TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
KHOA TÂM LÝ GIÁO DỤC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO
HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN NHƯ
THANH TỈNH THANH HÓA
GIẢNG VIÊN HD : ĐỖ THỊ HỒNG HẠNH
SINH VIÊN : TRỊNH THỊ HIỀN
LỚP : K12A TÂM LÝ HỌC
THANH HÓA, THÁNG 05 NĂM 2013
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Đỗ Thị Hồng Hạnh
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em đã nhận được rất nhiều sự sự
giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo, gia đình, bạn bè, và người thân.
Trước hết, em xin bày tỏ lòng chân thành biết ơn đến các thầy giáo, cô giáo
khoa Tâm lý - Giáo dục đã cung cấp cho các em kiến thức trong 4 năm học qua để
em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn cô Đỗ Thị Hồng Hạnh - cô giáo trực tiếp hướng
dẫn và tận tình chỉ bảo em trong suốt quá trình làm đề tài.
Con cảm ơn ba mẹ đã sinh thành và nuôi dưỡng con, là điểm tựa vững chắc
cho con suốt năm tháng qua.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô và các em học sinh ở 2 trường THCS đó
là: trường THCS Xuân Du và trường THCS Phượng Nghi ở huyện Như Thanh đã
nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình điều tra thu thập số liệu thực tiễn.
Cảm ơn các bạn trong lớp đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập cũng như
chia sẻ tài liệu, đóng góp ý kiến giúp tôi làm tốt đề tài của mình.
Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi sai sót, rất mong sự đóng góp
ý kiến của thầy cô và các bạn để những công trình nghiên cứu tiếp theo được hoàn
thiện hơn.
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường là
sự xuất hiện của nhiều loại văn hóa phẩm không lành mạnh có ảnh hưởng rất lớn
đến trẻ ở lứa tuổi vị thành niên.
Tuổi dậy thì là một giai đoạn phát triển quan trọng của một con người, nó
xuất hiện với những biểu hiện thay đổi rất đặc trưng về mặt tâm sinh lý. Đó là giai
đoạn từ tuổi thơ đang dần trở thành người lớn với sự trưởng thành cả về thể chất và
tâm hồn rất sâu sắc. Trong thời kỳ này trẻ bắt đầu có những băn khoăn, suy nghĩ về
sự biến đổi của cơ thể, những khác biệt giới tính giữa nam và nữ, và với những nhu
cầu về tình bạn, tình yêu, tình dục…Tuổi dậy thì ở mỗi nền văn hóa có những đặc
điểm riêng nhưng nói chung đều bộc lộ sự thay đổi về nhân cách và tâm lý, trẻ vị
thành niên luôn muốn thử sức, luôn muốn tự khẳng định, thích mạo hiểm nhưng
khi gặp khó khăn, đau buồn hay thất bại lại chưa đủ bản lĩnh để lí giải, chống chọi
và vượt qua. Chính trong thời điểm này nhu cầu được giáo dục giới tính (GDGT) ở
trẻ vị thành niên là rất cao đặc biệt là giai đoạn đầu của tuổi dậy thì - giai đoạn trẻ
rất cần được sự giúp đỡ, giáo dục để hình thành nhân cách xã hội và phát triển định
hướng giáo dục giới tính nhằm xây dựng mối quan hệ lành mạnh và có trách nhiệm
với bạn bè, gia đình, biết tôn trọng bản thân và bạn khác giới.
Nhà giáo dục học Makarenco đã từng khẳng định “GDGT chỉ là một khía
cạnh của giáo dục toàn diện và không thể tách rời ra được, như một cánh tay dính
liền với cơ thể. Muốn cho cánh tay khỏe mạnh thì phải làm cho toàn bộ cơ thể
khỏe mạnh và ngược lại nếu có cơ thể khỏe mạnh về mọi mặt chỉ có cánh tay
GDGT là bị bỏ bê và nhức nhối thì người đó không thể thưởng thức sự lành mạnh
của phần cơ thể còn lại". Điều đó cho thấy tầm quan trọng của việc GDGT cho trẻ
vị thành niên và không thể xem GDGT như là một điều mới lạ trẻ phải học ở
trường khi tới tuổi dậy thì.
Hiện nay, xã hội càng phát triển thì đời sống con người ngày càng được cải
Sinh viên: Trịnh Thị Hiền – Lớp K12A - Tâm lý học Trang 1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Đỗ Thị Hồng Hạnh
thiện hơn với mục tiêu hình thành nên những thế hệ sau có sự phát triển về thể chất
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận chung của vấn đề GDGT
Tìm hiểu thực trạng việc giáo dục giới tính cho học sinh trường THCS huyện
Như Thanh - tỉnh Thanh Hóa
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục giới tính cho
học sinh trường THCS huyện Như Thanh nói riêng và trẻ em tuổi vị thành niên nói
chung.
4. Đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh THCS huyện Như Thanh
- tỉnh Thanh Hóa
5. Khách thể nghiên cứu
Học sinh Trung học cơ sở huyện Như Thanh-tỉnh Thanh Hóa
6. Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện hạn chế về thời gian, nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực
trạng việc giáo dục giới tính cho 200 học sinh khối 8,9 tại 2 trường : Trường THCS
Xuân Du ( Như Thanh - Thanh Hóa) và trường THCS Phượng Nghi (Như Thanh –
Thanh Hóa) và 30 giáo viên của 2 trường THCS.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp lý thuyết để xây dựng hệ thống khái
niệm làm cơ sở lý luận cho đề tài.
7.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Đây là phương pháp chủ yếu sử dụng trong đề tài để thu thập thông tin về
thực trạng GDGT cho học sinh THCS huyện Như Thanh - tỉnh Thanh Hóa
7.3.Phương pháp phỏng vấn
Đây là phương pháp thu thập thông tin một cách trực tiếp về việc GDGT cho
học sinh THCS, và phương pháp này còn nhằm bổ trợ cho quá trình sử dụng
Sinh viên: Trịnh Thị Hiền – Lớp K12A - Tâm lý học Trang 3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Đỗ Thị Hồng Hạnh
phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
Letoumeau và A. Espinas (Pháp), Lewis Herưy Morgan (M), X.M. Kovalevxki
(Nga)… không những đã gắn sự phát triển quan hệ tính dục với các dạng hôn nhân
và gia đình, mà còn gắn cả với yếu tố khác của chế độ xã hội và văn hoá.
Đặc biệt, F. Enggels đã đưa ra một quan điểm mới về phương pháp phân tích
các dạng liên kết những mối quan hệ tính dục với quan hệ kinh tế và quan hệ xã
Sinh viên: Trịnh Thị Hiền – Lớp K12A - Tâm lý học Trang 5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Đỗ Thị Hồng Hạnh
hội. Trong cuốn “Nguồn gốc của gia đình, của quyền tư hữu là của Nhà nước”, F.
Enggels đã phân tích một cách có phê phán “các công trình nghiên cứu về giới tính
và đời sống gia đình theo những nguồn thư tịch về thời cổ đại, qua những huyền
thoại lịch sử và tôn giáo, qua những hiểu biết về tập tục và truyền thống của các bộ
lạc, dân tộc. Ông đã bổ sung thêm nhiều dẫn liệu mới và đã ra những kiến thức rất
xác thực và khái quát hoá thành một hệ thống nhất quán”.
Cuối thế kỉ XIX, nhiều nhà khoa học: R. Kraft Ebing (Ao), M. Hirschfeld và
A Môn (Đức), H. Ellis (Anh), A. Forel (Thuy Sĩ… đã bắt đầu tiến hành công tác
nghiên cứu khách quan về tính dục của con người. Họ đã miêu tả hàng loạt dạng
bất thường trong tâm lí tính dục và tán thành việc xúc tiến công tác giáo dục tính
dục một cách khoa học.
Đầu thế kỉ XX, xuất hiện một số quan điểm sinh học về vấn đề giới tính, và
trong chừng mực nào đó, lại có sự tham gia thêm của các quan điểm tâm lí học.
Giai đoạn này chịu ảnh hưởng sâu sắc của thuyết Sigmund Freud. S. Freud đã tập
trung chú ý vào mối quan hệ giữa các vấn đề tâm lí nhân cách với các dạng tình
dục khác nhau. Ông cho rằng, bất kì dạng tình dục bất thuờng nào cũng đều là sự
định hình những giai đoạn phát triển nhất định của tâm lí tính dục của con người.
Tuy nhiên ông quá đề cao yếu tố sinh học; yếu tố tính dục trong đời sống con
người.
Trong những năm 20 - 30 của thế kỉ XX, việc nghiên cứu tính dục phát triển
mạnh và gắn với phong trào gọi là “Phấn đấu vì những cải cách tính dục”, đòi hỏi
bình đẳng nam nữ, giải phóng hôn nhân khỏi quyền lực nhà thờ, tự do li hôn và sử
dụng các biện pháp phòng tránh thai, giáo dục tính dục trên cơ sở khoa học… Tuy
giới tính, tình yêu hôn nhân gia đình… đã quan tâm đến việc giáo dục giới tính cho
con người và coi đó là một nội dung quan trọng cần phải giáo dục cho học sinh.
Ngay từ những năm 20 của thế là XX, V.I. Lê nin đã nói: “Cùng với việc xây
dựng chủ nghĩa xã hội vấn đề quan hệ giới tính, vấn đề hôn nhân gia đình cũng
Sinh viên: Trịnh Thị Hiền – Lớp K12A - Tâm lý học Trang 7
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Đỗ Thị Hồng Hạnh
được coi là cấp bách”.
Các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà khoa học về y học giáo dục học, tâm lí
học, sinh lí học đã cố gắng xây dựng nền móng vững chắc cho nền khoa học giới
tính và giáo dục giới tính theo quan điểm Mác–xít. Họ đã đưa ra nhiều phương
hướng quan trọng trong việc giáo dục giới tính của Liên Xô. A.X. Makarenko viết:
“Đạo đức xã hội đặt ra những vấn đề về giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên.
Sinh hoạt giới tính của con người liên quan mật thiết với việc giáo dục về tình yêu,
về đời sống gia đình tức là mối quan hệ gia nam và nữ, mối quan hệ dẫn tới mục
đích hạnh phúc của con người và việc giáo dục con cái. Khi giáo dục một con
người không thể quên giáo dục loại tình cảm đặc biệt đó về giới tính”. Ông đã đưa
ra nhiều ý kiến rất cụ thể về nội dung phương pháp giáo dục giới tính. Ông nói:
“Các nhà giáo dục học Xô viết coi giáo dục giới tính và giáo dục về đời sống gia
đình là một nội dung của giáo dục đạo đức chuẩn bị cho con người bước vào đời
sống gia đình”.
I.X. Kon khẳng định: “Chuẩn bị cho nam nữ thanh niên bước vào cuộc sống
gia đình đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống giáo dục đạo đức và giáo dục giới tính”
và “dù xác định mối tương quan giữa giáo dục giới tính là giáo dưỡng giới tính
như thế nào đi chăng nữa, thì cả hai thứ đều phải tuân theo các mục đích chung của
giáo dục”.
A.X. Makarenko cho rằng, thanh niên cần “phải học tập cách yêu đương, phải
học tập để hiểu biết tình yêu, phải học tập cách sống hạnh phúc, và như thế có
nghĩa là học tập để biết tự trọng, học tập để biết các vinh hạnh được làm người”.
Sukhomlinxki đã khuyên nhủ thanh niên: “Hãy sáng suốt và yêu cầu cao trong tình
yêu. Tình yêu là một loại tình cảm mãnh liệt, nhưng lí trí phải điều khiển trái tim”.
Một chương trình giáo dục giới tính được biên soạn rất tỉ mỉ và cụ thể cho học sinh
từ cấp 1 đến cấp 3 (trung học phổ thông). Đặc biệt, trong chương trình giáo dục từ
năm học 1983 - 1984 có thêm một môn học cho học sinh lớp 9 và lớp 10 (tương
đương lớp 11, 12 của nước ta) gọi tên là “Đạo đức học và tâm lí học đời sống gia
Sinh viên: Trịnh Thị Hiền – Lớp K12A - Tâm lý học Trang 9
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Đỗ Thị Hồng Hạnh
đình” với 34 tiết chính khoá.
Ở Đức hiện nay, có rất nhiều các nhà khoa học nổi tiếng với những công trình
nghiên cứu về giới tính và giáo dục giới tính như: R. Neubert, Aresin, Smolka,
Hopman và Klemm, Linser, Polte, Dierl, Grassel… Một cuốn bách khoa toàn thư
về giới tính được biên soạn để giảng dạy và giáo dục giới tính cho học sinh.
Ngay từ năm 1959 nhiều tài liệu về giáo dục giới tính đã được biên soạn công
phu, như công trình của R. Neubert: Sách nói về quan hệ vợ chồng, của Z. Snabl:
Điều khó nói trong tình yêu… Vấn đề giáo dục giới tính được tiến hành rộng rãi từ
những năm 60, đặc biệt từ những năm 70 của thế kỉ XX trở đi. Các nhà khoa học
Đức quan niệm rằng: “Những hiểu biết khoa học về vấn đề giáo dục giới tính cần
được trang bị ngay cho cả các cô mẫu giáo, vườn trẻ ở đó cũng cần phải nói dền sự
giáo dục về môn quan hệ đúng đắn gì những người khác giới”. Từ năm 1974, một
chương trình giáo dục giới tính đã được xây dựng rất tỉ mỉ cụ thể, dạy cho học sinh
phổ thông từ lớp 8, với 15 chủ đề khác nhau và trên 20 sinh tham khảo được quy
định.
Nhiều nước như: Tiệp Khắc, Hungary, Ba Lan… đều đã tiến hành giáo dục
giới tính cho học sinh phổ thông bằng những thương trình bắt buộc. Các nước
phương Tây như: Anh, Đan Mạch, Thụy Điển, Mĩ… đã tiến hành giáo dục cho học
sinh khá sớm (1966). Ở Pháp, thường tình giáo dục nội dung này được thực hiện từ
năm 1973. Đặc biệt là một số nước châu Á, châu Phi, Mĩ Latin cũng đưa giáo dục
giới tính vào trường phổ thông và đã đạt kết quả tốt. Trung Quốc đã tiến hành giáo
dục giới tính cho học sinh từ năm 1974 và hiện nay là một trong những nước có
nhiều công trình nghiên cứu, có sự phát triển cao trong nghiên cứu khoa học về
giới tính.
cứu về giới tính, tình yêu, hôn nhân gia đình, nhiều cuộc điều tra về tình yêu và đời
sống hôn nhân gia đình đã được tiến hành từ năm 1985 đến nay, bước đầu làm cơ
sở cho việc giáo dục giới tính cho thanh niên và học sinh. Những công trình này đã
nêu lên nhiều vấn đề rất phong phú đa dạng về vấn đề giới tính và giáo dục giới
Sinh viên: Trịnh Thị Hiền – Lớp K12A - Tâm lý học Trang 11
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Đỗ Thị Hồng Hạnh
tính ở Việt Nam.
Đặc biệt từ năm 1988, một đề án với quy mô lớn nghiên cứu về giáo dục đời
sống gia đình và giới tính cho học sinh (gọi tắt là Giáo dục đời sống gia đình) có kí
hiệu VIE/88/P09 (gọi tắt là đề án P09) đã được Hội đồng Chính phủ, Bộ Giáo dục
và Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thực hiện
với sự tài trợ của UNFPA và UNESCO khu vực.
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giáo sư Trần Trọng Thuỷ và Giáo sư Đặng
Xuân Hoài, đề án đã được tiến hành rất thận trọng và khoa học, nghiên cứu khá sâu
rộng nhiều vấn đề như: quan niệm về tình bạn, tình yêu, hôn nhân; nhận thức về
giới tính và giáo dục giới tính của giáo viên, học sinh, phụ huynh… ở nhiều nơi
trong cả nước, để chuẩn bị tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông từ
lớp 9 đến lớp 12.
Từ khoảng năm 1990 đến nay, ở Việt Nam đã có nhiều dự án Quốc gia, nhiều
đề tài liên kết với các nước, các tổ chức quốc tế nghiên cứu về giới tính và những
vấn đề có liên quan như: Giáo dục sức khoẻ sinh sản; Giáo dục về tình yêu trong
thanh niên, học sinh; Giáo dục đời sống gia đình; Giáo dục giới tính cho học
sinh… Việc nghiên cứu giới tính và giáo dục giới tính đã được sự quan tâm nhiều
của Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, các nhà khoa học và các bậc phụ
huynh.
1.2. CÁC KHÁI NIỆM CÔNG CỤ
1.2.1. Lý luận về giới tính
1.2.1.1. Khái niệm giới tính
- Giới tính có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và thường bị sử dụng
lẫn lộn với nhiều thuật ngữ khác như: giới, tình dục, tình dục, sinh dục… Nhiều
sinh lí có liên quan đến mỗi giới, là mọi yếu tố, mọi mặt hoạt động, mọi mối quan
hệ… trong đời sống của con người, trong đời sống xã hội loài người:
Đời sống giới tính là toàn bộ những hiện tưởng về mặt sinh lí cơ thể xuất hiện
Sinh viên: Trịnh Thị Hiền – Lớp K12A - Tâm lý học Trang 13
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Đỗ Thị Hồng Hạnh
trong con người có liên quan đến hệ cơ quan sinh dục (đời sống tính dục), những
hiện tượng tâm lí đặc trưng ở mỗi giới, những hiện tượng tâm lí người trong mối
quan hệ với người khác giới (tình bạn khác giới, tình yêu…), những hiện tượng
trong đời sống xã hội như hôn nhân, gia đình… Gần đây, còn xuất hiện những biểu
hiện phức tạp hơn của đời sống giới tính như: các quan điểm yêu đương ngoài hôn
nhân, tình dục ngoài hôn nhân, tình bạn và sự giao tiếp giữa những người khác
giới…
Như vậy khái niệm về giới tính cần được hiểu một cách đầy đủ toàn diện về
nhiều mặt sinh lí và tâm lí, cá nhân và xã hội, hôn nhân và gia đình, tình yêu và
tình bạn, sự giao tiếp nam nữ…
1.2.1.2. Vai trò của giới tính
Cảm xúc giới tính có thể tạo nên mối quan hệ yêu đương nam nữ lành mạnh,
dẫn đến tình yêu hạnh phúc. Mặt khác, những cảm xúc giới tính cũng có thể ảnh
hưởng xấu đến nhân cách, kích thích những nhu cầu sinh lý mang tính bản năng,
tạo nên những “thèm khát” dục vọng, những thói hư tật xấu, sự ăn chơi sa đoạ của
con người.
Giới tính cũng chi phối những hành vi, cử chỉ, tư thế, tác phong, nếp sống của
con người. Những đặc điểm giới tính về sinh lý, tâm lý làm cho hành vi, cử chỉ, tư
thế, tác phong, nếp sống của nam có nhiều có nhiều đặc điểm khác biệt so với nữ:
khác biệt trong dáng điệu, cách đi đứng, thói quen trong sinh hoạt, “lời ăn tiếng
nói” và thể hiện rất đa dạng, phụ thuộc vào phong tục, tập quán, đạo đức xã hội.
Giới tính làm cho quan hệ giao tiếp giữa hai người khác giới khác hẳn quan
hệ giao tiếp giữa hai người cùng giới. Do những đặc điểm giới tính, do những quy
ước xã hội, giữa nam và nữ thường có một khoảng cách nhất định. Khoảng cách
này rộng hay hẹp tuỳ thuộc mối quan hệ giữa hai người.
một trong những cơ sở khoa học của sự bình đẳng nam nữ.
1.2.1.3. Phân loại giới tính
Giới tính được chia làm 2 loại giới tính : giới tính nam và giới tính nữ.
Sinh viên: Trịnh Thị Hiền – Lớp K12A - Tâm lý học Trang 15
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Đỗ Thị Hồng Hạnh
Trong đời sống con người, hai giới không thể tồn tại độc lập mà luôn luôn tác
động đến nhau, có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau. Sự quan hệ qua lại này
bị chi phối bởi nhiều đặc điểm về sinh lí, về tâm lí ở mỗi người, bởi những đặc
điểm về văn hoá, chính trị, phong tục tập quán của xã hội, trong đó có các đặc
điểm đặc trưng của mỗi giới. Từ đó lại hình thành nên nhiều yếu tố mới, hiện
tượng mới trong đời sống giới tính như: Sự giao tiếp giữa hai giới, quan hệ bạn
khác giới, quan hệ tình yêu, hôn nhân…
1.2.2. Lý luận về giáo dục giới tính
Trong thời gian trước đây rất dài việc GDGT hầu như bị né tránh, ít được chú
trọng nghiên cứu và tổ chức giáo dục một cách hệ thống, có căn cứ khoa học. Tuy
nhiên trước những thực trạng trên thì việc GDGT trong giai đoạn hiện nay lại trở
thành một trong những vấn đề rất đáng quan tâm gia đình - nhà trường và xã hội.
Một trong những điểm nổi bật mà chúng ta hiện nay nhìn thấy rõ nhất đó là sự phát
triển không cân đối và hài hoà giữa sự trưởng thành về mặt cơ thể của thế hệ đang
lớn với sự trưởng thành về mặt tâm lý của họ.
GDGT chính là sự hình thành cho con người sự hiểu biết cơ bản về những đặc
điểm, quy luật sự phát triển tâm sinh lý của con người. Hình thành cho họ những
tiêu chuẩn đạo đức của hành vi có liên quan đến những lĩnh vực riêng tư, thầm kín
nhất của con người, hình thành những quan hệ đạo đức lành mạnh giữa nam và nữ.
GDGT là một bộ phận quan trọng của giáo dục nhân cách con người phát
triển toàn diện
GDGT nhằm bồi dưỡng cho thế hệ trẻ những hiểu biết cần thiết về giới và
giới tính, qua đó hình thành nên những phẩm chất giới tính của giới mình, từ đó
tạo nên sự thuận lợi trong quan hệ khác giới trong hoạt động và trong đời sống xã
hội
1.2.2.2. Vai trò của việc GDGT
Trong giai đoạn hiện nay GDGT không được nói là quan trọng mà là rất quan
trọng. Bởi GDGT như đã nói có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân
Sinh viên: Trịnh Thị Hiền – Lớp K12A - Tâm lý học Trang 17
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Đỗ Thị Hồng Hạnh
cách của trẻ ở lứa tuổi đang lớn và liên quan đến hoạt động tình dục là một hoạt
động có chức năng rất quan trọng trong việc duy trì thế hệ mai sau. Và chúng ta
hãy thử hình dung một thế hệ thiếu kiến thức về sức khoẻ sinh sản, giới tính thì
làm sao có thể tạo ra cho xã hội một thế hê phát triển toàn diện về thể trạng tâm lý
và sinh lý? Đấy chỉ là một khía cạnh trong GDGT nhưng khía cạnh ấy luôn được
quan tâm trong bất kì thời đại nào. Bên cạnh đó GDGT góp phần điều chỉnh những
sai lệch trong cách nghĩ về các khái niệm giới tính, tình dục, sức khoẻ sinh sản,…
và điều này phải cần có thời gian dài.
GDGT còn có chức năng phòng ngừa nếu như chúng ta thực hiện đúng, có
hiệu quả với những phương pháp khoa học, tạo nên sự tham gia của chính đối
tượng được giáo dục. Nếu được quan tâm giáo dục đúng mức trong việc GDGT thì
sẽ giúp cho thế hệ trẻ phòng ngừa được các bệnh lây lan qua đường tình dục, góp
phần định hướng cho họ vấn đề sinh đẻ được an toàn, đảm bảo con cái phát triển
khoẻ mạnh.
Góp phần vào việc thực hiện tốt hơn các chính sách dân số và kế hoạch hoá
gia đình của Đảng và Nhà Nước ta
1.2.2.3. Nhiệm vụ của GDGT
GDGT trong trường học là một hình thức quan trọng và hiệu quả nhằm nâng
cao kiến thức, thái độ và hành vi cho học sinh. Có một sự đồng thuận rộng rãi đối
với giáo dục chính quy là nên bao gồm các hoạt động GDGT.
Tính hiệu quả của các chương trình GDGT ở trường học bao gồm các nội
dung như: tập trung vào việc giảm thiểu các hành vi rủi ro; dựa vào nền tảng lý
thuyết để giải thích những lựa chọn tình dục và hành vi của con người; liên tục
tăng cường thông báo về hành vi tình dục; cung cấp những thông tin chính xác về
các rủi ro liên quan đến hoạt động tình dục, tránh thai, mang bầu, sinh đẻ hoặc các
những nội dung cơ bản sau: Giáo dục về sự thay đổi của cơ thể khi dậy thì, về các
mặt giới và mối quan hệ của hai giới, tình yêu, tình dục, sức khỏe sinh sản, trong
những nội dung này đã bao gồm những vấn đề như kỹ năng, ý thức cho các em học
Sinh viên: Trịnh Thị Hiền – Lớp K12A - Tâm lý học Trang 19
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Đỗ Thị Hồng Hạnh
sinh.
Có nhiều yếu tố tác động đến thái độ của phụ huynh học sinh như yếu tố gia
đình, yếu tố học tập, kinh nghiệm, các cơ chế xã hội….
Nghiên cứu thái độ của phụ huynh học sinh đối với giáo dục giới tính còn là
một vấn đề cần thiết không chỉ cho bản thân phụ huynh, học sinh mà còn liên quan
đến nhà trường và xã hội.
Sinh viên: Trịnh Thị Hiền – Lớp K12A - Tâm lý học Trang 20