Vấn đề giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên trên VTV (khảo sát kênh O2TV, VTV2 và VTV6 từ tháng 11 2012 đến tháng 42014)” - Pdf 36

MỤC LỤC
MỤC LỤC..............................................................................................................1
MỞ ĐẦU................................................................................................................3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ GIÁO DỤC..............................18
GIỚI TÍNH CHO THANH THIẾU NIÊN TRÊN TRUYỀN HÌNH...................18
1.1. Một số khái niệm.......................................................................................18
1.2. Những nội dung cơ bản về giáo dục giới tính...........................................26
1.3. Tầm quan trọng của giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên...................34
1.4. Truyền hình với vấn đề giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên..............39
1.5. Những yêu cầu và điều kiện để việc giáo dục giới tính cho thanh thiếu
niên trên truyền hình đạt chất lượng, hiệu quả.................................................44
1.6. Sơ lược thực tiễn hoạt động giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên ở Đài
truyền hình Việt Nam hiện nay........................................................................49
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH...................................54
CHO THANH THIẾU NIÊN TRÊN VTV HIỆN NAY......................................54
(Khảo sát kênh VTV2, VTV6, O2TV từ 11/2012 - 4/2014)................................54
` 2.1. Tần suất xuất hiện nội dung giáo dục giới tính trên VTV......................54
2.2. Nội dung giáo dục giới tính trên VTV.....................................................59
2.3. Hình thức giáo dục giới tính trên VTV....................................................77
1


2.4. Đánh giá chung về chất lượng, hiệu quả việc giáo dục giới tính trên VTV
..........................................................................................................................88
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ..................................116
VIỆC GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO THANH THIẾU NIÊN TRÊN VTV.....116
3.1. Những vấn đề đặt ra và đề xuất một số kiến nghị..................................116
3.3. Những giải pháp cụ thể...........................................................................126
KẾT LUẬN........................................................................................................141
Tài liệu tiếngViệt............................................................................................146
PHỤ LỤC...........................................................................................................150



quan hệ với gia đình và xã hội… để tạo ra cho mình những kỹ năng tốt tự chăm
sóc bản thân, trở thành những trụ cột chắc chắn của đất nước sau này. Chính vì
vậy, giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên là vấn đề cấp thiết của gia đình, nhà
trường, xã hội, các phương tiện truyền thông nhằm giúp họ nhận thức đúng sai
và hành động có suy nghĩ hơn.
Thực tế, truyền thông đại chúng, các loại hình báo chí từ báo in, báo
mạng, phát thanh, truyền hình đều đã, đang thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền giáo
dục giới tính cho người dân nói chung và thanh thiếu niên nói riêng. Tuy nhiên,
đây là vấn đề khá nhạy cảm không dễ tác động với một đất nước có những quan
niệm, phong tục tập quán lâu đời như Việt Nam. Không những thế sự phát triển
mạnh mẽ của thông tin thời đại công nghệ số tạo lực hấp dẫn với giới trẻ hơn hẳn
những gì mà các phương tiện truyền thông truyền thống đang cố gắng định
hướng.
Với thế mạnh đặc trưng của một loại hình báo chí có nhiều sức hấp dẫn
hơn nhiều so với các loại hình báo chí khác, các chương trình truyền hình ngày
một đa dạng phong phú hấp dẫn mọi lứa tuổi, đặc biệt là khán giả trẻ. Sự ra đời
và phát triển của những kênh, chương trình truyền hình chuyên biệt dành cho
giới trẻ trên VTV là định hướng đúng đắn của lãnh đạo đài trong công tác giáo
dục, định hướng nhận thức và lối sống cho thanh thiếu niên hiện nay. Trong hệ
thống các kênh quảng bá và truyền hình trả tiền thì VTV2 là kênh phổ biến kiến
thức giáo dục, VTV6 là kênh giáo dục giải trí chuyên biệt dành cho thanh thiếu
niên, O2TV là kênh chuyên về sức khỏe và chất lượng cuộc sống cho mọi người
trong đó có giáo dục giới tính và kỹ năng sống cho lứa tuổi vị thành niên. Đây là
những kênh đã tạo được vị trí, thương hiệu sau một thời gian dài phát sóng, đạt
được hiệu quả tuyên truyền thông qua sự phản ánh kịp thời các vấn đề thời sự,
tạo sự hấp dẫn về nội dung, cách thể hiện cho công chúng trong một thời gian
4


Báo chí học của mình với mong muốn góp phần giải quyết phần nào câu hỏi nêu
ra ở trên.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến thời điểm này, nghiên cứu về “giáo dục giới tính cho thanh thiếu
niên” đã có một số công trình nghiên cứu tuy nhiên chưa nhiều. Hiện có một số
tài liệu liên quan, có thể xếp ở ba nhóm như sau:
* Nhóm thứ nhất: Nghiên cứu, khảo sát vấn đề liên quan ở lĩnh vực báo in
có các tài liệu:
- “Báo chí với chủ đề chăm sóc sức khỏe sinh sản” - Khóa luận tốt nghiệp
của Trần Xuân Thân, ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội (2003).
Khóa luận đã đi vào phân tích việc tuyên truyền chủ đề chăm sóc sức khỏe
sinh sản trên báo chí. Tuy nhiên, phạm vi khảo sát rất rộng (trên báo chí nói
chung) mà vấn đề lại lớn đặc biệt chưa khu biệt được đối tượng tác động, vậy
nên nội dung luận văn chưa bao quát hết một cách sâu sắc việc tuyên truyền nội
dung này ở từng loại hình báo chí .
- “Báo chí với chủ đề giáo dục giới tính cho lứa tuổi vị thành niên” Khóa luận tốt nghiệp của Phạm Thị Bích Nga, ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn
Hà Nội (2003).
So với khóa luận của học viên Trần Xuân Thân kể trên, khóa luận này đã
xác định được rõ nét hơn về đối tượng tác động đó là lứa tuổi vị thành niên vì vật
việc nghiên cứu đã trọng tâm hơn. Tuy nhiên, khóa luận mới chỉ giới hạn nghiên
cứu, khảo sát việc tuyên truyền chủ đề giáo dục giới tính trên báo in, còn các loại
hình khác như phát thanh, truyền hình thì chưa đề cập tới.
- “Vấn đề giáo dục giới tính vị thành niên trên báo chí” - Khóa luận tốt
nghiệp của Phùng Thị Phương Anh, ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
(2003).
So với hai khóa luận nêu trên, khóa luận này đã có đầu tư quy mô hơn,
bước đầu đã phân tích được khá rõ các khái niệm, nội dung giáo dục giới tính
6





tin, đặc biệt là thông tin nhạy cảm về giáo dục giới tính, từ đó đề xuất một số giải
pháp nâng cao chất lượng tuyên truyền trên báo mạng.
- “Nâng cao chất lượng thông tin về tính dục và sức khỏe sinh sản trên
báo mạng điện tử hiện nay (khảo sát báo Dân trí điện tử, Tiền phong điện tử,
Vnexpress từ tháng 1 – tháng 3/2007)” - Khóa luận tốt nghiệp của Đinh Huyền
Trang, Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2007).
Khóa luận đã chỉ ra ưu điểm và hạn chế của ba trang báo: Dân trí, Tiền
phong, Vnexpress trong việc tuyên truyền nội dung tính dục và sức khỏe sinh
sản. Tuy nhiên chưa giải quyết được về mặt khái niệm sự khác biệt giữa tính dục
và tình dục, chưa khu biệt được đối tượng khán giả. Ngoài ra thời gian khảo sát
quá ngắn, nội dung luận văn chưa nêu bật được mức độ quan trọng của vấn đề và
việc nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở loại hình báo mạng điện tử.
* Nhóm thứ ba: Nghiên cứu, khảo sát vấn đề liên quan ở lĩnh vực báo
truyền hình có tài liệu:
- “Tuyên truyền về bình đẳng giới trong chuyên mục phụ nữ và cuộc sống
trên sóng Đài truyền hình Việt Nam (khảo sát từ tháng 1/2004 – tháng 4/2006)”
- Luận văn Thạc sỹ của Úy Thị Thu Huyền, Học viện Báo chí và Tuyên truyền,
(2006).
Luận văn đã tập trung phân tích sự khác biệt về thuộc tính giữa “Giới” và
“Giới tính” để khu biệt đối tượng nghiên cứu. Đề tài không đề cập đến vấn đề
tâm sinh lý, sức khỏe sinh sản, giới tính mà đề cập nhiều đến khía cạnh xã hội
của “Giới” bao gồm nam giới và nữ giới, vai trò, trách nhiệm của nam giới và nữ
giới trong xã hội.
Ngoài ra, có một số đề tài nghiên cứu về sức khỏe sinh sản vị thành niên
theo góc độ xã hội học như: “Tìm hiểu kiến thức và sức khỏe sinh sản vị thành
niên Việt Nam hiện nay” của tác giả Bùi Thu Hương, ĐH Khoa học Xã hội và
nhân văn Hà Nội, 2002. Luận văn Thạc sĩ xã hội học “Tìm hiểu nhu cầu thông
tin về sức khỏe sinh sản vị thành niên qua nghiên cứu thư gửi về chương trình


3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa lý thuyết và thực tiễn, luận văn đi vào nghiên
cứu, dựng nên một bức tranh toàn diện, khái quát về thực trạng, làm rõ những
thành công, hạn chế của việc giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên trên các
kênh của Đài THVN (VTV), từ đó kiến nghị các giải pháp phù hợp nhằm góp
phần nâng cao chất lượng, hiệu quả các chương trình truyền hình về nội dung đó
trong thời gian tới.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
Một là : Làm rõ những vấn đề lý luận về giáo dục giới tính như : khái
niệm, vai trò, thế mạnh và hạn chế của truyền hình trong việc giáo dục giới tính
cho thanh thiếu niên.
Hai là : Tiến hành khảo sát, thống kê, phân tích làm rõ thực trạng, thành
công, hạn chế và hiệu quả của VTV (cụ thể là khảo sát các kênh VTV2, VTV6
và O2TV) trong việc thực hiện vai trò giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên
trong thời gian qua
Ba là : Đề xuất hệ thống những giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất
lượng, hiệu quả giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên của các kênh VTV.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát

4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề giáo dục giới tính cho thanh
thiếu niên trên các chương trình ở VTV.
10


4.2. Đối tượng khảo sát
- Thứ nhất: Các chương trình truyền hình có nội dung giáo dục giới tính

cứu đối tượng thanh, thiếu niên chủ yếu trên địa bàn 2 tỉnh Hà Giang và Hà Nội.
Cụ thể chọn và khảo sát khán giả ở một số địa bàn đại diện: thành phố Hà Nội,
thị trấn Thường Tín – huyện Thường Tín– Hà Nội, huyện Từ Liêm – Hà Nội và
thị xã Hà Giang – tỉnh Hà Giang.Trong quá trình đi tác nghiệp sản xuất chương
trình, tác giả nhận thấy đây là những vùng có nhiều khán giả quan tâm tới thông
tin của các kênh khảo sát và có các nhân vật tham gia cộng tác sản xuất chương
trình trên VTV.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận là các quan
điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng,
Nhà nước và các chủ trương, định hướng của ngành về công tác báo chí; một số
lý thuyết về báo chí nói chung và báo chí truyền hình nói riêng.

5.2. Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Phương pháp này tập trung nghiên cứu tài liệu dạng văn bản về vấn đề
giáo dục giới tính cho lứa tuổi thanh thiếu niên chuyên ngành y khoa, tâm lý học;
nghiên cứu các đề án, chiến lược phát triển dân số và kế hoạch hóa gia đình;
nghiên cứu các luận văn, luận án cùng hướng đề tài giáo dục giới tính … kết hợp

12


nghiên cứu, khái quát, hệ thống hóa, bổ sung mặt lý thuyết về truyền hình nói
chung, giáo dục giới tính trên truyền hình đặc biệt là giáo dục giới tính cho thanh
thiếu niên trên truyền hình nói riêng. Đó chính là những lý thuyết cơ sở đánh giá
các kết quả khảo sát thực tế và đưa ra những giải pháp khoa học cho vấn đề

khảo sát trong phạm vi vùng, miền: thành phố, nông thôn, đồng bằng, miền
núi… nhằm mục đích thu thập ý kiến đánh giá khách quan, nhanh chóng, sâu
rộng của công chúng ở lứa tuổi 10 – 24 về vấn đề tuyên truyền giáo dục giới tính
cho thanh thiếu niên trên VTV hiện nay.
- Chúng tôi đã phát 500 phiếu cho thanh, thiếu niên từ 10 đến 24 tuổi nhóm khán giả mục tiêu của nghiên cứu:
+ Hà Nội: phát 400 phiếu (cụ thể trong đó: 50 phiếu ở Trường THPT
Nguyễn Tất Thành, quận Cầu Giấy; 50 phiếu ở trường THCS Chu Văn An; 50
phiếu cho học sinh lớp 4,5 trường Tiểu học Thành Công, quận Ba Đình; 50 phiếu
cho học sinh lớp 4, 5 trường Tiểu học thị trấn Thường Tín; 100 phiếu cho thanh
niên viên chức từ 22 đến 24 tuổi tại Công ty Dược Eurolink, quận Từ Liêm; 100
phiếu ở Trường Cao đẳng Truyền hình thị trấn Thường Tín, huyện Thường Tín)
+ Hà Giang: 100 phiếu ở Trường THPT Ngọc Hà, tỉnh Hà Giang.
Tổng số phiếu hợp lệ thu về là 473 phiếu. Thời gian nghiên cứu từ 15/4
đến 30/4/2014. Nội dung câu hỏi tập trung vào đánh giá của các em về vấn đề
GDGT thông qua các chương trình trên kênh O2TV, VTV2, VTV6, đặc biệt là

14


những tác động của các chương trình này đến hành vi và cách ứng xử của các em
trong cuộc sống hàng ngày.
- Ngoài ra, chúng tôi còn phát 100 phiếu cho các bậc phụ huynh trên địa
bàn Hà Nội. Thu về 100 phiếu hợp lệ. Thời gian nghiên cứu từ 15/4 đến
30/4/2014. Nội dung câu hỏi tập trung vào khảo sát hiểu biết của các bậc phụ
huynh về GDGT, những vấn đề về GDGT mà các bậc phụ huynh quan tâm đến
các con của mình, những đánh giá của các bậc phụ huynh về vấn đề nội dung
GDGT trên các kênh VTV2, VTV6, O2TV; đặc biệt là tác động của các chương
trình này đến hành vi và cách ứng xử của con em mình trong cuộc sống hàng
ngày
- Để có thêm căn cứ để đánh giá, chúng tôi đã phát 100 phiếu cho các

dẫn hơn.
- Về mặt thực tiễn: Là cơ sở góp phần giúp những người làm chương trình
chuyên về giáo dục giới tính hiểu hơn công việc họ đang làm, từ đó nâng cao
kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ, có cách xử lý tốt hơn với mảng đề tài này, sáng
tạo hình thức thể hiện hấp dẫn hơn. Mặt khác, luận văn góp phần là gợi ý giúp
lãnh đạo Ban, Đài THVN nghiên cứu xây dựng các chương trình mới, xây dựng
kế hoạch phát triển mới cho các kênh và liên kết kênh trong bối cảnh các chương
trình truyền hình thực tế đang lấn át nhiều chương trình xã hội nói chung và
GDGT nói riêng. Ngoài ra luận văn góp phần cung cấp kiến thức cơ bản, cần
thiết về giáo dục lối sống lành mạnh cho các bạn trẻ, cung cấp thông tin tham
khảo cho gia đình – nhà trường - nhà quản lý xã hội… tìm ra giải pháp phòng
ngừa, giảm bớt những con số báo động hiện nay của lứa tuổi thanh thiếu niên do
sự thiếu hiểu biết về giới tính và sức khỏe sinh sản.
16


8. Kết cấu luận văn
Luận văn được chia thành 3 phần chính: Phần mở đầu; Phần nội dung và
Phần kết luận. Cụ thể :
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề giáo dục giới tính cho thanh
thiếu niên trên truyền hình
Chương 2: Thực trạng hoạt động giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên
trên VTV hiện nay
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả chương trình giáo dục
giới tính cho thanh thiếu niên trên VTV
Ngoài ra, luận văn còn có phần tài liệu tham khảo và phụ lục gồm một số
biên bản phỏng vấn sâu lãnh đạo Đài THVN, lãnh đạo kênh VTV2, VTV6,
O2TV cùng mẫu phiếu thăm dò ý kiến khán giả và tổng hợp kết quả khảo sát.

17


những đặc điểm về mặt xã hội đó là tác phong, tính tình... Những đặc điểm về
giới của con người chỉ được hình thành qua sự giao tiếp với những người xung
quanh, dưới ảnh hưởng của giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội. Mỗi xã hội
phân công lao động khác nhau theo chuẩn mực đạo đức, văn hóa từ nguồn gốc
sinh học sẽ tạo nên vai trò của giới trong xã hội cũng khác nhau.
Đầu thế kỷ XXI, người Việt Nam dần quen với một số thuật ngữ mới về
“giới tính” như: dị tính, đồng tính, song tính, nhận dạng giới, chuyển giới... Các
thuật ngữ này đề cập đến các khuynh hướng tình dục, thái độ nhận thức bản thân
thuộc giới tính nào của một số người. Mặc dù có cách gọi khác nhau nhưng
chúng đều thuộc phạm trù của giới tính. Những năm gần đây, cùng với sự hoàn
thiện của phương pháp phẫu thuật chuyển đổi giới tính, việc xác định giới tính di
truyền và tái xác định giới tính ngày càng trở nên nhạy cảm hơn.
Liên quan đến khái niệm giới tính, hiện nay một số người vẫn còn nhầm
lẫn Giới với Giới tính. Theo tổ chức Y tế thế giới WHO:“Giới chỉ vai trò, hành
vi, các hoạt động và các thuộc tính do quan niệm xã hội hình thành nên được coi
là chuẩn mực của nam giới và nữ giới”[1, tr.2].Nếu giới tính là chỉ những đặc
trưng về mặt sinh học thì giới chỉ những đặc trưng về mặt xã hội do dạy và học
mà có được, có sự khác biệt giữa vùng miền, thay đổi theo thời gian.
Từ những quan niệm khác nhau và những thông tin, thuật ngữ mới xung
quanh khái niệm giới tính, chúng tôi đưa ra khái niệm về Giới tính như sau:
“Giới tính chỉ những đặc điểm khác biệt về mặt sinh học liên quan đến chức
năng sinh sản của nam giới và nữ giới, sự nhận thức phù hợp về vai trò, trách
nhiệm của bản thân theo sự phát triển của xã hội ”. Với định nghĩa này, giới tính
bao hàm khía cạnh về sinh học của hai giới và khả năng ý thức về bản thân trong
các mối quan hệ xã hội.

19




1.1.3. Giáo dục giới tính
Bác sĩ Đào Xuân Dũng – chuyên gia tình dục học và y khoa Việt Nam
quan niệm:“Giáo dục giới tính trước hết là phải tôn trọng tâm lý lứa tuổi, mỗi
độ tuổi phải có cách giáo dục khác nhau. Nói một cách đơn giản, mục đích của
giáo dục giới tính bảo vệ sức khỏe và cung cấp các kỹ năng cần thiết để xây
dựng mối quan hệ lành mạnh và có trách nhiệm giữa hai giới” [10, tr.4]. Định
nghĩa này đã tiếp cận theo khía cạnh tâm lý, hướng tới mục đích là bảo vệ sức
khỏe của hai giới trên cơ sở hiểu biết và ý thức trách nhiệm của hai giới.
Nhà nghiên cứu tâm lý người Nga V.Vladi – D.Capuxtin chỉ rõ : “Giáo
dục giới tính là bộ phận không thể tách rời của giáo dục đạo đức, gắn liền với
một loạt các vấn đề giáo dục học và y học. Nó giúp cho trẻ hiểu biết được vai trò
của con trai hoặc con gái, của một thanh niên hoặc một phụ nữ, tiếp đó là phải
hiểu vai trò của người đàn ông hoặc người đàn bà, cả vai trò của người chồng
hoặc người vợ, người bố hoặc người mẹ cho phù hợp với các nguyên tắc đạo
đức xã hội…” [13, tr.5]. Với quan niệm này, có thể thấy Capuxtin đã tiếp cận
vấn đề giáo dục giới tính tập trung ở khía cạnh đạo đức. Theo ông, đạo đức là
nền tảng của sự phát triển xã hội, là chuẩn mực của ứng xử giữa hai giới, từ đó
sẽ xác lập vai trò của từng thành viên trong quan hệ gia đình, vai trò của hai giới
trong quan hệ xã hội.
Vì giới tính là một phần quan trọng của sức khỏe con người, có tác động
đến cộng đồng xã hội dựa trên vai trò của từng giới, vậy nên theo chúng tôi, nếu
quan niệm giáo dục giới tính chỉ nhìn nhận ở góc độ giáo dục kiến thức về tâm lý
hay góc độ đạo đức thì chưa thật đầy đủ mà nó phải là sự tổng hợp của cả hai
21


yếu tố trên có như vậy mới hình thành một con người hoàn thiện cả về thể chất
và tinh thần. Trên cơ sở nghiên cứu của một số nhà khoa học, kết hợp với những
định nghĩa đã tự đúc kết ở trên, chúng tôi cho rằng: “Giáo dục giới tính là sự

ngày 09/12/2005 thì độ tuổi của thanh niên là từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi.
Nhìn chung, các tổ chức xã hội thế giới và Việt Nam quy định độ tuổi các
lứa tuổi tương đối sát nhau. Cụ thể , lứa tuổi thanh thiếu niên được xác định là 10
– 24 tuổi.Tuy nhiên, ba kênh truyền hình được khảo sát trong đề tài luận văn này
lại xác định độ tuổi khán giả mục tiêu khác nhau. Cụ thể, kênh VTV6 hướng tới
làm những chương trình phục vụ nhóm khán giả lứa tuổi là 20 tuổi cộng trừ năm
tuổi (20+-5), tức là nhóm từ 15 - 25 tuổi - lứa tuổi có nhiều sự thay đổi, họ đang
chập chững ở ngưỡng cửa cuộc đời phải đối diện với nhiều suy nghĩ, mâu thuẫn
khi bắt đầu bước chân ra thế giới bên ngoài gia đình; kênh VTV2 là kênh Khoa
học - Giáo dục của Đài THVN và kênh O2TV (kênh truyền hình cáp của Đài
THVN) chuyên về sức khỏe, nội dung chương trình phần lớn dành cho mọi
người ở mọi lứa tuổi (có chương trình cho từng đối tượng cụ thể). Vì vậy, để
phục vụ sát cho đề tài nghiên cứu người viết chỉ lựa những chương trình phù hợp
với độ tuổi thanh thiếu niên (đối tượng mục tiêu của đề tài) để khảo sát, lứa tuổi
này theo qui định của pháp luật Việt Nam và những quy định tham khảo của các
tổ chức nước ngoài đó là thanh thiếu niên đó là những người độ tuổi từ 10 đến 24
tuổi. Cách xác định rõ ràng phổ của độ tuổi liên hệ mật thiết đến nội dung và
cách thể hiện của chương trình phù hợp với từng nhóm khán giả mục tiêu của
từng kênh.

23


1.1.6. Truyền hình
Truyền hình ra đời vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và ngày nay truyền
hình đã trở thành một phương tiện nghe - nhìn phổ biến trên thế giới. Xem
truyền hình, đã trở thành nhu cầu thiết yếu của người dân.
Thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng
Hy Lạp. Theo tiếng Hy Lạp, từ “Tele” có nghĩa là “ở xa” còn “videre” là “thấy
được”, tiếng Latinh có nghĩa là xem được từ xa. Ghép hai từ đó lại “Televidere”

(television) bắt nguồn từ hai từ “Tele” có nghĩa là “ở xa” còn “vision” là “thấy
được”, tức là “thấy được ở xa”. Thực chất cội nguồn trực tiếp của truyền hình là
điện ảnh. Chính điện ảnh đã cung cấp cho truyền hình những ý tưởng, gợi ý đầu
tiên về một phương thức truyền thông cũng như một kho tàng những phương tiện
biểu hiện phong phú, có sức thuyết phục mạnh mẽ, làm cơ sở cho truyền hình có
thể thích ứng nhanh chóng với đặc trưng kỹ thuật riêng của mình” [35, tr.127].
Như vậy, có nhiều khái niệm về truyền hình của nhiều tác giả khác nhau.
Chúng tôi đưa ra quan điểm như sau:
Truyền hình là loại hình phương tiện truyền thông đại chúng sử dụng hình
ảnh động và âm thanh tổng hợp (bao gồm lời nói, tiếng động hiện trường, lời
bình, âm nhạc) tác động đồng thời vào thị giác và thính giác của công chúng để
chuyển tải nội dung thông tin một cách chân thực.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status