I.ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ bao đời nay gia đình luôn luôn được gắn với những hình ảnh đẹp và thiêng
liêng nhất. Bởi đó không chỉ là nơi mà ta sinh sống mà còn chứa trong đó bao nhiêu
sự yêu thương, chăm sóc nâng niu dìu dắt của những con người đã nâng bước ta
ngày hôm nay. Thế nhưng một điều đáng buồn hiện nay là những hình ảnh đẹp của
gia đình, những giá trị thiêng liêng trong mỗi gia đình đang có nguy cơ bị đổ vỡ, có
những đứa trẻ không còn kể về gia đình chúng với biết bao tình cảm yêu thương mà
thay vào đó là những nỗi sợ sệt, những vết thương thể xác hay cao hơn là những vết
thương về tinh thần để chúng lớn lên mà không được biết tới thế nào là mái ấm gia
đình thật sự, bởi vì một lẽ những đứa trẻ đó đang hoặc đã từng là nạn nhân của nạn
bạo lực trong gia đình hiện nay.
Việt Nam là một trong những thành viên đầu tiên tham gia Công ước Quốc tế về
Quyền trẻ em, nhưng tình trạng trẻ em bị bạo hành trong gia đình vẫn còn xảy ra ở
mức độ khá nghiêm trọng. Các vụ việc bạo hành của một số bậc cha mẹ và người
thân gây ra cho trẻ em đã được phát hiện và đưa lên báo chí, khiến dư luận xã hội
rất căm phẫn, đồng thời xã hội cũng lo ngại về sự xuống cấp chuẩn mực đạo đức.
Một câu hỏi được đặt ra, vậy Vấn đề bảo vệ quyền trẻ em đã thực sự được quan tâm
đúng mực hay chưa? Nhà nước đã làm gì để các quyền của trẻ em thực sự được đảm
bảo thực hiện trên thực tế? Và chúng ta cần làm gì để nâng cao hiệu quả của công
tác bảo vệ quyền trẻ em?...
Những vấn đề này sẽ được đưa ra trao đổi và thảo luận trong bài tiểu luận của
nhóm 7: “Bạo lực trẻ em trong gia đình và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em”.
1
B.NỘI DUNG
I. BẠO LỰC TRẺ EM TRONG GIA ĐÌNH
1. Đánh giá chung:
Theo nhiều nguồn thống kê số liệu thì tình trạng bạo lực trẻ em trong gia đình
hiện nay đang gia tăng tới mức báo động. Theo báo cáo của Bộ LĐ TB&XH về việc
2. Thực trạng bạo lực trẻ em trong gia đình
Bạo lực trẻ em thể hiện ở nhiều dạng, nhưng chủ yếu là 3 dạng sau: Bạo lực về
thể xác, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục ở trẻ em.
2.1. Bạo lực về thể xác
Theo Liên Hiệp Quốc: “Bạo lực thể xác là bất cứ hành vi gây thương tích bất kì
thể chất hoặc bất kì chỗ nào trên thân thể mà không kể mức độ “- Theo tài liệu của
Viện Khoa học xã hội: “Bạo lực thể chất là hành vi cưỡng bức thân thể, đánh đập
nhằm gây thương tích cho nạn nhân hoặc hạn chế nhu cầu thiết yếu như: ăn, uống,
ngủ…”
Trên thực tế, bạo hành trẻ em về thể xác trong thời gian qua đã gia tăng, không
những gia tăng về số vụ, mà còn gia tăng về mức độ thương tích. Những người trong
gia đình đánh đập bạo lực con cái về thể xác ngày càng sử dụng những hung khí có
tính chất nguy hiểm như dao, kìm, búa, với tính chất nguy hiểm của hành vi ngày
càng cao. Điển hình là các vụ cháu bé Châu Văn Phúc Thiên, 13 tuổi đang sinh
sống tại tỉnh Ninh Thuận bị chính cha mẹ ruột của mình dùng dây xích trói, buộc
vào cửa và bạo hành dã man vào đúng ngày 1/6 ngày Quốc tế Thiếu nhi mới đây
đang khiến dư luận hết sức bất bình. Nhìn những thương tật trên khắp cơ thể cháu
Thiên, người ta không khỏi bàng hoàng về hành vi thú tính của những bậc làm cha,
làm mẹ với chính đứa con mình dứt ruột đẻ ra. Chuyện đau lòng đó cũng xảy ra với
bé Diễm Quỳnh, 10 tuổi ở Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội. Bé đã phải nhập viện cấp
cứu sau khi bị chính bố đẻ của mình là Đặng Quốc Hùng đánh đập tàn nhẫn. Trước
đó, ngày 16/11/2011, TAND tỉnh Thanh Hóa đã xét xử sơ thẩm và tuyên phạt bị cáo
Vũ Văn Quang (31 tuổi, xã Tế Thắng, huyện Nông Cống) 20 năm tù về tội Giết
người. Quang là kẻ tàn nhẫn khi tẩm xăng thiêu sống bé Linh - đứa con trai bé bỏng
mới 3 tuổi của mình vào tháng 4/2011 khiến không ít người vô cùng phẫn uất.
Những đứa trẻ bị bạo lực thể xác thường để lại nhiều di chứng trên thân thể
thậm chí nhiều đứa trẻ con mang dị tật suốt đời .
Nỗi đau xác thịt trên cơ thể có thể liền da, phai mờ theo năm tháng nhưng những
“vết sẹo” tâm hồn thì không dễ dàng phai mờ. Thạc sĩ tâm lý Lê Thị Ngọc Bích
nhận định: “Không phải trực tiếp bị đánh đập, chửi mắng, mà các em nhỏ chỉ cần
phải chịu bao nhiêu nỗi đau tinh thần, bao nhiêu tỉ lệ thương tích. Thực tế hiện nay
rất nhiều trẻ em đã là đối tượng để các bậc phụ huynh đem ra chì chiết, mắng mỏ là
nơi để họ trút bỏ những bực dọc, căng thẳng trong cuộc sống cũng như trong công
việc. Việc thường xuyên mắng mỏ, thậm chí là hét vào mặt con mình : Mày là đồ vô
tích sự, vì mày mà tao phải thế này thế kia, hay thật sự thất vọng về mày.., có thể bắt
gặp hằng ngày trong cuộc sống. Nhiều cha mẹ biến con cái của mình thành trọng tài
của những cuộc cãi vã. Cuối cùng, ngay cả họ cũng không hiểu vì sao mà những đứa
con của mình bỗng nhiên nổi cáu thất thường, đua đòi hay dần dần tự kỉ. Các em,
khi gặp phải những vấn đề trên hầu như phải tự giải quyết và phải nhờ tới tư vấn và
hỗ trợ trẻ em.
4
2.3. Bạo lực tình dục ở trẻ em
Lạm dụng tình dục ở trẻ em là hành vi lạm dụng một đứa trẻ thông qua bất cứ
hành động nào để kích dục đứa trẻ hoặc sử dụng một đứa trẻ để kích dục một người
khác.
Xâm hại tình dục trẻ em được coi là hình thức lạm dụng cao nhất và phức tạp
nhất trong các hình thức xâm hại trẻ em. Tình trạng trẻ em đang bị bạo hành, đặc
biệt là tình trạng lạm dụng tình dục ở trẻ em ở nước ta thời gian qua đã trở thành
mối quan tâm sâu sắc của toàn xã hội. Lạm dụng, xâm hại tình dục trẻ em ở n ước ta
hiện nay đang ở mức báo động và ngày càng trở nên phức tạp. Tình trạng xâm hại
tình dục không chỉ xảy ra đối với những bé gái mà còn xảy ra đối với cả những bé
trai. Nguy hại hơn nữa, có tới 70% nạn nhân bị xâm hại bởi người quen, thậm chí
chính là người thân, máu mủ ruột rà. Mặc dù việc loạn luân chiếm tỉ lệ rất thấp
nhưng nó gây ảnh hưởng rất lớn tới truyền thống đạo đức gia đình và an toàn xã hội.
Nó đã gióng lên hồi chuông báo động về sự suy đồi đạo đức. Có những vụ việc đã
trở thành nỗi kinh hoàng và gây bức xúc mạnh mẽ trong dư luận xã hội như: Bố đẻ
hiếp dâm con gái nhiều lần dẫn tới mang thai; bác ruột hiếp dâm cháu gái; mẹ đẻ giữ
lạm dụng tình dục. Tuy nhiên, những biểu hiện thường gặp bao gồm những biểu
hiện thơ ấu hóa ( ví dụ: trẻ có thể mút tay hoặc đái dầm mặc dù đã lớn), rối loạn giấc
ngủ, chán ăn, xấu hổ, mặc cảm tội lỗi, có những cơn hốt hoảng, rối loạn ở một số
tình huống đặc trưng nào đó. Lớn lên, họ có thể mắc vào con đường tội lỗi như
nghiện rượu, nghiện ma-túy, trở thành gái mại dâm,..và rất nhiều người gặp khó
khăn trong đời sống tình dục sau này.
3. Hệ quả, nguyên nhân, biện pháp phòng chống bạo lực trẻ em trong gia
đình
3.1. Hệ quả từ những vụ bạo lực trẻ em trong gia đình
Bạo lực gia đình đối với trẻ em là vi phạm nghiêm trọng quyền con người, danh
dự và nhân phẩm của mỗi cá nhân. Nó làm xói mòn đạo đức, mất tính dân chủ xã
hội và ảnh hưởng nghiêm trọng tới thế hệ tương lai.
Trước hết bạo lực gia đình đối với trẻ em sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng đối
với các em về mặt thể xác, những đau đớn về thân thể do bị hành hạ, đánh đập. Sau
nữa đặc biệt nghiêm trọng là sự phát triển không tốt trong nhân cách và tâm lí của
trẻ. Nếu không được giáo dục và uốn nắn trẻ sẽ có tính xã bạo lực về sau. Theo các
nhà tâm lí phần lớn những người có tính bạo lực đều xuất thân trong một gia đình có
bạo lực gia đình, không hạnh phúc. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, bạo lực gia đình
khiến trẻ em khủng hoảng, sợ hãi, mất ngủ, thiếu tự tin, thất vọng, rối nhiễu tâm lý,
trầm cảm... Bạo lực gia đình cũng ảnh hưởng xấu tới kết quả học tập, kỹ năng sống,
sự hòa nhập xã hội, năng lực giải quyết vấn đề... của trẻ em.
Bạo lực gia đình ở Việt Nam cũng làm gia tăng số trẻ em vi phạm pháp luật. Số
liệu thống kê của Viện KSND tối cao 2008 cho thấy 71% trẻ vị thành niên phạm
pháp là do không được quan tâm chăm sóc đúng mức. Nguyên nhân phạm tội của trẻ
vị thành niên xuất phát từ gia đình: 8% trẻ phạm tội có bố mẹ ly hôn, 49% phàn nàn
6
về cách đối xử của bố mẹ. Theo số liệu điều tra 2.209 học viên các trường giáo
dưỡng, có tới 49,81% trong số này sống trong cảnh bị đối xử hà khắc, thô bạo, độc
lực, đồi truỵ qua nhiều kênh, đặc biệt là qua Internet … dẫn đến các hành vi, hành
7
xử tiêu cực, bạo lực mà nạn nhân thường là trẻ em và lẽ tất nhiên sẽ tác động tới tư
tưởng, đạo đức, lối sống, nhân cách của trẻ em.
Gia đình nghèo, kinh tế khó khăn cũng là nguy cơ dẫn tới bạo lực gia đình vì
kinh tế khó khăn sẽ gây ra nhiều áp lực, căng thẳng, bế tắc dẫn đến mâu thuẫn trong
gia đình, hậu quả trẻ em phải hứng chịu.
Yêu đương sớm, quan hệ tình dục bừa bãi có thai ngoài ý muốn cũng là một
nguyên nhân dẫn tới tội ác (giết chết, chối bỏ, hành hạ trẻ sơ sinh). Có người nói
tình trạng này đang ở mức ″Báo động đỏ″, nó cảnh báo một vấn đề xã hội nghiêm
trọng, hệ quả của suy thoái đạo đức và lối sống của giới trẻ.
Bất bình đẳng giới cũng là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự loại bỏ thai nhi khi
biết là gái, vứt bỏ trẻ sơ sinh là gái và bạo lực với trẻ em gái.
Như vậy ta có thể thấy rằng, hậu quả của nạn bạo lực để lại đối với trẻ em là vô
cùng nghiêm trọng.
3.3. Biện pháp phòng chống bạo lực trẻ em trong gia đình
Để giảm nạn bạo hành này đầu tiên chúng ta cần can thiệp để trẻ em được
hưởng đầy đủ các quyền cơ bản như Công ước quốc tế về quyền trẻ em đã quy định.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật để người dân biết việc
đánh đập trẻ em là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên để thay đổi thói quen “Thương cho
roi cho vọt” không dễ làm được trong một sớm một chiều mà cần một quá trình lâu
dài.
Trong hệ thống pháp luật của chúng ta vẫn còn bộc lộ những lỗ hổng lớn cần
được khắc phục. Chúng ta thiếu hẳn một cơ chế phát hiện kịp thời nạn bạo hành trẻ
em để xử lý. Điều này có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chính là do hành
vi bạo hành trẻ em có độ “ẩn” tương đối cao, khó phát hiện, dễ lẫn với những hành
vi mang tính giáo dục thông thường khác. Trong khi đó, nạn nhân là trẻ em nên khả
con người của mình trước pháp luật.” Trẻ em cũng là con người, nên cũng được
hưởng tất cả những quyền cơ bản của một con người, quyền sống, quyền tự do,
quyền được mưu cầu hạnh phúc…Hơn thế nữa Theo Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục
trẻ em Việt Nam thì trẻ em là những người dưới 16 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện
cả về thể chất lẫn tinh thần, cần sự bảo vệ chăm sóc giáo dục của người lớn . Trẻ em
được hưởng quyền ở tất cả các giai đoạn trong cuộc đời như: quyền được sống, được
phát triển và được bảo vệ…
Các quyền của trẻ em là những quyền cơ bản, chính đáng, là một phần trong số
các nhu cầu, thiết yếu với tất cả mọi người. Mọi trẻ em đều có các quyền như nhau.
Đòi hỏi và được công nhận. Qui định nghĩa vụ rõ ràng. Bao gồm: Nhóm quyền sống
còn, nhóm quyền bảo vệ, nhóm quyền phát triển, nhóm quyền tham gia. Những
quyền này cần được công nhận và được đảm bảo trên thực tế ở Việt Nam nói riêng
và ở bất kì quốc gia nào trên thế giới.
9
2. Liên hệ thực tế công tác bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam
- Hoạt động nổi bật:
Việt Nam là nước thứ 2 trên thế giới và nước đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn công
ước về Quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc (năm 1990) và chưa đầy 1 năm sau đã ban
hành Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (Năm 1991) và trong hơn 20 năm
qua nước ta đã đề ra và thực hiện hai Chương trình hành động Quốc gia vì trẻ em
giai đoạn 1991 – 2000 và giai đoạn 2001 – 2010 cũng nhiều chính sách, văn bản
hướng dẫn các tiêu chuẩn, quy chuẩn, chương trình mục tiêu, các dự án xây dựng tổ
chức bộ máy, bố trí đào tạo cán bộ quản lý, xây dựng và phát triển các tổ chức, cung
cấp dịch vụ liên quan nhằm mục tiêu bảo vệ, chăm sóc trẻ em.
Hiến pháp năm 1992, bản Hiến pháp của thời kì đổi mới, đánh dấu một mốc
quan trọng trong việc xác định một cách rõ ràng, toàn diện các quyền cơ bản của
công dân, thừa nhận vấn đề quyền con người, trong đó có quyền trẻ em. Bản Hiến
chủng mở rộng đạt mức cao giúp nước ta thanh toán bệnh uốn ván bà mẹ và trẻ sơ
sinh vào năm 2005 và bại liệt vào năm 2009. Trẻ em được thực hiện quyền học tập
của mình, đa số trẻ em trong độ tuổi được đi học và hưởng nền giáo dục tốt hơn.
Cách tiếp cận dựa trên các quyền cơ bản của trẻ em ngày càng được chú trọng. Việt
Nam cũng quan tâm một cách sâu sắc đến việc xây dựng môi trường sống an toàn,
lành mạnh cho trẻ em và tích cực trong các hoạt động ngăn ngừa các nguy cơ xâm
hại trẻ em.
-Những hạn chế còn tồn đọng trong công tác bảo vệ quyền trẻ em:
Mặc dù đã đạt được những kết quả to lớn trong công tác bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục, thực hiện quyền trẻ em, nhưng trên thực tế, việc thực hiện quyền trẻ em
chưa được tốt, chúng ta vẫn còn những bất cập, hạn chế và thách thức nhất định liên
quan đến việc hiện thực hóa đầy đủ và nâng cao không ngừng khả năng thụ hưởng
các quyền con người của trẻ em. Một trong những tồn tại và hạn chế lớn nhất trong
việc bảo vệ quyền trẻ em là do điều kiện kinh tế - xã hội đất nước còn nhiều hạn
chế, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và ở nông thôn đã
ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của trẻ em. Về cơ sở vật chất có thể thấy hệ
thống dịch vụ y tế ở nhiều địa phương còn nghèo nàn, lạc hậu, chưa đáp ứng yêu cầu
chăm sóc sức khỏe của trẻ em. Công tác y tế học đường mặc dù có chỉ đạo nhưng
chưa thực hiện được nhiều. Phần lớn các trường học còn thiếu các công trình cấp
nước sạch và công trình vệ sinh có nhưng không đáp ứng được nhu cầu của trẻ em.
Hệ thống giáo dục và chất lượng giáo dục, đào tạo còn chưa đồng bộ, chưa hoàn
thiện và chưa thực sự tạo ra cơ hội tiếp cận bình đẳng trong thực hiện quyền được
học tập của trẻ em. Bên cạnh đó, hệ thống cung cấp dịch vụ phúc lợi xã hội cho trẻ
em còn hạn chế, đặc biệt là ở một số vùng khó khăn…
Trên thực tế, một số quyền của trẻ em chưa được thực hiện tốt, một số chỉ
tiêu đến năm 2010 về bảo vệ trẻ em của Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em
Việt Nam giai đoạn 2001-2010 và Chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng
trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc,
trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004-2010 có khả năng không đạt, đặc
biệt là chỉ tiêu giảm số lượng trẻ em bị xâm phạm tình dục, bị lạm dụng sức lao
bảo vệ đặc biệt. Thiếu các quy trình tư pháp thân thiện với trẻ em. Công tác truyền
thông, giáo dục pháp luật về bảo vệ, chăm sóc trẻ em chưa sâu rộng, chưa thường
xuyên liên tục và hiệu quả tác động thay đổi hành vi về công tác bảo vệ, chăm sóc
trẻ em còn hạn chế; phương pháp tiếp cận dựa trên quyền trẻ em chưa được thực
hiện rộng rãi, sự tham gia của trẻ em chưa thực sự được phát huy. Ý thức chấp hành
pháp luật về bảo vệ, chăm sóc trẻ em của một bộ phận cán bộ, cha mẹ, giáo viên và
công dân chưa tốt; kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc trẻ em của nhiều gia đình và
12
kỹ năng tự bảo vệ của trẻ em chưa đầy đủ và cập nhật. Nguồn lực đầu tư còn hạn
chế và phân tán.
Đây là thách thức cho việc thực hiện các mục tiêu Bảo vệ trẻ em và thực hiện
quyền trẻ em, đòi hỏi những nỗ lực mạnh mẽ hơn nữa của các chủ thể nghĩa vụ
trong việc bảo đảm và thực thi đầy đủ quyền cho trẻ em.
-Liên hệ công tác bảo vệ quyền trẻ em ở một số nước trên thế giới: Ở Australia
quy định rất cụ thể về trách nhiệm của nhân viên công tác xã hội trong việc phát
hiện trẻ em bị xâm hại, bạo lực hay sao nhãng và được phép áp dụng các biện pháp
can thiệp. Ví dụ một trẻ em ở độ tuổi quá nhỏ (dưới 8 tuổi) bị bỏ một mình ở sân
chơi cho trẻ em hay ở hành lang của khu dân cư không có người đi kèm, nhân viên
công tác xã hội phải tìm cách đưa cháu bé về nhà hoặc cơ sở chăm sóc tạm thời và
phải tìm hiểu vì sao trong trường hợp này, trẻ không có người quản lý. Nhân viên
công tác xã hội cũng sẽ thu xếp các chuyến vãng gia thăm cha mẹ, người chăm sóc
trẻ để tìm hiểu vấn đề và tư vấn, nếu cách ứng xử hay hành vi của bố mẹ, người
chăm sóc tỏ ra không quan tâm đến con cái có thể bị kết tội sao nhãng trẻ em, sẽ bị
phạt tiền, thậm chí bị tước quyền chăm sóc trẻ một thời gian tuỳ theo mức độ sao
nhãng. Luật này cũng quy định rất cụ thể trách nhiệm của giáo viên, khi phát hiện
trên cơ thể trẻ có dấu hiệu bị bạo lực phải tìm hiểu nguyên nhân và thông báo cho
nhân viên công tác xã hội và có biện pháp can thiệp kịp thời. Hay tại Cộng hoà liên
để đóng góp cho xã hội lành mạnh hơn, làm cho xã hội bớt xảy ra những hiện tượng
như trên thì rất nhiều điều phải bàn.
Người đứng đầu ở các địa phương, cán bộ, đảng viên, lãnh đạo cấp ủy, chính
quyền cũng thực sự chưa thực hiện tròn trách nhiệm của mình trong công tác này.
Chính vì vậy, khi xảy ra các vụ bạo hành nghiêm trọng rồi chính quyền mới biết. Đó
rõ ràng là trách nhiệm quản lý địa bàn của chính quyền.
Một giải pháp cũng không kém phần quan trọng cần phải nêu ra đó là Nâng cao
hơn nữa hiệu quả tuyên truyền về bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Các cơ quan truyền
thông, thông tấn báo chí phải bám sát nội dung, yêu cầu của công tác tuyên truyền,
chuyển tải nhiều nội dung liên quan đến công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em như phổ
biến chính sách, pháp luật; quan điểm, định hướng và nội dung cơ bản của công tác
bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015; những định hướng kiến nghị sửa đổi, bổ sung
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; phòng chống lao động trẻ em, bảo vệ trẻ
em trước nạn bạo hành, xâm hại tình dục; giới thiệu các mô hình, điển hình tốt trong
công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em; giáo dục kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc trẻ
em; tăng cường sự tham gia của trẻ em vào các hoạt động của gia đình, nhà trường
và xã hội... Báo chí cũng cần tích cực hơn nữa trong công tác chất vấn, phản biện
trách nhiệm và hành động của các cơ quan, tổ chức liên quan trong việc phòng ngừa,
can thiệp bảo vệ trẻ em; tăng cường mở các diễn đàn, các mục hỏi đáp tư vấn giữa
những người thực hiện chính sách, của gia đình và bản thân các em với các cơ quan
quản lý và các chuyên chuyên gia về lĩnh vực này…
14
C.KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Bạo lực trẻ em, đặc biệt bạo lực trẻ em trong gia đình vốn không phải là vấn
đề mới mẻ, nhưng rõ ràng, nó vẫn luôn là vấn đề nóng gây bức xúc cho dư luận xã
hội. Vấn đề bạo lực trẻ em trong gia đình đổ vỡ cần phải được xét ở nhiều góc độ
bởi đó không phải là sự ngẫu nhiên mà là kết quả của quá trình tích tụ mâu thuẫn gia
1.Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010).
2. Công ước Quốc tế về quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc.
3.Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007.
16
MỤC LỤC
17