảm nhận cái đẹp mà hình thành cho học sinh thái độ, hành vi thân thiện với môi
trường, bảo vệ môi trường. Các em có thể tham gia các hoạt động bên ngoài nhà trường để thể
hiện hiểu biết, tình cảm của mình về bộ môn cũng như tìm hiểu về môi trường và Biến đổi khí
hậu thông qua các hoạt động vẽ tranh, các hoạt động xã hội khác.
Vẽ theo mẫu là một phân môn đòi hỏi học sinh tập trung nghiên quan sát mẫu là chính mà
giáo viên không chuẩn bị được mẫu thực, và không hướng dẫn kĩ ( kể cả lúc học sinh thực hành)
cho nên khi học sinh thường vẽ mẫu trong sách hoặc vẽ theo trí tưởng tượng về một vật mẫu
nào đó. Do đó để dạy tốt phân môn vẽ theo mẫu ở tiểu học, giáo viên cần hướng dẫn học sinh
theo định hướng tích cực, truyền tải cho học sinh những khái niệm mĩ thuật hết sức cụ thể, đơn
giản và dễ hiểu. Kết hợp lời giảng với ví dụ, chứng minh thực tế để học sinh thấy ngay và nhận
biết rõ ràng về đường nét, hình khối, mảng chiếu, màu sắc đơn giản từ đó mô phỏng được gần
giống với mẫu thực và có ý thức bước đầu về đậm nhạt.
Bộ môn mĩ thuật nhìn chung học sinh đều có ý thức tích cực học tập, yêu thích bộ môn,
nhưng xét về chuyên môn thì những ý thức ấy, sở thích ấy cũng chỉ dừng ở trào lưu đơn thuần
do học môn này học sinh tự do sáng tạo, không khí học tập thoải mái không gò ép nên mỗi khi

mẫu bậc tiểu học.
Đối tượng học sinh trường tiểu học Ngô Quyền.
I.4. Giới hạn nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu việc dạy và học phân môn vẽ theo mẫu trong phạm vi trường tiểu học
Ngô Quyền.
I.5. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra thực trạng của trường
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp so sánh kết quả thực nghiệm với trước kia
II. PHẦN NỘI DUNG:
II.1. Cơ sở lý luận.
Môn mĩ thuật ở tiểu học chúng ta đang hướng dẫn học sinh cảm thụ mĩ thuật ở mức cảm
tính thì phân môn vẽ theo mẫu lại đóng vai trò quan trọng hơn cả. Khi học sinh nắm vững kiến
thức cơ bản ban đầu của phân môn vẽ theo mẫu một cách vững vàng sẽ là điều kiện và khả năng
để phát huy các phân môn khác. Khi nói tới bộ môn mĩ thuật chúng ta hiểu rằng nó được bắt đầu
từ “cảm” sau “cảm” mới là “lý” hay nói cách khác nó bắt nguồn từ “cảm tính” dần chuyển thành
“lý tính”. Chính vì vậy, ở tiểu học mới chỉ dừng ở mức “cảm tính” mà thôi. Chúng ta dạy học
sinh nhằm đạt được mục tiêu là học sinh có kiến thức ban đầu về mĩ thuật. Để bắt đầu cảm nhận
mĩ thuật các em sẽ hình thành khái niệm mĩ thuật qua cách quan sát, nhận xét sự vật hiện tượng
trong cuộc sống, và những sự vật hiện tượng ấy được sắp xếp, tổ chức trong 45 tiết (bài) vẽ theo
mẫu ở tiểu học. Trong những bài này là những mẫu vẽ đã được chủ động nghiên cứu để nó trở
thành những mẫu đại diện điển hình cho mọi sự vật hiện tượng.
Vẽ theo mẫu ở tiểu học là phân môn tạo nên ý thức quan sát để cảm nhận cái đẹp của sự
vật hiện tượng. Đó sẽ là một trong những kiến thức ban đầu quan trọng của chương trình mĩ
thuật tiểu học và từ đây sẽ dần hình thành các kĩ năng cần thiết để giúp học sinh hoàn thành các
bài tập theo chương trình và vận dụng những kiến thức ấy vào học tập, sinh hoạt hằng ngày.
Kiến thức vẽ theo mẫu ở tiểu học cũng như các phân môn khác của bộ môn mĩ thuật được thiết
kế theo chương trình đồng tâm từ dễ đến khó như vẽ nét thẳng, nét cong ( đối với lớp 1,2) vẽ
những đồ vật thông dụng như cái xô, cái phích, cái bát, cái chén, lọ hoa… (đối với lớp 4, 5).

pháp mới hiện nay nhằm đưa tới học sinh cách học đơn giản và dễ hiểu nhất, nhằm phát huy
tính tích cực của học sinh, đưa các em vào tiết học một cách nhẹ nhàng và bổ ích. Từ đó tạo cho
các em có cái nhìn và cảm nhận về cái đẹp thông qua phân môn vẽ theo mẫu.
3. Mặt mạnh – mặt yếu.
Qua nghiên cứu đề tài đã giúp cho tôi trang bị kiến thức, rèn luyện tay nghề và vận dụng
nhiều phương pháp dạy học giúp học sinh phát triển trí tưởng tượng, biết yêu cái đẹp, có ý thức
trân trọng giữ gìn, bảo vệ cái đẹp của thiên hiên, của con người tạo ra.
Học sinh có khả năng hoàn thành tốt các bài vẽ theo mẫu và các phân môn khác của môn
mĩ thuật.
* Mặt yếu.
Học sinh đi học quên mang đồ dùng liên quan đến môn học
Trong lớp ít phát biểu ý kiến xây dựng bài.
Một số em chưa hoàn thành bài vẽ ở lớp.
4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động.
Vẽ theo mẫu rèn luyện cho học sinh khả năng quan sát, nhận xét và kĩ năng vẽ nét, vẽ bố
cục và vẽ hình. Vẽ theo mẫu còn giúp học sinh hiểu được vẻ đẹp của mẫu, tạo điều kiện để học


sinh học các bài trang trí, vẽ theo đề tài, vẽ tự do, thường thức mĩ thuật thuận lợi và hiệu quả
hơn.
Phân môn vẽ theo mẫu xuyên suốt chương trình mĩ thuật tiểu học được thiết kế theo quy
trình đồng tâm, các đơn vị kiến thức được lặp lại nhưng có nâng cao hơn qua mỗi bài, mỗi lớp.
Từ lớp 1 đến lớp 5 có 45 bài vẽ theo mẫu với những mẫu vẽ đơn giản như hình khối,
đường nét quen thuộc như nét cong, nét thẳng, các hình cơ bản như hình tròn, hình vuông, hình
tam giác, hình chữ nhật; khối đơn giản như khối cầu, khối hộp…vật dụng phổ biến, gần gũi như
cái xoong, cái ấm, cái chén, cặp sách, lá cây, quả cây…Khi vẽ theo mẫu học sinh sẽ nắm được
cách vẽ cân đối, vẽ từ bao quát đến chi tiết, từ những hình cơ bản tới những đồ vật cụ thể, bước
đầu so sánh kích thước, hình dáng, màu sắc của vật mẫu. Từ đó học sinh sẽ cảm nhận được
mẫu, vẽ mẫu theo sự “cảm” và so sánh để hình vẽ gần giống với mẫu hơn.
Vẽ theo mẫu là một phân môn quan trọng và cần thiết cho các phân môn khác của môn

mẫu thì phải có mẫu để học sinh quan sát và vẽ theo mẫu chứ không để học sinh vẽ lại hình


minh họa trong sách mĩ thuật hoặc hình vẽ minh họa của giáo viên trên bảng như vậy học sinh
sẽ không hiểu bài và chất lượng không đạt yêu cầu như mong muốn.
Trong chương trình mĩ thuật ở tiểu học có 45 bài vẽ theo mẫu giáo viên cần chuẩn bị đầy
đủ mẫu theo đơn vị bài và trực quan cho các bài đó. Từ những mẫu vẽ đơn giản như: (Khối hộp,
khối trụ, khối cầu) tới những mẫu vẽ cụ thể hơn như ( quả cây, ấm tích, chén, bát, lọ hoa, bình
đựng nước…)
Sử chuẩn bị của giáo viên còn căn cứ theo từng bài. Một mặt do tiết học thường được tổ
chức tại lớp học “ thông thường” một mặt sỹ số học sinh/lớp đông khiến các em khó quan sát
mẫu nếu bày một mẫu trên bảng. Do đó giáo viên cần chuẩn bị nhiều mẫu vẽ giống nhau trên
một yêu cầu của bài vẽ mẫu đó để cho học sinh hoạt động theo nhóm, theo tổ.
Ví dụ: Để dạy bài “Vẽ quả” (quả dạng tròn) bài 10 mĩ thuật lớp 1 trang 15 vở tập vẽ.
Nếu học sinh khoảng 30 em ngồi trong một phòng học bàn ghế kê sát nhau theo hướng nhìn lên
bảng thì việc giáo viên bày một mẫu (quả cây) để học sinh quan sát và vẽ là điều không thể, bởi
những học sinh ngồi bàn dưới và cuối lớp sẽ không thể nhìn thấy mẫu. Như vậy sẽ vô hiệu khi
giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát, nhận xét. Ở bài này quả quan sát khó (vì nhỏ) cho nên
tôi chuẩn bị (3,4) mẫu và bày theo nhóm, tổ giúp học sinh quan sát và vẽ hiệu quả hơn.
Đối với bài vẽ này tôi chuẩn bị cho bài giảng những tranh vẽ các bước dựng hình, đến
hoàn thành bài vẽ. Cách vẽ cụ thể, rõ ràng, đẹp vẽ trên khổ giấy lớn để học sinh dễ quan sát,
việc chuẩn bị trực quan tốt còn giúp cho học sinh hình thành khái niệm mẫu vẽ nhanh nhất, hiệu
quả và đơn giản nhất.
Ví dụ: Bài vẽ quả cà chua
VẼ RA GIẤY A4


+ Sự chuẩn bị đối với học sinh:
Học vẽ theo mẫu đối với học sinh tiểu học vốn vẫn là kiến thức trừu tượng nhất trong bộ
môn mĩ thuật. Trừu tượng bởi lẽ học sinh dần hình thành khái niệm về khối, về hình thể. Tuy

giản và nâng cao dần theo cấu trúc chương trình đồng tâm. Vì vậy ở các lớp (1, 2, 3) là những
mẫu vẽ đơn giản như: hình tam giác, hình tròn, hình vuông, cái túi xách, cái cốc…Còn ở lớp (4,
5) nhìn chung mẫu vẽ là đồ dùng trong gia đình như: cái bát, ấm tích, lọ hoa… Cho nên, việc
hướng dẫn cho học sinh là rất cụ thể, rất gần gũi, giáo viên sử dụng phương pháp phù hợp sẽ đạt
hiệu quả cao.
Giáo viên bày mẫu: Lớp học đông nên giáo viên bày mẫu vẽ vào giữa lớp và kê bàn ghế
theo hình chữ U để học sinh nào cũng có cự ly gần với mẫu, và đảm bảo các em được quan sát
mẫu 100%. Đối với những mẫu nhỏ như cái cốc, lá cây, quả… giáo viên cần chuẩn bị nhiều
mẫu giống nhau để cho học sinh quan sát theo nhóm, như vậy sẽ khắc phục được tình trạng học
sinh không quan sát mẫu, làm việc riêng hay đùa nghịch.
Khi đặt câu hỏi quan sát giáo viên nên nêu những cao hỏi đơn giản dễ hiểu như: Em hãy
so sánh chiều cao của mẫu với chiều ngang của mẫu như thế nào? Khi giáo viên đặt câu hỏi như
vậy học sinh sẽ tập trung vào so sánh, nhận xét mẫu và đưa ra kết quả. Căn cứ vào thực tế cùng
phương pháp dạy đổi mới tôi đưa ra một số ví dụ áp dụng nội dung cho vấn đề hướng dẫn quan
sát nhận xét.
+ Một số ví dụ:
+ Bài 24: Vẽ cái ấm tích và cái bát: MT 5 trang 50.


Đối với bài này mục tiêu đặt ra là học sinh tập quan sát, so sánh, ước lượng tỷ lệ mẫu
ghép (hai vật mẫu) để tìm ra vị trí, khích thước các bộ phận của mẫu. Riêng về kĩ năng yêu cầu
học sinh vẽ được gần giống mẫu ( Diễn tả được đặt điểm, tỷ lệ chính của mẫu, vẽ đậm nhạt theo
từng góc độ quan sát)
Ở bài này tôi cho học sinh ngồi vẽ theo hình chữ U, mẫu vẽ bày giữa phòng học, học sinh
vẽ theo ba hướng bên trái, bên phải và ở giữa lớp, mẫu vẽ đặt vừa tầm nhìn của học sinh, mẫu
vẽ phải đảm bảo có mĩ quan.
Phần quan sát chung: Giáo viên chuẩn bị hai miếng bìa, một miếng được đục lỗ hình
chữ nhật bao quanh cả hai mẫu và một miếng bìa đục thủng hình chữ nhật bao quanh vừa cái
bát. Mục đích của sự chuẩn bị này là khi đặt câu hỏi đối với học sinh về khung hình chung và
khung hình riêng của từng vật mẫu trông giống hình gì? Hình riêng của cái bát nhỏ bằng một

sinh vẽ trục đối xứng cho bài vẽ có mẫu cân đối, đối xứng, có chiều đứng như một số mẫu: cái
cốc, khối hộp, cái phích, cái bát…khi học sinh xác định được trục đối xứng thì việc vẽ mẫu sẽ
không bị đổ ngả đổ nghiêng.
+ Hướng dẫn học sinh vẽ phác bằng nét thẳng:
Phần này việc quan trọng làm thế nào để học sinh hiểu là vẽ nét thẳng thì hình vẽ chuẩn
và đẹp hơn là chúng ta vẽ nét cong ngay. Lúc này giáo viên sử dụng phương pháp trực quan
bằng thị phạm trên bảng để học sinh nhận thấy việc vẽ nét thẳng để tạo thành hình dáng của
mẫu sau đó chúng ta tẩy bỏ nét thẳng và chỉnh sửa hình sao cho gần giống mẫu thật theo hướng
quan sát của từng em theo từng góc độ.
+ Hướng dẫn vẽ chi tiết ( mô phỏng giống mẫu):
Vẽ chi tiết tức là học sinh sẽ vẽ những gì các em quan sát, so sánh, nhận xét và nhìn thấy
trên mẫu. Đích cuối cùng của bài vẽ theo mẫu đối với học sinh tiểu học là mô phỏng được mẫu.
Sau các bước trên giáo viên hướng dẫn học sinh cần bám sát vào các nét thẳng để hoàn thiện,
phần này giáo viên không nên giảng giải áp đặt, trên cơ sở mẫu giáo viên đặt câu hỏi tập trung
vào các bộ phận chi tiết của mẫu.
+ Hướng dẫn học sinh cách vẽ đậm nhạt:
Đậm nhạt là một khái niệm tương đối trừu tượng đối với học sinh học mĩ thuật ( phần này
áp dụng cho học sinh khối 4, 5). Cụ thể ở phần này giáo viên giảng giải cho học sinh biết đậm
nhạt trên mẫu do đâu mà có( do ánh sáng chiếu vào mẫu), có chổ ánh sáng chiếu được vào, có
chỗ không chiếu vào được và tạo ra ranh giới sáng ( có ánh sáng chiếu trực tiếp), tối ( không có
ánh sáng chiếu trực tiếp), trung gian ( có ánh sáng ít, chiếu gián tiếp), vẽ đậm nhạt cần cho vẽ
theo mẫu sẽ diễn tả được không gian của mẫu, biểu đạt được khối của vật mẫu như vậy khi vẽ
đậm nhạt bài vẽ sẽ nổi khối tức là trông giống như mẫu thật, nhìn bài vẽ hấp dẫn hơn, đẹp hơn.
Qua đó học sinh sẽ thích thú và hào hứng hơn với những bài vẽ mẫu lần sau.
* Hướng dẫn học sinh thực hành:
Như đã biết, phần thực hành chúng ta phải dành 2/3 tiết học để các em thể hiện bài, hơn
nữa đây lại là bài vẽ theo mẫu thì việc đó rất quan trọng. Việc hướng dẫn học sinh thực hành


cần chú ý những nội dung: Để học sinh quan sát và vẽ độc lập, giáo viên tham gia góp ý cho cá

học sinh phát huy những ưu điểm và khắc phục điểm yếu cho những bài vẽ theo mẫu lần sau.
II.3. Giải pháp, biện pháp.
* Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.
Cung cấp cho học sinh những kiến thức ban đầu về mĩ thuật và hình thành các kĩ năng
cần thiết để học sinh hoàn thành được các bài tập theo chương trình.
Giáo dục thị hiếu thẩm mĩ lành mạnh cho học sinh, giúp các em cảm nhận và vận dụng
những kiến thức về mĩ thuật vào học tập, sinh hoạt hằng ngày góp phần xây dựng môi trường
thẩm mĩ cho xã hội.
* Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.
Học mĩ thuật không nhằm đào tạo các em trở thành họa sĩ hay những người chuyên gia
làm nghề mĩ thuật mà học để các em biết yêu cái đẹp, có ý thức trân trọng giữ gìn, bảo vệ cái
đẹp của thiên nhiên, của con người tạo ra.
Lượng kiến thức đưa vào từng bài học chỉ dừng lại ở mức sơ đẳng và được chọn lọc theo
mức điển hình. Những lượng kiến thức này được lập lại nâng cao và phát triển dần ở các lớp
sau.
Mỗi phân môn đều có đặc điểm riêng nhưng tất cả đều nằm trong tổng thể chung là sử
dụng ngôn ngữ mĩ thuật cho các hoạt động thực hành và hoạt động này chiếm thời gian khoảng
20/35 phút của tiết học, những sản phẩm các em tạo ra luôn hướng đến mục tiêu chung là tạo ra
cái đẹp xung quanh mình ứng dụng cái đẹp vào cuộc sống, sinh hoạt hằng ngày.
Nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong phân môn vẽ theo mẫu, cũng như hiệu
quả của tiết học đạt kết quả cao giáo viên cần sử dụng linh hoạt các phương pháp như:
Phương pháp quan sát: Nhằm tạo cho các em thói quen quan sát làm giàu vốn biểu tượng
kinh nghiệm sống của các em đó là tiền đề của vẽ theo mẫu, từ những yêu cầu đó thường xuyên
giúp các em có thói quen quan sát hình thành trong trí nhớ giúp học sinh nhìn thấy cái hiện thực
trong tự nhiên, trong mẫu vẽ.
Phương pháp trực quan, giúp học sinh quan sát mẫu thực, nhận biết được độ đậm nhạt
của mẫu, nhận biết mẫu có hình khối gì? mẫu có mấy vật mẫu? Từ những yêu cầu đó thường
xuyên giúp các em có thói quen quan sát hình thành trong trí nhớ vốn kiến thức giúp học sinh
nhìn thấy cái hiện thực trong tự nhiên, trong xã hội để thể hiện chung trong bài vẽ của mình một
cách độc đáo, sáng tạo và riêng biệt.

từng bài học để tạo cho các em sự thích thú và say mê vẽ tranh.
Ví dụ: Bài vẽ cái ấm tích và cái bát. Giáo viên quy định cái ấm tích là “thò”, cái bát là
“thụt”. Trò chơi này áp dụng cho cả lớp cùng chơi.
* Luật chơi: Khi giáo viên hô “tích thò” nếu thấy đúng với quy định thì giơ tay lên theo (GV),
tiếp tục như vậy GV hô “bát thò” nếu HS thấy sai thì thụt tay xuống. Tương tự như vậy GV hô
vừa đúng quy định vừa không đúng đối với cả hai mẫu.
Trên đây là một trong số các trò chơi tôi thường áp dụng cho các tiết học vẽ theo mẫu
nhằm khắc sâu kiến thức hơn khi các em học vẽ theo mẫu, tạo được không khí vui tươi hồn
nhiên, nhẹ nhàng và sinh động trong tiết học, để cho học sinh nhận thấy tiết học vẽ mẫu không
khô cứng, và góp phần vào tiết dạy thành công hơn thông qua các trò chơi cho phân môn vẽ
theo mẫu.
* Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.
Qua nghiên cứu đề tài đã giúp tôi trang bị về kiến thức, rèn luyện tay nghề và tìm được
nhiều phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng dạy – học vẽ theo mẫu giúp học sinh phát
triển về trí, thể, mĩ từ đó các em biết sáng tạo, tìm tòi, hiểu biết về cái đẹp và có khả năng vận
cái đẹp vào cuộc sống.
II.3. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.
Qua thời gian giảng dạy và áp dụng phương pháp bản thân nhận thấy kết quả đạt được
một cách rất tích cực với tỷ lệ học sinh hoàn thành bài vẽ theo mẫu với những yêu cầu cụ thể và
thuyết phục. Đã áp dụng thành công cho các khối lớp. Dưới đây là một số thống kê so sánh qua
việc chưa áp dụng và đã áp dụng.
** Thời gian đầu chưa áp dụng được:
stt

khối

số HS

HS vẽ hình



33.3

3

3C

28

16

53.3

14

46.7

4

4A

32

14

56.0

12

48.0


đậm, nhạt
SL
%
Không vẽ
đậm, nhạt
Vẽ đậm, vẽ
nhạt
Vẽ đậm, vẽ
nhạt

** Thời gian đã áp dụng phương pháp mới.(Từ học kỳ II năm học 2012 - 2013 đến học kỳ I
năm học 2014 - 2015).

stt

Khối
lớp

số HS

HS vẽ hình
cân dối

HS vẽ hình
đúng tỷ lệ

%
56.7



17

56.7

3

3C

28

21

70.0

18

60.0

4

4A

32

22

88.0

20

Vẽ đậm, vẽ
nhạt
Vẽ đậm, vẽ
nhạt

Qua những kết quả đạt được và áp dụng thành công với học sinh các khối lớp, đây cũng
là nguồn động viên khích lệ bản thân hoàn thành tốt nhiệm vụ và luôn tìm ra những biện pháp,
cũng như áp dụng nhiều phương pháp một cách nhuần nhuyễn để phục vụ cho việc Dạy - Học
mĩ thuật nói chung và phân môn vẽ theo mẫu nói riêng ngày một tốt hơn.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.
Qua thực tiễn giảng dạy và nhiều năm đứng lớp, với tâm huyết và trách nhiệm của người
giáo viên đối với thế hệ tương lai của đất nước bản thân tôi luôn tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm
của những người đi trước cũng như qua nhiều phương tiện khác nhau để nâng cao trình độ
chuyên môn. Từ đó hoàn thành tốt nhiệm vụ của người giáo viên đồng thời tạo cho học sinh yêu
thích phân môn vẽ theo mẫu hơn, luôn sáng tạo để tiết học luôn được đổi mới về hình thức dạy,
học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh, tạo cho các em có cái nhìn và cảm nhận
về cái đẹp của cuộc sống và trong sinh hoạt hằng ngày.
Trong quá trình dạy học phân môn vẽ theo mẫu nói riêng và môn mĩ thuật nói chung tôi
rút ra một số kinh nghiệm trong giảng dạy như sau:
1/ Đối với nhà trường:


Cần đầu tư về cơ sở vật chất như phòng học mĩ thuật riêng.
Các đồ dùng dạy học cần thiết cho bộ môn mĩ thuật như: các vật mẫu tượng các hình
khối, giá vẽ, bản vẽ, tranh ảnh…
2/ Đối với giáo viên:
Bám sát mục tiêu bài dạy, dạy đúng đặc trưng bộ môn.
Nắm vững kiến thức bộ môn.( Bám chuẩn kiến thức kĩ năng)
Thực hiện đúng công văn chỉ đạo nội dung điều chỉnh dạy và học
Tham gia đầy đủ các lớp tập huấn chuyên đề, tham gia dự giờ môn Mĩ thuật tại các đơn vị

Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng học tập (Vở tập vẽ, giấy A4, bút chì, tẩy, bút dạ, sáp màu…)
4. Đối với phụ huynh:
Phối hợp với phụ huynh học sinh quan tâm, giúp đỡ các em việc học tập ở nhà cũng như
việc chuẩn bị bài, đồ dùng học tập khi đến lớp. Không để tình trạng các em đến lớp không mang
đầy đủ đồ dùng học tập...
Vâng! Tôi, các bạn, chúng ta là những nhà giáo luôn mang trong mình trọng trách lớn lao
của sự nghiệp trồng người. Chúng ta thường xuyên học tập, rèn luyện, tu dưỡng để xứng đáng là
những nhà giáo hội tụ cả nét đẹp tâm hồn và trí tuệ để góp phần xây dựng nền giáo dục huyện
nhà ngày càng phát triển hơn.
Trên đây tôi đã mạnh dạn đưa ra Một số Phương pháp dạy học sinh vẽ theo mẫu hiệu quả bậc
tiểu họccó hiệu quả. Bằng những kinh nghiệm thực tế giảng dạy của bản thân, rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến của BGH và các đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện và áp dụng
trong dạy học mĩ thuật nói chung và loại bài vẽ theo mẫu nói riêng ngày một hiệu quả hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Eana, Ngày 25 tháng 11 năm 2014
Người viết
Lê Thị Lý


NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM SKKN
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………

II.3. Giải pháp, biện pháp………………………………………………………………12
* Mục tiêu của giải pháp, biện pháp………………………………………………………12
* Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp…………………………………12
* Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp…………………………………………….....13
* Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu…………………………13
II.3. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu….14
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ…………………………………………………..15
1/ Đối với nhà trường……………………………………………………………………..15
2/ Đối với giáo viên ……………………………………………………………………….15
3/ Đối với học sinh.………………………………………………………………………..16
4/ Đối với phụ huynh:……………………………………………………………………..16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status