VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG THỊ MINH TUẤN
I
NGHỆ THUẬT VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC
THỊ HIẾU THẨM MỸ CHO SINH VIÊN
Ở NƢỚC TA HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG THỊ MINH TUẤN
I
NGHỆ THUẬT VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC
THỊ HIẾU THẨM MỸ CHO SINH VIÊN
Ở NƢỚC TA HIỆN NAY
Ngành: Mỹ học
Mã số: 9 22 90 07
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
THỊ HIẾU THẨM MỸ VÀ VAI TRÒ CỦA NGHỆ THUẬT TRONG
GIÁO DỤC THỊ HIẾU THẨM MỸ ............................................................. 36
2.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về nghệ thuật .............................................. 36
2.2. Những vấn đề lý luận cơ bản về thị hiếu thẩm mỹ và giáo dục thị hiếu
thẩm mỹ ............................................................................................................ 51
2.3. Vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ ........................... 73
Chƣơng 3: NGHỆ THUẬT VỚI GIÁO DỤC THỊ HIẾU THẨM MỸ CHO
SINH VIÊN Ở NƢỚC TA HIỆN NAY: THỰC TR NG VÀ NHỮNG
VẤN ĐỀ ĐẶT RA........................................................................................... 87
3.1. Những nhân tố tác động đến thị hiếu thẩm mỹ và vận dụng nghệ thuật
trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở nước ta hiện nay ................. 87
3.2. Thực trạng vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho
sinh viên ở nước ta hiện nay ............................................................................. 96
3.3. Một số vấn đề đặt ra khi vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu
thẩm mỹ cho sinh viên ở nước ta hiện nay ..................................................... 113
Chƣơng 4: NGUYÊN TẮC VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG NGHỆ THUẬT
TRONG GIÁO DỤC THỊ HIẾU THẨM MỸ CHO SINH VIÊN Ở
NƢỚC TA HIỆN NAY................................................................................. 123
4.1. Nguyên tắc vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho
sinh viên.......................................................................................................... 123
4.2. Giải pháp vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho
sinh viên.......................................................................................................... 133
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 148
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ ................................ 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................. 152
PHỤ LỤC ............................................................................................................... 161
1
Đời sống thẩm mỹ của giới trẻ nói chung và sinh viên nói riêng ở nước ta
hiện nay đang có nhiều diễn biến phức tạp. Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng trên
nhiều lĩnh vực, giao lưu văn hoá diễn ra với nhiều hình thức đã có những tác động
tích cực lẫn tiêu cực đến nhận thức và thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên. Có những
kiểu thị hiếu thẩm mỹ mới lạ, thậm chí là lệch lạc phát triển trong đời sống thẩm mỹ
của các bạn trẻ. Nhiều sinh viên đã không tạo cho mình khả năng tự phòng ngừa,
"miễn dịch" hiệu quả trước những sản phẩm phản nghệ thuật, độc hại. Một bộ phận
sinh viên chạy theo thị hiếu thấp hèn, lối sống thực dụng, cá nhân, vị kỷ, có quan
niệm lệch lạc về cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài... Giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho
sinh viên ở nước ta hiện nay là một yêu cầu cần thiết nhằm góp phần tạo ra sự cân
bằng giữa đào tạo chuyên môn và giáo dục lối sống, xây dựng lý tưởng trong sinh
viên, giúp cho công tác giáo dục ở các trường đại học và cao đẳng ngày càng hoàn
thiện về mọi mặt đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực toàn diện cho xã hội.
Có nhiều cách để giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên nhưng với tính
cách là biểu hiện đặc trưng của quan hệ thẩm mỹ, nghệ thuật là cầu nối giữa con
người với thế giới cái đẹp, giúp sinh viên phát triển năng lực cảm thụ và sáng tạo
thẩm mỹ đồng thời xác lập môi trường văn hoá cho thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên,
là nền tảng cơ bản định hướng thị hiếu thẩm mỹ, xây dựng nhân cách của sinh viên.
Nhận thức rõ vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên
mang ý nghĩa quan trọng của việc xây dựng con người phát triển toàn diện đối với
quá trình phát triển của đất nước, Đảng ta luôn “khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm
những phương thức thể hiện và phong cách nghệ thuật mới, đáp ứng nhu cầu tinh
thần lành mạnh đa dạng và bồi dưỡng lý tưởng, thị hiếu thẩm mỹ cho công chúng
đặc biệt là thế hệ trẻ” [18, tr.224].
Từ thực tiễn đời sống thẩm mỹ và yêu cầu của công tác giáo dục đại học,
trên cơ sở định hướng của Đảng về giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho thế hệ trẻ, tác giả
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài đã chọn, về mặt lý luận, luận án nghiên cứu khía cạnh
triết học của nghệ thuật và một số nội dung cơ bản của vấn đề giáo dục thị hiếu
thẩm mỹ chủ yếu trên lập trường của thẩm mỹ học mácxít; phân tích mối liên hệ
giữa nghệ thuật với quá trình giáo dục thị hiếu thẩm mỹ nhằm chỉ ra vai trò của
nghệ thuật trong xây dựng thị hiếu thẩm mỹ của con người; về mặt thực tiễn, luận
án nghiên cứu thực trạng vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho
3
sinh viên ở Việt Nam trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI và đề xuất những giải
pháp đối với việc vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh
viên nhằm phát huy thị hiếu thẩm mỹ tốt trong sinh viên phù hợp với quá trình phát
triển đang diễn ra ở nước ta hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận án là những nguyên lý triết học và mỹ học của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về giáo dục, giáo dục thẩm mỹ, văn hóa và nghệ thuật, đồng thời, có kế thừa
những kết quả của một số công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến chủ đề
luận án.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời, với từng phần cụ thể, luận
án sử dụng những phương pháp tương ứng:
- Phần trình bày về những vấn đề lý luận cơ bản của nghệ thuật, thị hiếu
thẩm mỹ và vai trò của nghệ thuật đối với giáo dục thị hiếu thẩm mỹ, luận án sử
dụng phương pháp lịch sử và lôgíc, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, hệ
thống hóa...
các trường đại học hoặc làm tài liệu tham khảo phục vụ vào đánh giá, dự báo, định
hướng thị hiếu thẩm mỹ cho các hoạt động thưởng thức, sáng tạo nghệ thuật và lối
sống lành mạnh trong xã hội hiện nay.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận
án gồm 4 chương, 12 tiết.
5
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Những nghiên cứu lý luận cơ bản về nghệ thuật, thị hiếu thẩm mỹ, giáo dục
thị hiếu thẩm mỹ và vai trò của nghệ thuật đối với giáo dục thị hiếu thẩm mỹ
1.1.1. Những nghiên cứu về nghệ thuật
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, nghệ thuật là một hoạt động nhận
thức của con người bằng phương tiện hình tượng. Thế giới hình tượng nghệ thuật và
các quy luật phát triển của thế giới nghệ thuật là nguồn cảm hứng vô tận cho các
nghệ sĩ tự do sáng tạo, đồng thời là đề tài nghiên cứu của các học giả, các nhà khoa
học quan tâm phân tích với nhiều khía cạnh khác nhau.
Từ thời cổ đại, các nhà triết học Hy Lạp đã thể hiện sự quan tâm của mình
đối với nghệ thuật. Tiêu biểu ở thời kỳ cổ đại Hy Lạp về nghệ thuật phải kể đến
Nghệ thuật thi ca của Aristotle được dịch ra tiếng Việt lần đầu tiên vào năm 1964,
Nxb Văn hoá nghệ thuật, Hà Nội. Mặc dù chủ yếu bàn về bi kịch trong thơ ca,
nhưng trong tác phẩm này, Aristotle đã chỉ ra cốt lõi của nghệ thuật là thực hiện mô
phỏng tự nhiên từ đối tượng đến phương thức và mục đích. Có thể nói, Nghệ thuật
thi ca là viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển của mỹ học duy vật và
nghệ thuật trong lịch sử khoa học thế giới.
Từ đó đến nay, các nhà mỹ học lớn như Diderot, Immanuel Kant, G.W.F.Hegel,
C.Mác, Denis Huisman... đã có những nghiên cứu sâu sắc về nguồn gốc, bản chất của
hình thức trong nghệ thuật và cảm thụ thẩm mỹ tác phẩm nghệ thuật. Theo các tác
giả, hình tượng nghệ thuật là một biến thể của tư duy hình tượng và nó là biểu hiện
cho đặc trưng của nghệ thuật. Tác phẩm nghệ thuật là nơi mà đặc trưng của nghệ
thuật được bộc lộ thông qua sự thống nhất và tác động qua lại giữa nội dung và hình
thức trong nghệ thuật. Nội dung nghệ thuật đóng vai trò chủ đạo, quyết định đối với
hình thức nghệ thuật, đồng thời hình thức nghệ thuật có tính độc lập tương đối và
tích cực. Nội dung nghệ thuật phản ánh, tái tạo các lĩnh vực khác nhau của thực tại
tự nhiên và xã hội qua hình tượng nghệ thuật. Còn hình thức nghệ thuật là phương
thức biểu hiện và tồn tại về vật chất của nội dung theo những quy luật của một loại
hình và thể loại nghệ thuật nhất định. Sau khi ra đời, tác phẩm nghệ thuật có quá
trình tác động nhiều mặt đến con người và xã hội. Vì vậy, đặc trưng của nghệ thuật
còn được thể hiện qua việc con người cảm thụ thẩm mỹ các tác phẩm nghệ thuật.
Cảm thụ thẩm mỹ là một hình thức hoạt động tâm lý đặc biệt của con người. Chính
7
trong quá trình này, giá trị nghệ thuật của các tác phẩm nghệ thuật đi vào ý thức của
con người cụ thể một cách tự nhiên như nó vốn có.
Từ việc phân tích đặc trưng của nghệ thuật, các tác giả đi đến phân chia các
loại hình nghệ thuật. Bắt nguồn từ bản chất của hoạt động nghệ thuật, ông chia các
loại hình nghệ thuật thành nhiều nhóm: nhóm các nghệ thuật ứng dụng với kiến trúc
và nghệ thuật trang trí; nhóm các nghệ thuật tạo hình bao gồm điêu khắc, hội hoạ,
đồ hoạ, nghệ thuật nhiếp ảnh; nhóm nghệ thuật ngôn từ với văn học; nhóm nghệ
thuật âm thanh với âm nhạc; nhóm các nghệ thuật biểu diễn gồm ca vũ tổng hợp,
điện ảnh, vô tuyến truyền hình, nghệ thuật tạp kỹ và xiếc.
Trên cơ sở những phân tích về đặc trưng của nghệ thuật và sự trình bày về
các loại hình nghệ thuật, các tác giả bày tỏ quan điểm của mình về bản chất của
nghệ thuật. Đó là, nghệ thuật mang bản chất xã hội. Nghệ thuật trước hết là một
hiện tượng xã hội và bản chất xã hội của nghệ thuật thể hiện rõ nhất qua các chức
nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội và tư tưởng Hồ Chí Minh về tính nhân
dân, tính dân tộc của nghệ thuật để phân tích sâu sắc tính bất đồng của nghệ thuật
với phát triển kinh tế và làm rõ bản chất xã hội của nghệ thuật qua những phân tích
về tính dân tộc, tính nhân dân và tính thời đại của mọi nghệ thuật hiện thực. Trong
chương sách này, tác giả cũng đã trình bày nghiên cứu của mình về nghệ thuật với
tư cách là sản phẩm của sáng tạo, mô hình hoá tình cảm thẩm mỹ. Theo tác giả,
nghệ thuật có lịch sử lâu đời, có bản chất xã hội, có đặc trưng thẩm mỹ, có công
chúng và có đánh giá. Chương sách cũng trình bày các vấn đề về đánh giá, hưởng
thụ và sáng tạo nghệ thuật. Những nghiên cứu này là một trong các cơ sở lý luận để
luận án trình bày những vấn đề cơ bản về nghệ thuật.
Nghệ thuật là một bộ phận quan trọng của mỹ học. Thế giới nghệ thuật là thế
giới của cái đẹp. Các quy luật phát triển của thế giới nghệ thuật cũng chính là hệ
quy chiếu cho các quy luật phát triển trong mỹ học. Vì vậy, không chỉ dừng lại ở
nguồn gốc và bản chất của nghệ thuật, các nhà mỹ học còn quan tâm đến việc tìm
hiểu các quy luật phát triển của thế giới nghệ thuật qua các loại hình của nó. Ở góc
độ này, công trình nghiên cứu đầy đủ nhất, công phu nhất có thể kể đến là: Hình
thái học của nghệ thuật của tác giả M. Cagan, (bản dịch của Phan Ngọc), Nxb. Hội
Nhà văn, Hà Nội, 2004. Đây là tác phẩm chuyên khảo đầu tiên một cách có hệ
thống theo quan điểm mácxít về cơ cấu nội tại của thế giới nghệ thuật. Trong công
trình này, thế giới nghệ thuật được xem xét với tính cách là một chỉnh thể thống
nhất chứ không phải là một bộ phận riêng biệt nào đó. Ở đây, tác giả nghiên cứu
9
toàn bộ cơ cấu bên trong của thế giới nghệ thuật, phát hiện tất cả những cấp độ căn
bản của sự phân chia hoạt động sáng tạo nghệ thuật, làm sáng tỏ những quy luật tổ
chức bên trong của thế giới nghệ thuật qua một hệ thống những lớp, những nhóm,
những loại hình và loại thể của nó. Trong sự trình bày của mình, tác giả chia cuốn
sách thành ba phần lớn: phần thứ nhất, đề xuất các vấn đề phương pháp luận để
nghệ thuật v.v... có nghĩa là, tất cả mọi các sự phân loại đều mang tính tương đối.
Trên cơ sở những nguyên tắc đã đề xuất, với quan điểm biện chứng, M.
Cagan đi xây dựng một mô hình cấu trúc hệ thống của thế giới nghệ thuật bằng việc
phân xuất các nhóm nghệ thuật chính là nghệ thuật ngôn ngữ, nghệ thuật âm nhạc,
nghệ thuật miêu tả ... và phân tích sự đa dạng của mỗi nhóm với các loại hình nghệ
thuật và các biến thể con của nó. Qua đó, ông đã nêu bật được những quy luật khách
quan của sự hình thành thế giới nghệ thuật và mang lại một cách nhìn mới mẻ trong
nghiên cứu về nghệ thuật.
Cũng nghiên cứu nghệ thuật với tính cách là một chỉnh thể, ở Việt Nam, có
công trình: Nghệ thuật học của Đỗ Văn Khang, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội,
2004. Với công trình này, Đỗ Văn Khang đã khái quát sự phát triển của nghệ thuật
qua các thời đại lịch sử với các tác giả, tác phẩm tiêu biểu và điển hình để rút ra
những đường nét lớn mà toàn bộ nghệ thuật chịu ảnh hưởng, cung cấp cho người
đọc cơ sở cần thiết để hiểu và vận dụng trong sáng tạo khoa học cũng như trong
thưởng thức, đánh giá các tác giả, tác phẩm và thời đại nghệ thuật.
Nghệ thuật còn được nghiên cứu với tư cách là một môn lịch sử. Ở góc độ
này, tác giả Xavier Barral Ialtet đã có một công trình khảo cứu đầy đủ trong Lịch sử
nghệ thuật được dịch sang tiếng Việt bởi Nguyễn Văn Quảng, Nxb. Thế giới, Hà
Nội, 2003. Theo Xavier Barral Ialtet, lịch sử nghệ thuật là một môn khoa học độc
lập được hình thành dần dần qua các trường phát tư tưởng nghệ thuật khác nhau.
Lịch sử nghệ thuật khác với các bộ môn khác như Khảo cổ học, Dân tộc học, Triết
học, Xã hội học, Lịch sử kinh tế ... nhưng lại có mối liên hệ gắn bó chặt chẽ với
chúng. Lịch sử nghệ thuật không có giới hạn về mặt địa lý. Phạm vi của lịch sử
nghệ thuật được chia thành hai nhóm lớn: một là các bộ phận hợp thành của nghệ
thuật như kiến trúc, điêu khắc, nghệ thuật màu sắc, nghệ thuật tạo hình..., hai là lịch
sử các hoạt động sáng tạo nghệ thuật động như sân khấu, múa, thơ ca, âm nhạc, điện
ảnh... Trong cuốn sách của mình, tác giả phân chia nghệ thuật thành các giai đoạn
theo tiến trình lịch sử và các phạm vi của nó thông qua các tác phẩm nghệ thuật và
các nghiên cứu về lịch sử nghệ thuật. Theo tác giả, nghệ thuật được phân chia thành
bày phương diện lý thuyết của xã hội học thực nghiệm về nghệ thuật, dựa vào việc
phân tích một số loại hình nghệ thuật như âm nhạc, điện ảnh, sân khấu... tác giả đã
chỉ ra sự phân hoá của nghệ thuật, sự thay đổi của các quan hệ nghệ thuật gắn chặt
12
với sự phát triển của quan hệ tiền - hàng trong nền kinh tế tư bản. Tác giả cũng đề
cập đến sự gắn kết giữa các yếu tố nghệ sĩ - tác phẩm - công chúng với vấn đề nhu
cầu nghệ thuật đồng thời khẳng định rằng sự hiểu biết về nhu cầu, sở thích, kiểu
ứng xử của công chúng là cơ sở để thiết lập kế hoạch quản lý, tác động vào quá
trình hoạt động nghệ thuật.
Bên cạnh cách tiếp cận xã hội học, còn có một cách tiếp cận khác khi nghiên
cứu về nghệ thuật, đó là cách tiếp cận mang tính nhân học mà Cynthia Freeland đã
thực hiện trong cuốn Thế mà là nghệ thuật ư (But is it art) được dịch bởi Như Huy,
Nxb. Tri thức, năm 2009. Cuốn sách là một đề dẫn lý thuyết về nghệ thuật với mục
đích phổ cập nghệ thuật dành riêng cho công chúng phương Tây nhưng lại thể hiện
một sự minh triết, sâu sắc và gọn gàng của một nỗ lực đại chúng hoá triết học về
nghệ thuật. Cuốn sách đưa ra những phân tích về khái niệm nghệ thuật và tác phẩm
nghệ thuật đồng thời giúp người đọc tiếp cận với những lý thuyết mới nhất về nghệ
thuật hiện đang chi phối mặt bằng phê bình nghệ thuật phương tây, qua đó, có thể
nắm bắt được phần nào phương cách mà nghệ thuật đương đại thế giới đang quan
niệm. Đề dẫn lý thuyết về nghệ thuật này cũng phân tích sự phát triển của nghệ
thuật với tính cách là một hệ thống mở, đặt nghệ thuật trong mối liên hệ với các yếu
tố ngoại vi mà nó cho là có tác động tương tác tới những cuộc chuyển hoá của chính
khái niệm nghệ thuật. Với cách trình bày của mình, Cynthia Freeland đã “tìm ra
cách để chắt lọc các lý thuyết nghệ thuật, lịch sử mỹ học và cả một chuyến du hành
về lịch sử nghệ thuật vào một văn bản ngắn gọn với những thông tin phong nhiêu
một cách siêu hạng” (như Carolyn W. Korsmeyer ở đại học New York đã nhận xét).
Vì vậy, cuốn sách là một trong những tài liệu đối với luận án trong việc nghiên cứu
tích mối quan hệ giữa nghệ thuật với hoạt động thực tiễn của con người, v.v... Tuy
nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu nghệ thuật dưới góc độ cụ thể,
chẳng hạn, nghiên cứu vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho
sinh viên hiện nay. Đây là hướng nghiên cứu mới của luận án, làm rõ khía cạnh triết
học của mối liên hệ giữa nghệ thuật với quá trình giáo dục thị hiếu thẩm mỹ nhằm
nhận thức rõ vai trò của nghệ thuật trong xây dựng chuẩn mực thẩm mỹ và hệ giá trị
thẩm mỹ ở một đối tượng cụ thể là sinh viên ở nước ta hiện nay.
1.1.2. Những nghiên cứu về thị hiếu thẩm mỹ, giáo dục thẩm mỹ và giáo dục thị
hiếu thẩm mỹ
Thị hiếu thẩm mỹ cũng không phải là vấn đề mới mẻ trong lịch sử mỹ học. Từ
thế kỷ XVII - XVIII, đã có một số nhà triết học ở phương Tây... bắt đầu quan tâm
14
nghiên cứu về thị hiếu thẩm mỹ. Người nghiên cứu thị hiếu thẩm mỹ rất công phu và
đầy đủ phải kể đến đầu tiên là I. Kant - nhà triết học của nền triết học cổ điển Đức thế
kỷ XVIII - XIX với tác phẩm Phê phán năng lực phán đoán (được Bùi Văn Nam Sơn
dịch và chú giải, Nxb. Tri thức, 2007). Trong tác phẩm này, I. Kant đã trình bày toàn
bộ tư tưởng mỹ học của mình bằng việc tiến hành phân tích các dạng phán đoán phản
tư nhằm trả lời cho câu hỏi: tôi có thể cảm nhận và suy tưởng như thế nào về bản thân
mình và thế giới xung quanh? Có thể gọi Phê phán năng lực phán đoán là “viên đá
đỉnh vòm” trong toàn bộ toà nhà triết học Kant với vai trò là kết thúc của công cuộc
phê phán lý tính đồng thời tự đặt cho mình nhiệm vụ bàn về điều kiện khả thể cho hai
lĩnh vực khác xa nhau là năng lực phán đoán thẩm mỹ trong thế giới của cái đẹp, của
nghệ thuật, của tài năng thiên bẩm và năng lực phán đoán mục đích luận trong thế
giới hữu cơ cũng như trong sự thống nhất có hệ thống của toàn bộ giới tự nhiên. Vì
vậy, tác phẩm được chia thành hai phần rõ rệt, trong đó Kant dành toàn bộ phần một
để bàn về bản chất và hiệu lực của phán đoán thẩm mỹ.
Kant gọi thị hiếu thẩm mỹ là phán đoán thẩm mỹ hay phán đoán sở thích. Về
cái đẹp thông qua phán đoán thẩm mỹ là một tất yếu đặc biệt còn được gọi là tất
yếu điển hình. Một sự tất yếu của việc mọi người nhất trí với một phán đoán được
coi là mẫu mực cho một qui tắc phổ quát về cái đẹp. Qui tắc phổ quát này, theo
Kant, ta không nêu rõ được nhưng vẫn tồn tại. Sở dĩ không nêu rõ ra được vì đây là
nguyên tắc hoàn toàn chủ quan trong sự xác định cái gì là đẹp, cái gì là không đẹp
bằng cảm giác mà thôi chứ không bằng khái niệm nhưng vẫn có giá trị phổ quát.
Ông đi đến giả thiết rằng: trong phán đoán về sự hài lòng có sự tồn tại của sự cảm
quan chung. Chính cảm quan chung này quy định tính tất yếu phổ quát của phán
đoán thẩm mỹ. Tuy nhiên, thực tế vẫn xảy ra là khi đứng trước một bức tranh thì có
người say mê chiêm ngưỡng nhưng vẫn có kẻ thờ ơ. Rõ ràng ở mỗi người có quy
phạm hay chuẩn mực thẩm mỹ riêng của bản thân. Trong phán đoán sở thích thì
những quy phạm, chuẩn mực này không thể là khách quan. Vậy thì làm sao có cảm
quan chung về cái đẹp? Kant đành phải biện minh rằng: “... kinh nghiệm không thể
được lấy làm cơ sở cho cảm quan chung này được, bởi vì cảm quan chung là nhằm
biện minh cho những phán đoán có chứa đựng một cái “nên là” (ein Sollen); nó
không nói rằng bất cứ ai cũng sẽ đồng ý với phán đoán của ta, trái lại, nên đồng ý
với ta. (...) nên cảm quan chung chỉ là một quy phạm hay chuẩn mực đơn thuần có
tính lý tưởng mà thôi” [57, tr.133]. Như vậy, bản thân Kant đã tự mâu thuẫn với
chính mình khi xem xét về tính cá biệt và tính phổ biến của thị hiếu thẩm mỹ.
16
Tóm lại, dù có những phức tạp trong tư tưởng nhưng Phê phán năng lực
phán đoán của Kant mà đặc biệt là phần một của tác phẩm đã thể hiện một sự
nghiên cứu công phu về thị hiếu thẩm mỹ. Đây là một tư liệu quan trọng để luận án
khái quát, so sánh những quan điểm khác nhau về thị hiếu thẩm mỹ trong lịch sử mỹ
học khi phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về thị hiếu thẩm mỹ.
Sau Kant, các nhà mỹ học dân chủ Nga như N. Khasenco, N. Tsécnưsépxki,
G. Plêkhanốp... cũng có những công trình nghiên cứu về thị hiếu thẩm mỹ. Một đại
phân tích cặn kẽ hơn về thị hiếu thẩm mỹ trên quan điểm của mỹ học Mác – Lênin
trong công trình Mỹ học – Khoa học về các quan hệ thẩm mỹ, Nxb. Khoa học xã
hội, Hà Nội, 2001. Trên lập trường của mỹ học Mác – Lênin, tác giả phân tích các
quan điểm khác nhau về các quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực từ tri
giác, biểu tượng, phán đoán, nhu cầu, thị hiếu, lý tưởng đến cái đẹp, cái cao cả, cái
bi, cái hài, hưởng thụ, đáng giá và sáng tạo nghệ thuật, ... Đặc biệt, khi nghiên cứu
mặt chủ thể của các quan hệ thẩm mỹ, tác giả trình bày vai trò to lớn của chủ thể
trong quan hệ thẩm mỹ, trong đó nhấn mạnh vai trò của thị hiếu thẩm mỹ đồng thời
nêu bật quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về yêu
cầu nâng cao và phát huy vai trò của thị hiếu thẩm mỹ trong hưởng thụ, đánh giá và
sáng tạo nghệ thuật cho xã hội.
Cũng nghiên cứu về vấn đề thị hiếu thẩm mỹ, còn có công trình Thoả mãn
nhu cầu văn hoá và nâng cao thị hiếu nghệ thuật của tập thể tác giả Viện Văn hoá,
Nxb Văn hoá nghệ thuật – Hà Nội, 1987. Công trình này gồm tập hợp các bài viết
về các góc độ của nhu cầu văn hoá và thị hiếu nghệ thuật. Các tác giả qua các bài
viết của mình đều thể hiện quan điểm thống nhất giữa thị hiếu thẩm mỹ và thị hiếu
nghệ thuật, coi thị hiếu nghệ thuật là biểu hiện của thị hiếu thẩm mỹ trong lĩnh vực
nghệ thuật và thị hiếu thẩm mỹ là bộ phận quan trọng nhất của nhu cầu văn hoá, nhu
cầu sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật. Tác giả Dương Viết Á trong bài Thưởng
thức nghệ thuật cho rằng, thị hiếu thẩm mỹ có tác động trực tiếp đến thưởng thức
nghệ thuật của từng con người cụ thể. Theo ông, thị hiếu là cái “gu”, cái khiếu, cái
sở thích riêng của từng người. Thị hiếu tuy mang sắc thái phán đoán nhưng là phán
đoán cảm tính, trực quan, là sự đánh giá thẩm mỹ nhưng chưa phải là sự đánh giá lý
tính. Xét về quá trình nhận thức, thị hiếu thẩm mỹ thuộc giai đoạn trực quan sinh
động và có tác động sâu sắc đến quá trình thưởng thức nghệ thuật của con người.
Thị hiếu thẩm mỹ là nơi bộc lộ cái riêng của con người trong thưởng thức nghệ
thuật. Cái riêng của thị hiếu thẩm mỹ của một người là một hình thức cụ thể biểu
18
cho xã hội.
19
Từ những nghiên cứu về thị hiếu thẩm mỹ, các nhà nghiên cứu đã bày tỏ sự
quan tâm đến vai trò của giáo dục thẩm mỹ và giáo dục thị hiếu thẩm mỹ. Nếu
không kể đến các giáo trình mỹ học hay các tập bài giảng mỹ học vì trong đó phần
giáo dục thẩm mỹ là phần không thể thiếu thì nghiên cứu về giáo dục thẩm mỹ đầu
tiên phải kể đến là cuốn Giáo dục thẩm mỹ và xây dựng con người mới Việt Nam
của tác giả Lê Anh Trà, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1982. Cuốn sách trình bày về vai trò
của giáo dục thẩm mỹ và yêu cầu xây dựng con người mới Việt Nam trước thời kỳ
đất nước đổi mới, trong đó, tác giả xác định nội dung cốt lõi của giáo dục thẩm mỹ
đối với việc xây dựng con người mới Việt Nam là cái đẹp mới xã hội chủ nghĩa –
cái đẹp bắt nguồn từ những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc kết hợp với lối
sống xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất những lĩnh
vực của giáo dục thẩm mỹ, đó là giáo dục thẩm mỹ trong lĩnh vực thiên nhiên, giáo
dục thẩm mỹ qua lĩnh vực đời sống xã hội với môi trường gia đình, trường học, lĩnh
vực lao động sản xuất và bảo vệ tổ quốc, các nếp sống ngoài lao động và giáo dục
thẩm mỹ qua lĩnh vực nghệ thuật.
Tiếp theo là công trình Giáo dục thẩm mỹ - mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
của Đỗ Huy, Nxb. Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1987. Cuốn sách trình bày những vấn
đề phương pháp luận trong việc giáo dục thẩm mỹ và xây dựng con người mới; Vai
trò của mỹ học Mác - Lênin trong việc định hướng sự nghiệp giáo dục thẩm mỹ;
Bản chất của giáo dục thẩm mỹ trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới ở nước ta
xung quanh các chủ đề: Giáo dục thẩm mỹ và việc định hướng các nhu cầu thẩm
mỹ, giáo dục thẩm mỹ và việc xây dựng các thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh, giáo dục
thẩm mỹ và sự hình thành các khả năng sáng tạo. Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra
các hình thức và các biện pháp giáo dục thẩm mỹ hiệu quả, đó là: giáo dục thẩm mỹ
bằng và thông qua lao động; giáo dục thẩm mỹ thông qua những tấm gương người