skkn gia đình với vấn đề giáo dục trẻ trong độ tuổi thiếu niên ở xã, huyện - Pdf 40

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong ý thức cộng đồng của các dân tộc Việt Nam, gia đình luôn được coi là
tổ ấm, là môi trường đầu tiên phát sinh và nuôi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, tạo
nên nhân cách người Việt Nam. Gia đình có một vị trí quan trọng trong cuộc đời
của mỗi con người. Trong bất kì xã hội nào, gia đình luôn giữ một vai trò, vị trí
quan trọng trong tiến trình phát triển của xã hội. Ngày nay, gia đình đã trở thành
mối quan tâm hàng đầu của toàn nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Quan
tâm đến gia đình là đúng, vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt
thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt hơn, hạt nhân của xã hội là gia
đình”. Trong tiến trình vận động và phát triển của lịch sử nhân loại, gia đình với tư
cách là một thiết chế xã hội đặc thù có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn và bảo
vệ các giá trị văn hóa của dân tộc, gia đình là nơi tiếp nhận, kế thừa và chuyển giao
những truyền thống tốt đẹp của dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những biến
đổi về cơ cấu và quy mô của gia đình luôn gắn liền với những biến đổi về kinh tế –
xã hội. Trong những năm cuối thế kỉ 20, gia đình ở nước ta và nhiều nước trong
khu vực có sự thay đổi nhanh chóng, những thay đổi ấy được thể hiện qua tỉ lệ ly
hôn gia tăng, không ít gia đình tan vỡ, hầu hết các giá trị gia đình đang bị thử thách
trước những thay đổi kinh tế – xã hội. Ở nước ta mặt trái của nền kinh tế thị trường
XHCN đã làm ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của thế hệ trẻ đặc biệt là lớp thanh
thiếu niên.
Bảo vệ thế hệ trẻ - đó là trách nhiệm không chỉ của toàn xã hội mà trước hết
là của mỗi gia đình.
Là giáo viên giảng dạy bậc THCS, đối tượng là thanh thiếu niên, các em có
đặc điểm tâm sinh lí phát triển – lứa tuổi đang tập làm người lớn tôi nhận thấy: các
em dễ bị ảnh hưởng của các tác động xã hội. Để làm tốt công tác giáo dục trên địa
bàn, mỗi nhà trường rất cần đến sự phối hợp của gia đình trong việc giáo dục trẻ.
1


Qua học tập, nghiên cứu lí luận Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
vấn đề Gia đình, đồng thời qua thực tiễn ở địa phương, xuất phát từ môi trường

là sự truyền nòi giống. Những trật tự xã hội, trong đó những con người của một
thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống, là do hai loại sản
xuất đó quyết định; một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là
do trình độ phát triển của gia đình” (C.Mác và PH.Ăngghen: Toàn tập, NXB
CTQG, H, 1996, T21, tr 44).
Sự ổn định và phát triển của gia đình có ý nghĩa rất quan trọng cho sự ổn
định và phát triển của xã hội và quốc gia. Quan niệm biện chứng đó được thể hiện
cô đọng qua câu nói: “Dân giàu thì nước mạnh”, “Nước mất thì nhà tan”.

3


Như vậy gia đình gắn liền với sự phát triển của xã hội, nó giữ vai trò quyết định
trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế, văn hoá và ổn định xã hội. Giữa gia
đình và xã hội có mối quan hệ gắn bó hữu cơ.
Trước hết, gia đình có vai trò đối với sự phát triển kinh tế, mỗi gia đình tự
sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. Họ tự làm ra từ các sản phẩm đơn giản, đến
sản phẩm phức tạp, tinh xảo, tuỳ theo nhu cầu và sự phát triển của xã hội đòi hỏi.
Các nhà máy, xí nghiệp, doanh nghiệp tư nhân hay trang trại,..... cũng đều do các
thành viên của từng gia đình tham gia dưới sự điều tiết của nhà nước. Có thể nói,
không có sự tham gia sản xuất của từng cá nhân, của từng gia đình thì xã hội không
thể tồn tại và phát triển được. Mặt khác gia đình còn là nơi tiêu thụ các sản phẩm.
Vì vậy nó thúc đẩy nền kinh tế của xã hội phát triển.
Về mặt văn hoá, nền văn hoá của một dân tộc, một quốc gia hình thành và
phát triển đều bắt nguồn từ nền văn hoá của mỗi gia đinh, tất nhiên có sự loại trừ
những cái không phù hợp, chắt lọc những cái đẹp từ những tinh hoa đó, nó bồi đắp
nên nền văn hoá của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Đứng về góc độ văn hoá thì mỗi
gia đình là một nhóm nhỏ tâm lí xã hội được thông qua các mối quan hệ huyết
thống đã phản ánh trình độ văn hoá của xã hội.
Gia đình góp phần cho sự phát triển của xã hội, đồng thời sự phát triển mọi

- Chức năng sinh đẻ – tái sản xuất ra con người là chức năng đặc thù nhất của
gia đình. Chức năng này đáp ứng nhu cầu tình cảm riêng rất tự nhiên của cá
nhân về sinh con đẻ cái, đồng thời mang ý nghĩa chung lớn lao là cung cấp
những công dân mới, bảo đảm sự phát triển liên tục và trường tồn của loài
người. Việc sinh đẻ diễn ra ở từng gia đình, nhưng lại quyết định mật độ dân
cư của quốc gia và quốc tế – một yếu tố vật chất cấu thành của tồn tại xã hội,
liên quan chặt chẽ đến phát triển mọi mặt của đời sống xã hội.
Tuỳ theo từng vùng, vấn đề sinh đẻ được khuyến khích hay hạn chế về số
lượng. Nhưng, giảm tốc độ tăng dân số, nhằm nâng cao chất lượng sống là hướng
5


phấn đấu của nhiều quốc gia hiện nay. Điều đáng lưu ý là việc sử dụng ngày càng
nhiều thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại tác động vào chức năng sinh đẻ
của gia đình đã đem lại nhiều kết quả tích cực, nhưng cũng gây ra nhiều vấn đề
phức tạp và tiêu cực.
Trong gia đình mới, coi trọng chức năng sinh đẻ của gia đình là phải trực
tiếo quan tâm đến điều kiện vật chất và tinh thần thuận lợi, sử dụng hợp lí các
thành tựu khoa học – công nghệ cho việc mang thai và sinh nở tốt hơn cho các bà
mẹ. Sinh đẻ có kế hoạch là một nội dung trong toàn bộ kế hoạch phát triển kinh tế
– xã hội của xã hội XHCN. Mục đích sinh đẻ có kế hoạch là nhằm thực hiện việc
tái sản xuất con người phù hợp và hài hoà với những điều kiện đảm bảo cụ thể, để
lớp người mới ra đời, có khả năng phát triển trí lực và thể lực, đưa lại niềm vui và
hạnh phúc cho gia đình.
-

Chức năng kinh tế. Khi hình thành gia đình cá thể hôn nhân một vợ
một chồng thì chức năng kinh tế đóng vai trò là cơ sở cho các chức năng
khác của gia đình.
Tất nhiên, cùng với quá trình lực lượng sản xuất xã hội hoá, ở trong từng

tạo thuận lợi cho gia đình nghỉ ngơi, hưởng thụ hợp lí và chính đáng các thành
quả lao động của mình. Động viên các gia đình nâng cao thu nhập, trên cơ sở
đó thực hiện tiêu dùng lành mạnh, nâng cao kiến thức khoa học cho công việc
nội trợ, sử dụng thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại để nâng cao chất
lượng cuộc sống.
- Chức năng nuôi nấng, giáo dục
“Con người muốn trở thành con người cần phải có giáo dục”. Đó là
một chân lí đã được đúc kết trong lịch sử phát triển của nhân loại. Từ nhỏ,
con người không được giáo dục, lớn lên không khác gì cây hoang, cỏ dại ở
ngoài đồng và nếu không được sống trong môi trường gia đình và xã hội thì
cũng không khác mấy các loài động vật. Trong lịch sử hơn 30 trường hợp trẻ
con bị lạc vào rừng được sói nuôi dưỡng đã trở thành “người sói”. Nhà
7


truyền giáo Xinh (ấn độ) đã phát hiện ra trong một đàn Sói có hai bé gái là
Amala và Camala đã được cứu sống. Nhưng chẳng bao lâu sau Amala bị
chết, còn Camala được bà nuôi dưỡng thêm 9 năm, lúc đầu chỉ có thể đi bằng
4 chân, ban đêm đi lang thang, hú vang như chó sói, dần dần đi được bằng
hai chân, tập uống nước bằng cốc. Nhưng dù kiên trì, chăm sóc, dạy dỗ,
nhưng bà cũng chỉ làm cho “cô sói” biết 30 từ, không thể thêm nữa.
Tất cả những trường hợp của “đứa trẻ hoang dã” dù sau khi được trở
lại với xã hội người, đều có kết quả tương tự, khó lòng trở thành một con
người thực thụ.
Vậy, quá trình nuôi dưỡng, giáo dục con người bắt đầu từ trong bào
thai của mẹ (thai giáo) và khi cất tiếng chào đời là ở trong môi trường gia
đình. Sứ mệnh nuôi dưỡng, giáo dục đứa trẻ từ khi mới ra đời không thể
giao phó, chuyển nhượng cho ai có trách nhiệm hơn, tốt đẹp hơn là gia đình.
Gia đình là “trường học” đầu tiên đối với cuộc đời của mỗi con người. Từ
khi cất tiếng khóc chào đời, việc nuôi dưỡng để phát triển thể chất, chống

chân chính tương lai. Thực chất của việc tổ chức giáo dục này là xã hội hoá
đứa trẻ, biến sinh thể tự nhiên thành một thực thể có khả năng hoà nhập,
thích ứng, sống, học tập, làm việc theo yêu cầu biến đổi của xã hội. Quá trình
xã hội hoá đứa trẻ trong gia đình về đại thể diễn ra như sau:
+ Ngay lúc còn thai nhi, đặc biệt từ thuở lọt lòng, đứa trẻ đã được tiếp xúc
với nền văn hoá gia đình mà tiêu biểu là trân trọng vị trí, công lao của cha
mẹ(“Công cha như núi Thái Sơn; Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy
ra”), yêu thương quý mến những người có quan hệ máu mủ ruột rà: ông,
bà, anh em, chú bác, cô dì,....(một giọt máu đào hơn ao nước lã; anh em
như chân với tay); đề cao tình nghĩa vợ chồng, đạo lí giữa cha mẹ và con
cái; giữa gia đình và họ hàng, làm xóm, cộng đồng (một con ngựa đau cả
tàu bỏ cỏ); tiếp thu những kinh nghiệm về mọi mặt, nhất là về nghề
9


nghiệp, về lao động sản xuất (đời cha cho chí đời con, đẽo vuông rồi lại
đẽo tròn mới nên...., hoặc: nước, phân, cần, giống,....)
+ Từ nền văn hoá gia đình, đứa trẻ càng trưởng thành càng tiếp xúc với
nền văn hoá rộng lớn hơn, phong phú hơn qua giao tiếp, học tập, lao
động, vui chơi giải trí, hoạt động xã hội, hoạt động tập thể,.....Nó dần dần
chiếm lĩnh một cách chọn lọc, sáng tạo nền văn hoá xã hội ở mức độ cần
thiết, nhất định.
+ Từ đứa trẻ ở trong gia đình biết vị trí của mình là con, là cháu, người
anh, người chị dần dần ý thức được là người công dân tương lai của đất
nước với những nghĩa vụ, quyền lợi được xã hội chấp nhận.
Tất nhiên, quá trình xã hội hoá đứa trẻ không hoàn toàn do giáo dục gia
đình quyết định. Giáo dục gia đình – cha mẹ với tư cách là nhà giáo dục
đầu tiên khơi nguồn, mở mang cho việc hình thành và phát triển những
yếu tố nhân cách gồc, tạo cơ sở rất quan trọng cho đứa trẻ tiếp thu có hiệu
quả giáo dục của nhà trường, đoàn thể xã hội.

quyết trong phạm vi gia đình giữa những người thân. Sự hiểu biết tâm – sinh lí
cá nhân, sở thích của nhau để ứng xử phù hợp, chân thành và tế nhị, tạo bầu
không khí tinh thần ổn định trong gia đình, làm cho các thành viên yên tâm
sống và làm việc.
Đáp ứng hợp lí nhu cầu tình dục vợ chồng là nội dung đáng quan tâm
của tâm – sinh lí gia đình. Điều này góp phần đáng kể củng cố hôn nhân và
hạnh phúc gia đình.
Tôn trọng tính đa dạng, phong phú của cá nhân mỗi thành viêc trong
sự hoà thuận của gia đình, giáo dục giới tính, xây dựng quan điểm tình dục
lành mạnh – hợp với đạo đức, với sức khoẻ và kế hoạch hoá gia đình,...là
những nhiệm vụ thời sự, mang tính xã hội – nhân văn sâu sắc của sự nghiệp
xây dựng gia đình mới.
11


Gia đình là thiết chế đa chức năng và những chức năng trên đây là
những chức năng cơ bản nhất. Thông qua việc thực hiện những chức năng
này mà gia đình tồn tại và phát triển, đồng thời tác động đến tiến bộ chung
của xã hội. Các chức năng được thực hiện trong sự thúc đẩy, hỗ trợ lẫn nhau.
Việc phân chia những nội dung của chúng chỉ là tương đối. Nhiều khi, các
chức năng được thể hiện đan xen trong một công việc hoặc nhiều hoạt động
của gia đình. Ở từng nơi và các giai đoạn lịch sử khác nhau, nội dung và vị
trí của mỗi chức năng có sự biến đổi phù hợp. Mọi thành viên – không kể
tuổi tác, thế hệ,...đều có trách nhiệm vun đắp cho tổ ấn gia đình và tuỳ theo
cương vị và thoả thuận vụ thể mà tham gia vào thực hiện các chức năng của
gia đình.
4. Quan điểm của Đảng và nhà nước ta về vấn đề gia đình và việc xây dựng gia
đình mới XHCN.
* Quan điểm 1: Vận dụng sáng tạo các định hướng xây dựng gia đình XHCN.
Phải thực hiện xây dựng gia đình mới khác về nhiều mặt so với gia đình cũ

sách xã hội.
Đại hội VI của Đảng đã mở ra giai đoạn đổi mới toàn diện đất nước theo
định hướng XHCN. Việc khắc phục tình trạng quan liêu bao cấp mở rộng dân chủ
tinh thần “Tất cả vì con người“ nhất là việc đổi mới chính sách kinh tế trong đó chú
ý thích đáng đến kinh tế gia đình, đã tác động trực tiếp đến xây dựng gia đình, ý
thức xây dựng gia đình của mọi thành viên, mọi tầng lớp xã hội được nâng lên. Đặc
biệt lợi ích gia đình nhất là lợi ích kinh tế, làm giàu chính đáng cho gia đình đã trở
thành động lực mạnh mẽ, các chính sách xã hội – dân số kế hoạch hoá gia đình –
giáo dục – y tế.....đã được cụ thể hoá tới từng địa phương. Luật hôn nhân gia đình
được bổ sung sửa đổi được Quốc hội nước ta thông qua có hiệu lực từ 01/01/2001
gồm 13 chương và 110 điều quy định chi tiết từng điều khoản thi hành từ đó nâng
13


cao trách nhiệm của mọi người trong việc xây dựng gia đình đảm bảo văn minh
tiến bộ.
* Quan điểm 3: Xây dựng gia đình mới gia đình văn hoá phải là trách nhiệm của
mọi người mọi lực lượng và mọi tổ chức chính trị xã hội.
* Quan điểm 4: Xây dựng gia đình mới phải gắn liền với kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội của từng vùng từng địa phương và trong cả nước.
* Quan điểm 5: Phải trang bị kiến thức xây dựng hạnh phúc cho mọi người dân
đặc biệt là tầng lớp thanh thiếu niên theo từng lứa tuổi, với những nội dung và hình
thức sao cho phù hợp với từng vùng từng địa phương nhất là vùng sâu vùng xa.

14


PHẦN II – THỰC TRẠNG CỦA GIA ĐÌNH VÀ GIÁO DỤC
GIA ĐÌNH
I- THỰC TRẠNG CỦA GIA ĐÌNH VÀ GIÁO DỤC GIA ĐÌNH Ở VIỆT

lớn.
Điều kiện kinh tế vật chất của đại bộ phận gia đình không theo kịp gia tốc
phát triển của xã hội đã tạo ra mâu thuẫn thường xuyên giữa sự tăng tốc về mọi mặt
mang tính xã hội và khả năng thích ứng có hạn của từng gia đình, từng cá nhân.
Trình độ học vấn, kiến thức của đa số các bậc cha mẹ không còn đáp ứng
được cho con cái theo yêu cầu của việc giáo dục con người của xã hội mới. Gia
đình chuyển giao một số chức năng cho nhà trường, xã hội do đó gia đình ít có điều
kiện theo dõi, giám sát giúp đỡ con cái.
Nền văn minh công nghiệp đã tác động mạnh mẽ làm cho tốc độ phát triển
tâm lí của trẻ nhanh, trong khi quan niệm, phương pháp giáo dục của cha mẹ chưa
thay đổi, có thể xảy ra xung đột dẫn đến hậu quả đáng tiếc trong gia đình.
Sự mất ổn định trong đời sống gia đình như li hôn, có bố mẹ hoặc người thân
nghiện hút, cờ bạc, tiền án, tiền sự hoặc thiếu gương mẫu của cha mẹ trong làm ăn,
sinh sống như buôn gian, bán lận, lừa đảo,.... cũng đã tác động tiêu cực rất mạnh
mẽ đến con cái làm cho chúng chán nản, thất vọng phải bỏ nhà lang thang.
Một số gia đình có điều kiện kinh tế đầy đủ nhưng thiếu quan tâm đến con
cái, phó mặc cho nhà trường, thả lỏng các em tự phát triển trong môi trường xã hội
bao quanh, cho con tiêu xài thoải mái, thoả mãn mọi yêu cầu của chúng.
Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn và sự chênh lệch đời sống giữa nông
thôn và thành thị đã làm cho một số thanh thiếu niên con nhà nghèo bỏ gia đình ra
thành phố kiếm sống trở thành trẻ lang thang.
II. THỰC TRẠNG GIA ĐÌNH VÀ GIÁO DỤC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI ĐỘ
TUỔI THIẾU NIÊN Ở XÃ ......., HUYỆN .........
16


A - Đặc điểm tình hình.
1. Vị trí địa lí: Xã ......... nằm ở phía tây nam của huyện........
Xã có 4525 nhân khẩu, gồm 4 thôn. Có 1258 hộ.
Diện tích đất canh tác là: 280ha, bình quân 618m 2/người. Diện tích đất hành

Nhìn chung trong những năm qua kinh tế địa phương có bước phát
triển khá, đời sống nhân dân được cải thiện và ổn định. Năm 2003 số hộ giàu
chiếm 12%, hộ khá chiếm 25%, hộ nghèo còn 6,5%. Không có hộ đói.
4. Về văn hoá xã hội.
Đời sống văn hoá xã hội của nhân dân được nâng cao. Toàn dân tích cực
thực hiện cuộc vận động đoàn kết xây dựng cuộc sống mới, tích cực tham gia hoạt
động văn hoá, văn nghệ, TDTT, hoạt động đền ơn đáp nghĩa, hoạt động từ
thiện,.....Sự nghiệp giáo dục, y tế ngày càng khởi sắc – trường Tiểu học được công
nhận chuẩn Quốc gia năm 2002, các trường học trong xã luôn đạt danh hiệu trường
tiên tiến của huyện.
Xã có 2 làng văn hoá là thôn Phù Liễn và thôn Nam Khê. Năm 2003 có
76,7% gia đình văn hoá; năm 2004 xã đăng kí 97,6% gia đình văn hoá.
Tình hình trật tự an ninh luôn ổn định.
* Những tồn tại:
- Cơ cấu kinh tế phát triển còn chậm.
- Tệ nạn xã hội số đề vẫn còn xảy ra lén lút ở một số xóm trong địa bàn xã.
II. Thực trạng gia đình – giáo dục gia đình ở xã .......
1. Thực trạng phát triển kinh tế hộ.
Trong những năm qua, thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và nhà nước,
với sự đồng tình hưởng ứng tích cực của nhân dân, kinh tế hộ gia đình hoạt động
dưới nhiều hình thức: Vừa sản xuất, vừa phát triển kinh tế, vừa kinh doanh. Trong
6 tháng đầu năm 2004 tổng sản lượng lúa màu đạt 4854,7 triệu đồng. Thu nhập từ
chăn nuôi đạt 4165,3 triệu đồng. Bình quân thu nhập đầu người 3,1 triệu đồng/
người/ năm.

18


Hoạt động kinh doanh dịch vụ phát triển, tổng số có 73 hộ buôn bán kinh
doanh dịch vụ. Có 21 xe vận tải công nông các loại, 12 máy xay sát, 8 điểm dịch vụ

Đặc biệt, ngày hè, việc học tập ở trường không còn là áp lực, các em có
nhiều thời gian nghỉ và tất nhiên các quán internet công cộng chính là những điểm
hẹn lí tưởng, tình trạng lãng phí thời gian và tiền bạc một cách vô ích vào Internet
của học sinh hiện nay đã trở thành vấn đề đáng quan tâm của gia đình và xã hội.
Tóm lại, nền kinh tế nhiều thành phần phát triển đa dạng đã giúp cho nhiều
gia đình ăn nên làm ra, song những khó khăn , khắc nghiệt do nền kinh tế thị
trường gây nên cho các gia đình cũng không nhỏ. Đòi hỏi từng gia đình phải năng
động, sáng tạo, biết tổ chức làm kinh tế cho phù hợp để đảm bảo cuộc sống ấm no
cho từng thành viên, tạo điều kiện cho họ phát triển tri thức, văn hoá, xây dựng tổ
ấm gia đình và thúc đẩy xã hội phát triển.
2. Môi trường xã hội ở địa phương.
Đây là vấn đề được Đảng uỷ – HĐND – UBND xã đặc biệt quan tâm xây
dựng. Toàn xã có 2 làng văn hoá thôn Phù Liễn và thôn Nam Khê. Có 76,7 hộ đạt
danh hiệu gia đình văn hoá, 100% thôn xây dựng được qui ước thôn, đặt biệt là
thực hiện qui chế làm lành mạnh hoá việc cưới, việc tang. 100% Đảng viên đăng kí
thực hiện.
Tệ nạn mê tín dị đoan ít xảy ra trên địa bàn. Phong trào văn hoá, văn nghệ
phát triển mạnh, xã có 1 đội văn nghệ thôn P hoạt động sôi nổi, đem lời ca tiếng hát
phục vụ nhân dân trong xã. Các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, TDTT phát triển
mạnh. Kết quả đó đã giúp cho mỗi gia đình phấn khởi, tích cực lao động sản xuất,
góp phần xây dựng gia đình, xây dựng quê hương giàu mạnh, làm gương cho thế hệ
trẻ noi theo.
Bên cạnh những mặt tích cực, còn một số tồn tại như tệ nạn số đề vẫn tiếp
diễn ở một số xóm đã làm không ít gia đình điêu đứng, kinh tế sa sút, gia đình lục
đục, vợ chồng đánh chửi nhau, một số gia đình do vỡ nợ vì chơi số đề nên vợ phải
20


trốn sang Trung Quốc làm ăn còn chồng thì nghiện ngập, cờ bạc, con cái trở nên
thụ động, nhút nhát hoặc trở thành đứa trẻ hung dữ, phản ứng thái quá trước người

thường hay làm ngờ hoặc cho con là hỗn là vô lễ, là mất dạy mà không thấy trách
nhiệm của mình trong việc giáo dục con cái.
Không ít gia đình vợ chồng xưng hô “mày - tao”, nặng lời thoá mạ, chỉ trích
nhau, thậm chí thượng cẳng chân hạ cẳng tay trước mặt con cái. Họ không hiểu
rằng đó là ấn tượng rất xấu có hại gieo vào tâm hồn con trẻ.
Đối với việc học tập của con , nhiều gia đình rèn cho con thói quen học tập
có nề nếp, động viên kịp thời các cháu có thành tích cao trong học tập, nhiều dòng
họ đã xây dựng được quĩ khuyến học để động viên các cháu học giỏi, đỗ đạt cao.
Cách làm đó thể hiện sự quan tâm rất lớn của gia đình, dòng họ đối với thế hệ
tương lai của mình, song không ít gia đình không làm được điều đó,họ thường giao
khoán cho nhà trường – cha mẹ do trình độ văn hoá thấp, không đáp ứng được nhu
cầu học tập, hiểu biết của con, khi trẻ hỏi về kiến thức nào đó thì cha mẹ không trả
lời được mặt khác lại không chú ý đến việc học hành của con, không tạo cho con có
góc học tập riêng, không tôn trọng giờ học của con,.... điều này dễ làm các em
chán nản không muốn học.
Lứa tuổi thiếu niên nhiệm vụ học tập nặng nề hơn, quan hệ xã hội phong phú
hơn vì vậy cha mẹ phải chú ý đến các mối quan hệ bạn bè của con. Phần lớn các gia
đình đã kiểm soát được con về vấn đề này, đã ngăn chặn được con mình khỏi bị lôi
kéo của bạn xấu. Song một số gia đình do bố mẹ ít quan tâm đến con cái, thiếu
gương mẫu về lối sống nên con trẻ cũng chơi bời giao du, chểnh mảng học hành,
khi nhà trường thông báo về việc tu dưỡng rèn luyện và các quan hệ bạn bè của con
hay chơi bời với những phần tử xấu lêu lổng, bỏ học thì gia đình mới biết. Năm
2000 có 1 nhóm học sinh gồm 8 em nam và nữ do cha mẹ không quản lí tốt nên các
em lập thành nhóm, thường bỏ nhà, bỏ học đi chơi, học hành sa sút, bắt đầu có biểu
hiện trộm cắp. Qua phản ảnh của giáo viên, nhà trường cùng giáo viên chủ nhiệm
22


đã gặp gỡ trao đổi với các gia đình, kết hợp với UBND giáo dục, các em nhận ra sai
lầm của mình và đã trở thành người tốt.

5,2%

Tốt
45%
42%
58%

Khá
46%
53%
37%
Khá
44%
37,1%

Trung bình
44,5%
54%
23

Trung bình
9%
5%
5%
Yếu
6,3%
3,5%

Kém
0,2%

Qua số liệu trên cho thấy: về đạo đức học sinh trong 3 năm gần đây có sự
chuyển biến tích cực, số học sinh xếp loại hạnh kiểm trung bình tỉ lệ thấp, không có
hiện tượng học sinh vi phạm pháp luật, không có học sinh mắc tệ nạn xã hội.
Chất lượng văn hoá cũng tăng năm sau cao hơn năm trước, đặc biệt là số học
sinh giỏi của trường luôn xếp thứ hạng cao của huyện.
Sở dĩ có sự tiến bộ như vậy là do được sự quan tâm của Đảng uỷ xã ..... đối
với sự nghiệp giáo dục, những năm gần đây CSVC của nhà trường được xã đầu tư
ngày càng khang trang hơn, đầy đủ hơn. Công tác xã hội hoá giáo dục được đẩy
mạnh, quĩ khuyến học của các dòng họ, thôn, xã ngày càng lớn, đã động viên khen
thưởng nhiều học sinh có thành tích cao trong học tập, động viên học sinh nghèo,
học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Bên cạnh đó, sự nhận thức của các gia đình đối
với giáo dục ngày càng tiến bộ, các bậc phụ huynh học sinh rất chăm lo đến việc
học tập và tương lai của con em mình.

24


Bên cạnh những kết quả trên còn một số tồn tại: Vẫn còn 5% học sinh xếp
loại hạnh kiểm trung bình hàng năm, những em này thường là học yếu, vi phạm nội
qui của trường, lớp, có biểu hiện chưa ngoan, chậm tiến, trong số này cũng có một
số học sinh thường đua đòi, ăn chơi, hay trốn học.
* Những nguyên nhân:
- Nguyên nhân chủ quan: Đó chính là yếu tố gia đình. Một gia đình mà cha mẹ
tôn trọng nhau, yêu thương con cái thì dù cho có nghèo đi chăng nữa con cái
cũng được sống trong sự bình yên. Một điều đã xưa cũ nhưng không phải ai
cũng nhớ, đó là cha mẹ chính là tấm gương sáng cho con cái noi theo. Ngược
lại, khi cha mẹ, anh chị sống với nhau đầy thù hằn, ai cũng mưu lợi riêng thì
trẻ em nhất định bị buông lỏng, và tự thân chúng cũng không thấy cần phải
sống cho cao đẹp. Gia đình chính là nền móng cho mỗi con người, nếu nền
móng vững thì từ đó các thế hệ nối tiếp sẽ xây được cho mình ngôi nhà đẹp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status