Giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên trường đại học sư phạm Hà Nội hiện nay - Pdf 34

MỤC LỤC

1


MỞ ĐẦU
1.

Lý do chọn đề tài
Thị hiếu thẩm mỹ là một trong những yếu tố góp phần cấu thành nhân
cách con người. Nó là cơ sở góp phần hình thành tư tưởng, tình cảm, cách
ứng xử,đồng thời là thước đo đánh giá năng lực thẩm mỹ của mỗi chúng ta.
Không chỉ định hướng tư tưởng, quan điểm mà thị hiếu thẩm mỹ còn góp
phần thôi thúc khát vọng, lý tưởng, động cơ, hình thành lối sống học tập và
lao động có mục đích, hướng đến giá trị chân - thiện - mỹ. Thị hiếu thẩm mỹ
đúng đắn sẽ mang đến nhiều điều tốt đẹp cho cuộc sống.
Nước ta đang đẩy nhanh quá trình hội nhập. Nền kinh tế mở là điều
kiện cho sự du nhập của các loại hình giải trí, thúc đẩy quá trình giao lưu, học
hỏi và tiếp thu những giá trị thẩm mỹ tích cực của nhân loại. Tuy nhiên, bên
cạnh việc tiếp thu những giá trị thẩm mỹ tích cực, nó cũng để lại nhiều hệ lụy,
đó là sự mơ hồ, lệch lạc trong nhận thức, hành vi, thái độ về thị hiếu thẩm mỹ
của giới trẻ mà đặc biệt là bộ phận học sinh, sinh viên.
Luật Giáo dục của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam số 38/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm
2009 nhấn mạnh: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát
triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp,
trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành
và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.
Quyết định số 711/QĐ - TTg năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về
“Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020” cũng đã xác định mục tiêu

Từ những lý do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Giáo dục thị hiếu
thẩm mỹ cho sinh viên trường đại học sư phạm Hà Nội hiện nay” làm
2.

khoá luận tốt nghiệp của mình.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3


Có thể nói, chưa bao giờ việc giáo dục và định hướng thẩm mỹ được
quan tâm bàn luận sôi nổi như vậy trong những năm gần đây. Điều đó xuất
phát từ yêu cầu và thực tế đó là thị hiếu thẩm mỹ của giới trẻ hiện nay đang
có xu hướng lệch lạc, trong đó có không ít sinh viên trường sư phạm nói
chung và sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội nói riêng có biểu hiện
mơ hồ về thị hiếu thẩm mỹ.
Từ trước tới nay có rất nhiều những công trình nghiên cứu về thị hiếu
thẩm mỹ của các nhà mỹ học trong nước có thể kể đến các công trình như:
“Giáo dục cái đẹp trong gia đình” – Nguyễn Ánh Tuyết – NXB Phụ
nữ, 1984: Nêu những nét đặc trưng trong sự phát triển tâm lí của trẻ và gợi ý
về nội dung giáo dục cái đẹp trong gia đình. Những hiểu biết bước đầu nền
giáo dục thẩm mỹ trong gia đình qua từng lứa tuổi từ lúc lọt lòng cho tới khi
bước vào tuổi thành niên.
“Về giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay” – Vĩnh Quang Lê – NXB
Chính trị quốc gia, 1999: Nêu đặc trưng của giáo dục thẩm mỹ và vấn đề xây
dựng con người mới ở nước ta, đặc trưng và vai trò của văn học trong giáo
dục thẩm mỹ.
“Vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ” – Trần Tuý – NXB
Chính trị quốc gia, 2005: Phân tích vai trò của nghệ thuật trong việc phát triển
nhân cách, hình thành xúc cảm, thị hiếu, lý tưởng thẩm mỹ lành mạnh, đúng
đắn; sự tác động của nghệ thuật với công chúng; nêu một số thực trạng, đề

Về vấn đề giáo dục thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội, cho đến nay, vẫn chưa có bất kì một công trình nghiên cứu nào đề
cập đến. Đứng trước một số biểu hiện lệch lạc về thị hiếu thẩm mỹ của một bộ
phận sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi nhận thấy giáo dục định
hướng thị hiếu thẩm mỹ là một vấn đề quan trọng. Kết quả nghiên cứu của các
5


nhà khoa học đi trước chừng mực nào đó sẽ là cơ sở, là tài liệu tham khảo có ý
3.
3.1.

nghĩa cho tác giả trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài của mình.
Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên trường Đại học
Sư phạm Hà Nội hiện nay, qua đó tìm ra những biện pháp thiết thực góp phần
giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản về thị hiếu thẩm mỹ, giáo dục
thị hiếu thẩm mỹ.
- Phân tích, đánh giá về thực trạng thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên
trường Đại học Sư phạm Hà Nội hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp nhằm giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên
trường Đại học Sư phạm Hà Nội hiện nay.

4.
4.1.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Hà Nội, qua những câu trả lời của sinh viên về thị hiếu thẩm mỹ ở một số lĩnh
vực cụ thể như âm nhạc, điện ảnh, văn chương, thời trang.
Phương pháp phân tích, tổng hợp

5.3.

Phương pháp này được tiến hành trên cơ sở phân tích và tổng hợp các
nguồn tài liệu, điều tra, khảo sát mà tác giả trực tiếp tham gia điều tra, khảo sát.
6.

Đóng góp mới của đề tài
Đề tài góp phần tìm hiểu thực trạng thị hiếu thẩm mỹ của Sinh viên
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, thông qua đó đề xuất thêm những giải pháp
nhằm giáo dục thị hiếu thẩm mỹ giúp sinh viên có những nhận thức đúng đắn,
khoa học về thị hiếu thẩm mỹ, hướng tới xây dựng cuộc sống tốt đẹp theo
những giá trị chân - thiện - mỹ.

7.

Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài
gồm hai chương, bốn tiết.

7


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
THỊ HIẾU THẨM MỸ VÀ GIÁO DỤC THỊ HIẾU THẨM MỸ
1.1.

bắt nguồn từ những nhu cầu lành mạnh, cao cả. Sở thích không tốt là những sở
thích bắt nguồn từ những nhu cầu không lành mạnh, thấp hèn, giả tạo.
1.1.2.

Thị hiếu thẩm mỹ là gì?
Từ xưa tới nay có rất nhiều các quan niệm khác nhau về thị hiếu thẩm
mỹ. Có người cho rằng, thị hiếu thẩm mỹ là khả năng bẩm sinh, vốn có của
con người. Một số khác thì cho rằng thị hiếu thẩm mỹ là điều thần bí.
Môngteskiơ, đại diện của trường phái mỹ học phong trào Khai sáng Tây Âu
thế kỉ XVIII, định nghĩa thị hiếu thẩm mỹ là cái thu hút chúng ta chú ý đến
đối tượng bằng tình cảm. Rútxô coi thị hiếu thẩm mỹ là năng lực nhận xét về
cái mà đông đảo mọi người thích hay không thích.
Theo sự trình bày của các nhà mỹ học danh tiếng người Nga Lôxép và
Setstacốp trong cuốn Lịch sử các phạm trù mỹ học ( NXB Nghệ thuật,
Mátxcơva 1965) thì khái niệm thị hiếu mang ý nghĩa thị hiếu thẩm mỹ đã
được Gracian Moralès (1601-1658), nhà tư tưởng lớn của Tây Ban Nha sử
dụng trong luận văn của mình viết vào năm 1647. Lúc đó ông gọi thị hiếu gắn
với các cảm giác của tai và mắt là cảm giác gắn với cái đẹp và nghệ thuật.
Nhưng có lẽ người đầu tiên nghiên cứu về thị hiếu thẩm mỹ một cách
có hệ thống là I.Kant, trong tác phẩm “Phê phán năng lực phán đoán” năm
1970, ngay ở chương đầu của tác phẩm ông đã khẳng định “Phán đoán thị
hiếu là phán đoán thẩm mỹ”. Thị hiếu thẩm mỹ là năng lực, khả năng phán
đoán của cá nhân về cái cao cả và cái đẹp. I.Kant gọi thị hiếu thẩm mỹ về bản
chất mang tính vô tư, thờ ơ với các giá trị vật chất. Ông cũng đã thấy được
tính phức tạp và tính cá nhân của thị hiếu thẩm mỹ, nên ông cho rằng, “về thị
hiếu thì không nên bàn cãi”. Thực tế quan niệm của I.Kant chỉ đúng ở mức độ
nhận xét thị hiếu cá nhân chứ không đúng về nguyên tắc. Về sau chính ông đã
nhận ra mâu thuẫn của mình khi nói về bản chất của thị hiếu thẩm mỹ là vừa
9




Thị hiếu thẩm mỹ được hình thành và biến đổi thông qua hoạt động lao
động. Trong thời kì cộng sản nguyên thủy, trình độ phát triển kinh tế thấp,
nền kinh tế chủ yếu là tự cung, tự cấp, con người sống nhờ vào săn bắt và hái
lượm. Để phục vụ cho yêu cầu đó con người đã bắt đầu biết chế tác ra công
cụ lao động. Công cụ lao động thời kì sơ khai của lịch sử loài người là công
cụ bằng đá được mài sắc cạnh. Về sau, việc tìm kiếm nguồn thức ăn khan
hiếm, công cụ thô sơ như vậy không còn phát huy được hiệu quả, con người
chế tác ra công cụ lao động bằng đồng, bằng sắt, không chỉ nâng cao hiệu quả
mà còn có giá trị thẩm mỹ. Như vậy, thông qua lao động, con người dần hình
thành, biến đổi và hoàn thiện thị hiếu thẩm mỹ.
Thứ hai, thị hiếu thẩm mỹ vừa có tính cá nhân, vừa có tính xã hội.
Trong xã hội loài người, con người là một chỉnh thể, mỗi người là một
cái riêng, cái đơn nhất cho nên những phán đoán và đánh giá thị hiếu thẩm mỹ
bao giờ cũng mang tính chất cá nhân, do đó tồn tại sở thích cá nhân, thị hiếu
cá nhân. Đó là sự thích thú cá nhân, sự đánh giá trực tiếp, tức thời hoặc là sự
phản ứng mau lẹ trước các đối tượng thẩm mỹ. Tính chất cá nhân của thị hiếu
thẩm mỹ ở mỗi người không ai giống ai, mỗi người một vẻ. Sự đa dạng của
thị hiếu cá nhân tạo nên sự phong phú, đa dạng của thị hiếu xã hội. Bởi vậy,
mà có người yêu thích âm nhạc, người mê hội họa, người say văn chương,
người lại thích ngắm nhìn những danh lam thắng cảnh. Sẽ thật là nhàm chán
nếu như thiếu đi tính đa dạng, phong phú trong thị hiếu thẩm mỹ xã hội, khi
mà cả một xã hội ai ai cũng diện đồ giống nhau, cùng làm một kiểu tóc giống
nhau, cùng đam mê và yêu thích giống nhau.
Tính chất cá nhân của thị hiếu thẩm mỹ còn được biểu hiện đó là khi
đứng trước cùng một đối tượng thẩm mỹ, mỗi chủ thể thẩm mỹ lại có những
cảm nhận ở mức độ khác nhau. Có chủ thể cảm thụ chính xác, nhanh nhạy, có
chủ thể chỉ cảm thụ bề ngoài, thậm chí sai lệch. Điều này phụ thuộc vào tâm
11


của mọi người, thủ tiêu tính sáng tạo, làm cho thị hiếu thẩm mỹ của cá nhân
và của xã hội trở nên nghèo nàn, nhàm chán.
Đặc trưng này của thị hiếu thẩm mỹ đòi hỏi quá trình giáo dục nhằm
nâng cao thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên cần tôn trọng cá tính, tránh áp đặt và
có thể sử dụng yếu tố xã hội, yếu tố cộng đồng trong định hướng thị hiếu
thẩm mỹ cá nhân.
Thứ ba, thị hiếu thẩm mỹ có tính ổn định tương đối, tính kế thừa, tính
thời thượng.
Đứng trước những hiện tượng thẩm mỹ của cuộc sống, con người có
khả năng đánh giá trực tiếp về cái đẹp, xấu, đúng, sai, cái cao cả, bi kịch…
Chủ thể thẩm mỹ sẽ xuất hiện những hình thức đánh giá trực tiếp, tức thời hay
phản ứng mau lẹ trước các hiện tượng thẩm mỹ. Phản ứng này gần như mang
tính bản năng của con người. Do thời gian, nhờ vốn kinh nghiệm tích lũy và
tình cảm thẩm mỹ tinh luyện, những giá trị này đã tạo nên tính ổn định của thị
hiếu. Tính ổn định của thị hiếu thẩm mỹ có thể tạo cho chủ thể phản ứng đúng
và cũng có những phán đoán không đúng trước các hiện tượng thẩm mỹ xảy
ra trong đời sống. Vì thế, các kinh nghiệm thẩm mỹ phong phú và sâu sắc
càng được tích lũy đúng đắn bao nhiêu thì thị hiếu càng phản ứng mau lẹ và
càng đúng bấy nhiêu. Tuy nhiên, thị hiếu thẩm mỹ chỉ mang tính ổn định
tương đối, nó có tính nhất thời, dễ thay đổi.
Thị hiếu thẩm mỹ còn mang tính kế thừa, khi một thị hiếu thẩm mỹ mới
xuất hiện, nó không bài trừ hoàn toàn thị hiếu thẩm mỹ sẵn có, mà nó biến đổi,
cải tạo lại trên cơ sở kế thừa những thị hiếu thẩm mỹ hiện đang tồn tại. Đồng chí
Trường Chinh đã từng nói những người cộng sản không phủ nhận tài năng và
thiên tài, nhưng không quan niệm tài năng và thiên tài là những cái siêu hình,
bẩm sinh đã có. Sự cấu tạo của khối óc và truyền thống gia đình có phần ảnh
hưởng đến văn nghệ sĩ, nhưng tài năng và thiên tài chủ yếu là những cái mà
13



màu lòe loẹt. Họ coi như vậy là đẹp và hợp thời trang, những người không
theo kịp xu hướng đó thì coi là lỗi thời, lạc hậu. Điều đó không phù hợp với
thuần phong mỹ tục người Việt. Chúng ta kiên quyết phản đối, đấu tranh
chống lại mọi “mốt” lố lăng, lai căng đó. Bởi vì nó phản ánh lối sống hưởng
thụ của chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, khơi dậy và khuyến khích những tâm lý và
thị hiếu thấp hèn.
Thứ tư, thị hiếu thẩm mỹ mang tính thời đại, tính giai cấp, tính dân tộc.
Thị hiếu thẩm mỹ ra đời trong những thời đại nhất định và biến đổi cùng
với thời đại. Mỗi thời đại khác nhau thì quan niệm về cái đẹp cũng không giống
nhau. Sở dĩ có điều đó là do sự thay đổi về điều kiện, hoàn cảnh kinh tế xã hội
mỗi thời đại làm cho quan niệm, đánh giá thẩm mỹ của con người cũng thay đổi.
Thời kỳ nguyên thủy khi còn tồn tại chế độ mẫu hệ thì lúc đó thị hiếu thẩm mỹ
của bộ tộc hướng tới cái đẹp là hình tượng người đàn bà theo chủ nghĩa phồn
thực. Thời kỳ Hy Lạp - La Mã cổ đại đó là hình tượng người anh hùng, nhà triết
học, nhà quán quân thể thao. Thời kỳ Trung cổ là quyền năng tối thượng của
Chúa. Thời kỳ Phục Hưng là sự ngưỡng mộ cái đẹp trong con người đầy đặn,
phúc hậu, những vẻ đẹp thuần khiết, thanh tao, mang tính bản thiện, trong sáng
nhưng khổng lồ. Còn ở thế kỷ XXI thị hiếu thẩm mỹ đa dạng, phong phú hơn,
nhất là đề cao yếu tố tri thức của con người.
Thị hiếu thẩm mỹ không phải là cái có tính chất nhất thành bất biến mà
nó có sự thay đổi theo từng giai cấp. Giai cấp nào thì thị hiếu nấy. Thị hiếu
thẩm mỹ phản ánh quan điểm, lý tưởng giai cấp, mang đậm mục đích và lợi
ích của giai cấp thống trị trong xã hội. Những tiêu chí thẩm mỹ chính là công
cụ để các giai cấp thống trị củng cố thiết chế chính trị, lập pháp, hệ tư tưởng
thống trị của giai cấp mình. Quan niệm về cái đẹp của người phụ nữ lao động
đó là sự khỏe mạnh, rắn chắc; còn cái đẹp của người phụ nữ quý tộc là mặt
hoa, da phấn, liễu yếu, đào tơ.
15


16


trong hệ thống các quan hệ xã hội, trên cơ sở các hoạt động và giao lưu nhằm
chiếm lĩnh các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần. Những thuộc tính đó bao
hàm các thuộc tính về trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, thể chất…
Nhân cách là một thực thể phức tạp, đồng thời cũng là một thực thể
thống nhất biện chứng về sinh lý, tâm lý và xã hội con người. Ở những
nhân cách phát triển toàn diện, ý thức tình cảm và hành vi của họ thống
nhất biện chứng và tác động tương hỗ lẫn nhau. Phát triển nhân cách con
người là quá trình tác động toàn diện lên các mặt trên bằng các phương
tiện khác nhau, trong đó giáo dục thẩm mỹ là một trong những phương
tiện hết sức quan trọng.
Thị hiếu thẩm mỹ là một thuộc tính đặc biệt của nhân cách. Sự phát
triển của thị hiếu thẩm mỹ tỉ lệ thuận với sự phát triển nhân cách, khi thị hiếu
thẩm mỹ phát triển thì nhân cách cũng phát triển. Nhiệm vụ của thị hiếu thẩm
mỹ đối với sự hình thành và phát triển nhân cách là: phát triển cảm xúc thẩm
mỹ, tình cảm thẩm mỹ, nhu cầu thẩm mỹ của con người; bồi dưỡng năng lực
nhận biết, hiểu và cảm nhận cái đẹp từ đó kích thích phát triển năng lực sáng
tạo của con người. Như vậy, trong quá trình phát triển thị hiếu thẩm mỹ sẽ
giúp mỗi người hình thành và phát triển tình cảm mới, những mối quan hệ
mới giữa người với người, những ý niệm mang tính chất cá nhân và xã hội,
thế giới quan khoa học, lý tưởng đạo đức, lý tưởng thẩm mỹ của nhân cách.
Phát triển thị hiếu thẩm mỹ cũng là một bộ phận hữu cơ quan trọng của sự
phát triển chung. Đó là sự phát triển những kiến thức tổng hợp, làm ngắn lại
khoảng cách giữa con người và cái đẹp. Hơn nữa, mức độ phát triển thị hiếu thẩm
mỹ còn là tiêu chí, là bằng chứng nhất định để đánh giá mức độ phát triển chung
của nhân cách. Nếu mục tiêu của giáo dục là sự phát triển nhân cách toàn diện thì
phương diện quan trọng của nhân cách đó chính là sự phong phú về tinh thần,
những năng lực phát triển cao về tinh thần thực tiễn, về lí luận và về thẩm mỹ.

độ nhận thức và phản bác đối với những cái xấu xa, phản thẩm mỹ trong tâm
hồn, trong hành vi ứng xử cũng như đối với những cái phi thẩm mỹ trong các
tác phẩm nghệ thuật. Giáo dục thị hiếu thẩm mỹ chủ yếu hướng vào việc phát
triển tình cảm của con người, tạo nên sự phong phú về tâm hồn của con
18


người, tổ chức và điều khiển hành vi ứng xử của con người theo tiêu chuẩn
của cái đẹp.
1.2.1.2.
-

Những nguyên tắc cơ bản về giáo dục thị hiếu thẩm mỹ
Giáo dục thị hiếu thẩm mỹ phải được xây dựng trên quan điểm giáo dục toàn
diện
Giáo dục thị hiếu thẩm mỹ phải được xây dựng trên quan điểm giáo
dục toàn diện. Trong đó, nhà trường là nhân tố đóng vai trò quan trọng hàng
đầu trong việc giáo dục, định hướng thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên. Bởi vì
nhà trường là nơi mà sinh viên được thụ hưởng nền giáo dục một cách toàn
vẹn và đầy đủ nhất. Sẽ là sai lầm nghiêm trọng khi nghĩ rằng, chỉ cần trang bị
kiến thức chuyên môn, thao tác kỹ thuật nghiệp vụ mà lại không chú trọng
giáo dục nhân cách làm người, định hướng thị hiếu thẩm mỹ. Do đó, nội dung
giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cần phải chú trọng tới vấn đề này, phải làm thế nào
để sinh viên là thế hệ trẻ tương lai của đất nước có đầy đủ cả “ Đức - Trí - Thể
- Mỹ” trở thành những con người toàn diện có thể tự tin bước vào đời với một
hành trang đầy đủ nhất.

-

Lấy đối tượng sinh viên làm trung tâm của việc giáo dục thị hiếu thẩm mỹ

tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh. Theo Người: “Thống nhất lí luận và thực
tiễn là nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn không có lí
luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lí luận không liên hệ với thực
tiễn là lí luận suông”. Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải
làm cho sinh viên nắm vững tri thức về thị hiếu, thị hiếu thẩm mỹ, cái đẹp…
với hai điều kiện: 1. Tri thức phải có hệ thống; 2. Tri thức có thể vận dụng
trong thực tiễn để cải tạo hiện thực, cải tạo bản thân. Thông qua đó giúp sinh
viên ý thức được tác dụng của thị hiếu thẩm mỹ tốt và lành mạnh đối với đời
sống, với thực tiễn, hình thành cho sinh viên những kĩ năng và vận dụng
chúng ở mức độ khác nhau. Vì vậy, để thực hiện giáo dục thị hiếu thẩm mỹ
đúng đắn đòi hỏi phải gắn nó với thực tiễn sinh động thông qua đời sống sinh
hoạt hàng ngày và phương pháp truyền thụ tích cực của người giáo dục.
20


-

Giáo dục thị hiếu thẩm mỹ phải trên cơ sở hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lý của
sinh viên
Sinh viên Đại học đa phần ở trong độ tuổi khoảng từ 18-24 tuổi, ở độ
tuổi này họ có nhiều mặt tích cực song cũng có nhiều mặt hạn chế. Mặt tích
cực của họ đó là lòng nhiệt tình, nhạy cảm trước cuộc sống, ước mơ cháy
bỏng, quyết tâm thực hiện cho được những hoài bão của bản thân, chân thành,
cởi mở trong ý nghĩa việc làm, dám chấp nhận hy sinh… Tuy nhiên đối lập
với các đức tính ấy lại là những hạn chế của tuổi trẻ, đó là tính bồng bột chủ
quan, hấp tấp vội vàng, nhẹ dạ cả tin, gặp khó khăn dễ hoang mang, dao động,
dễ bị kích động, thiếu tự chủ do kinh nghiệm sống còn hạn chế. Do đó, giáo
dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên phải được thực hiện trên cơ sở hiểu rõ đặc
điểm nhận thức, tâm sinh lý sinh viên; đảm bảo được các nguyên tắc: nguyên
tắc tính mục đích phát triển; nguyên tắc tính toàn diện; nguyên tắc tính hệ

cái đẹp, cái đẹp của nghệ thuật ảnh hưởng rất mạnh đến thị hiếu thẩm mỹ.
Nghệ thuật đóng vai trò quan trọng và là phương tiện tác động độc đáo và có
hiệu quả nhất đến lĩnh vực tâm hồn và tình cảm con người.
Với tư cách là một phương tiện để giáo dục thị hiếu thẩm mỹ đặc biệt
quan trọng, nghệ thuật có khả năng tạo cho con người ta yêu thích cái đẹp,
phê phán cái xấu một cách nồng nhiệt và say mê, nghệ thuật tốt sẽ làm lành
mạnh hoá đời sống đạo đức của xã hội. Cái đẹp trong nghệ thuật giúp nâng
cao năng lực thẩm mỹ, cổ vũ cái đẹp, đấu tranh chống cái xấu.
Cùng với việc giáo dục nghệ thuật thì việc giáo dục quan điểm của mỹ
học Mác-Lê nin và đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng cũng là một nội
dung hết sức quan trọng trong việc nâng cao thị hiếu thẩm mỹ. Khi mỹ học
Mác – Lê nin và đường lối văn nghệ của Đảng chưa thấm sâu vào công chúng
thì thị hiếu thẩm mỹ của công chúng có thể mang tính chất tự phát.
Mỹ học Mác- Lê nin và đường lối văn nghệ của Đảng ta được xây dựng
trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng thẩm mỹ Hồ
Chí Minh. Quan điểm của mỹ học Mác – Lê nin và đường lối văn nghệ của
Đảng chủ trương xây dựng một chế độ xã hội cao đẹp, có đời sống thẩm mỹ
tốt đẹp trong đó nền nghệ thuật phải có tính tư tưởng và tính nghệ thuật cao.
22


Quan điểm và đường lối đó hướng con người tới cái đẹp đầy tính nhân văn,
làm cho con người thật sự là chủ thể thẩm mỹ đại diện cho một đời sống văn
hoá cao. Quan điểm và đường lối đó cổ vũ cho một nền nghệ thuật chân
chính, bảo đảm cho việc phát triển các nhu cầu thẩm mỹ lành mạnh và các thị
hiếu thẩm mỹ tốt. Vì vậy, giáo dục quan điểm của mỹ học Mác- Lê nin và
đường lối văn nghệ của Đảng là một nội dung tất yếu trong việc giáo dục thị
hiếu thẩm mỹ.
1.2.2.2.


mang trong mình khát vọng lớn lao nhằm mục tiêu xây dựng đất nước Việt
Nam “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” thì còn
một bộ phận khác họ đang mơ hồ về lý tưởng sống của chính mình. Nhà văn
Nga L.Tôn-xtôi đã nói: “Lý tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lý tưởng
thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không
có cuộc sống”. Người có lý tưởng sống cao đẹp sẽ luôn suy nghĩ và hành
động để hoàn thiện hơn, để giúp ích cho gia đình và xã hội.
Lý tưởng cách mạng mà ở đây là lý tưởng cách mạng của Thanh niên
Việt Nam ngày nay chính là “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội;
dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. Nhìn chung, đa
số sinh viên ngày nay đều có lòng yêu nước nồng nàn, tôn trọng những phẩm
chất đạo đức, có ý thức giữ gìn những giá trị truyền thống dân tộc. Tuy nhiên,
số đó chưa phải là tất cả, còn có một bộ phận sinh viên còn chưa xác định
được cụ thể, đúng đắn lý tưởng cách mạng của mình là gì.
Những yêu cầu của xã hội đối với người công dân tương lai đó là
những người có phẩm chất trí tuệ, đạo đức, lý tưởng sống, lý tưởng cách
mạng vượt trên thời đại. Xuất phát từ thực trạng đó nên việc giáo dục lý
tưởng sống, lý tưởng cách mạng cho sinh viên là một trong những vấn đề cấp
thiết cần phải được đặt lên hàng đầu.

CHƯƠNG 2:
24


GIÁO DỤC THỊ HIẾU THẨM MỸ
CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
2.1. Thực trạng giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên trường Đại
học Sư phạm Hà Nội hiện nay
2.1.1. Thực trạng thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên trường Đại học Sư


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status