Năm học 2012 - 2013
XÂY DỰNG TƯ LIỆU GIÁO DỤC BIỂN ĐẢO
CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TPHCM
Hứa Ngọc Tuyền Ni,
Trần Văn Thương
(SV năm 3 Khoa Địa lí)
GVHD: TS Nguyễn Văn Luyện
1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Biển có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sinh tồn của nhân loại. Biển là tài
sản của mỗi quốc gia, là kho tài nguyên, nguồn cung cấp thực phẩm vô cùng phong
phú, là môi trường nuôi sống con người trong quá khứ, ở hiện tại và cả tương lai.
Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển Đông, một biển lớn trên thế giới và giữ vị trí
quan trọng nhất của khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng như của thế giới. Từ bao
đời nay, vùng biển, ven biển và hải đảo đã gắn bó chặt chẽ với mọi hoạt động sản xuất
và đời sống của dân tộc Việt Nam. Theo Tuyên bố ngày 12/07/1977 của Chính phủ
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Công ước của Liên Hợp quốc về Luật
biển năm 1982 thì nước Việt Nam có một vùng biển rộng khoảng 1 triệu km2, gấp 3 lần
diện tích đất liền. Vùng biển và ven biển nước ta có vị trí hết sức quan trọng cả về kinh
tế, chính trị và an ninh - quốc phòng nên từ lâu Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm
đến phát triển kinh tế biển, vùng ven biển và hải đảo.
Với những lợi thế về kinh tế, chính trị và quốc phòng nên Biển Đông đã trở thành
mục tiêu tranh chấp chủ quyền của nhiều quốc gia trong khu vực. Những vấn đề tranh
chấp diễn ra rất phức tạp và nhất là hai quần đảo: Hoàng Sa và Trường Sa, bởi vì hai
quần đảo này giữ một vị trí chiến lược trọng yếu trên Biển Đông. Trong những năm
gần đây, trước sự phát triển vượt bậc về kinh tế và quốc phòng của các nước trong khu
vực, sự tranh chấp về chủ quyền Biển Đông giữa các quốc gia này ngày càng diễn ra
căng thẳng không chỉ trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà còn
cả trong khu vực thềm lục địa của các nước trong khu vực.
Đối với sự phồn vinh của dân tộc, Biển Đông có vị trí và tầm quan trọng vô cùng
triển giáo dục chuyên nghiệp).
Giáo dục biển, đảo là sự truyền đạt và lĩnh hội các kiến thức về biển, đảo Việt
Nam cho người dân Việt Nam nhằm tạo điều kiện cho người dân Việt Nam biết và hiểu
sâu sắc hơn nữa về các vấn đề biển, đảo Việt Nam. Từ đó góp phần củng cố và phát
huy truyền thống yêu nước của dân tộc.
2.1.2.
Tư liệu
Tư liệu là những thông tin trình bày từ tài liệu viết tay, in ấn, từ các đồ vật như:
công cụ sản xuất, công trình kiến trúc, đồ dùng cá nhân, phim ảnh, băng hình,
internet… và là những thông tin sống động từ con người.
Tư liệu giáo dục biển, đảo cho SV là loại tư liệu văn tự tĩnh, được thu thập và
biên soạn trực tiếp dưới dạng giáo trình điện tử bởi nhóm tác giả nghiên cứu khoa học.
2.1.3.
Giáo trình điện tử
Giáo trình điện tử là sự kết hợp một cách logic các phương tiện truyền thông
nhằm tạo ra hiệu quả tối đa cho việc dạy và học thông qua công cụ hỗ trợ đắc lực: máy
vi tính.
Giáo trình điện tử là cầu nối giữa người dạy và người học. Người học có thể học
mọi lúc mọi nơi, xem bài giảng, làm bài trực tuyến và gửi kết quả về cho người dạy.
Người dạy có thể theo dõi kết quả, phản hồi ý kiến cho người học và cập nhật nội dung
bài giảng mọi lúc mọi nơi. Giáo trình điện tử giúp cả người dạy và người học tiết kiệm
thời gian và mang lại hiệu quả cao.
Giáo trình điện tử thiết kế trực quan, sinh động kèm theo các hình ảnh, hiệu ứng
flash, nhạc, phim đem lại cho người học cảm giác yêu thích môn học và tiếp thu nhanh
hơn. Theo Giáo sư Hoàng Kiếm, Giám đốc Trung tâm phát triển Công nghệ Thông tin,
trường Đại học Quốc gia TPHCM nhận định: “Nếu giáo trình điện tử cho một môn học
Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, nội dung kiến thức về biển đảo đã đề
cập kĩ hơn, sâu hơn, đa dạng và toàn diện hơn so với trước đây. Nội dung kiến thức liên
quan đến giáo dục biển đảo trong trường phổ thông được cập nhật theo Công ước Liên
hợp quốc về Luật biển kí kết năm 1982, có hiệu lực vào năm 1984; Hiệp định về phân
định vịnh Bắc Bộ được Việt Nam và Trung Quốc kí ngày 25/12/2000 tại Bắc Kinh.
Những nội dung giáo dục về biển đảo đã được Ủy ban Biên giới quốc gia, Bộ Ngoại
giao đọc và cho ý kiến góp ý.
Nội dung về chủ quyền biển đảo cũng được giáo dục cho học sinh thông qua hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Theo đó, các cơ sở giáo dục đã lồng ghép các nội
dung giáo dục chủ quyền biển đảo vào nội dung sinh hoạt. Một số tỉnh ven biển còn tổ
chức các cuộc thi tìm hiểu về biển đảo quê hương, điển hình như thành phố Hải Phòng,
Đà Nẵng,... Bên cạnh đó, hàng năm, Bộ GD&ĐT đều có công văn hướng dẫn các sở
GD&ĐT tổ chức các hoạt động hưởng ứng tuần lễ "Biển và Hải đảo Việt Nam".
Năm học 2011-2012, Bộ đã tổ chức tập huấn cho hơn 400 giáo viên cốt cán về
các nội dung: Biển Đông và vùng biển nước ta; tài nguyên thiên nhiên biển, đảo đa
dạng, phong phú; bảo vệ môi trường biển, đảo.
Nội dung giáo dục về biển đảo còn được thực hiện thông qua hình thức tổ chức
ngoại khóa đa dạng như: tổ chức hội thi tìm hiểu về biển đảo và chủ quyền biển đảo
nước ta; tổ chức buổi nói chuyện về biển đảo; tổ chức triển lãm, trưng bày học liệu, tư
161
Kỉ yếu Hội nghị sinh viên NCKH
liệu học sinh tìm kiếm được về biển đảo nước ta, sự đa dạng về tài nguyên và môi
trường biển đảo; tổ chức buổi văn nghệ hát về biển đảo quê hương; tổ chức tham quan
cắm trại, dạy học tại thực địa về nội dung biển đảo; tổ chức cho học sinh làm các
chuyên đề về biển đảo.
Năm học 2012 - 2013, Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo các nhà trường tổ chức các hoạt
động giáo dục về nội dung bảo vệ môi trường; đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên;
a
19.5
26
5,2
18,8
229
45,8
124
24,8
53
10,6
Nhiều
Mức độ
Khảo
sát
Tự tìm hiểu thông tin về
98
Nguyên tắc xây dựng
163
Kỉ yếu Hội nghị sinh viên NCKH
2.3.1.1. Nguyên tắc thống nhất giữa mục tiêu giáo dục và truyền thông
Căn cứ vào mục tiêu giáo dục biển, đảo, khi thiết kế giáo trình điện tử, người biên
soạn phải cụ thể hoá được nội dung giáo dục bằng hệ thống câu hỏi, sơ đồ, hình ảnh,...
Tất cả phải chứa đựng nội dung học tập trong đó. Thông qua quá trình truyền thông
(thao tác giữa người học với các phương tiện giáo dục) thì nội dung giáo dục đến được
với người được giáo dục.
2.3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính chính xác của nội dung giáo dục và truyền thông
Khi thiết kế một giáo trình điện tử là chúng ta đi mã hóa các nội dung giáo dục
thành các dạng web chứa nội dung đó. Tuy nhiên, khi thực hiện công việc này đòi hỏi
đảm bảo tính chính xác về nội dung, tính logic. Tức là giáo trình điện tử phải đảm bảo
tính chính xác trong cấu trúc logic của nội dung và trong hoạt động tìm tòi của SV mới
đạt mục tiêu giáo dục đề ra.
2.3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan
Giáo trình điện tử đảm bảo tính trực quan trong giáo dục là điều kiện quan trọng
của tư liệu. Các nguồn tư liệu phải được gia công kĩ thuật và gia công sư phạm sao cho
đẹp, rõ nét, màu sắc hài hoà để người xem có thể quan sát và tiếp thu được dễ dàng.
2.3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo phát huy tối đa vai trò của các giác quan
Khi đảm bảo các nguyên tắc trên trong quá trình xây dựng và sử dụng sẽ đem đến
kết quả là người xem có thể lĩnh hội tri thức nhanh hơn, dễ dàng hơn, sâu sắc hơn và
qua sự hỗ trợ của phương tiện giáo dục độ bền kiến thức được duy trì lâu dài.
2.3.2.
Quy trình xây dựng
2.3.3.3. Trang nội dung
165
Kỉ yếu Hội nghị sinh viên NCKH
Nội dung của tư liệu được thiết kế hoàn toàn bằng các trang html thiết kế trên nền
web, sử dụng phần mềm Dreamweaver. Các banner, tiêu đề của tư liệu được thiết kế
bằng phần mềm Flax 3.0 nhằm tạo hiệu ứng sinh động cho giáo trình.
Hệ thống nội dung tư liệu được thiết kế thành hai chương chính:
+ Chương 1 nêu lên khái quát về Biển Đông, vùng biển Việt Nam và sơ lược về
Luật Biển quốc tế và công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982.
Hình 4. Mục lục chương 1
+ Chương 2 đề cập sơ lược về quá trình xác lập chủ quyền biển, đảo Việt Nam
thông qua các Hiệp định, thỏa thuận kí kết giữa Việt Nam và các nước liên quan đến
Biển Đông. Ngoài ra, trong chương này còn đề cập sơ lược các quá trình tranh chấp
trên Biển Đông đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Từ đó, tác giả phân tích
nguyên nhân của sự tranh chấp và sưu tầm một số bản đồ, chứng cứ khẳng định chủ
quyền của Việt Nam đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Hình 5. Mục lục chương 2
166
Năm học 2012 - 2013
2.3.3.4. Phần trắc nghiệm
trở thành các thầy giáo, cô giáo truyền dạy kiến thức cho nhiều thế hệ học sinh khác.
Việc xây dựng tư liệu giáo trình điện tử là một trong những cách tiếp cận hiệu
quả và khả thi để đạt được mục tiêu hàng đầu là hình thành những hiểu biết về các vấn
đề biển, đảo cho SV. Thông qua đó có thể rèn luyện kĩ năng tiếp cận công nghệ thông
tin cho SV, một trong những kĩ năng rất cần thiết cho những nhà giáo tương lai.
167
Kỉ yếu Hội nghị sinh viên NCKH
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Xuân Bắc (2012), Xây dựng một số bản đồ điện tử hỗ trợ việc học Địa lí
của học sinh lớp 12, Kỉ yếu hội thảo khoa học Những vấn đề Địa lí học và Biến đổi
khí hậu, Khoa Địa lí, Trường ĐHSP TPHCM.
2. Tạ Thi Ngọc Bích, Trần Văn Thương (2012), Vai trò của biển đảo và giáo dục ý
thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam cho học sinh, sinh viên, Kỉ yếu hội
thảo khoa học Những vấn đề Địa lí học và Biến đổi khí hậu, Khoa Địa lí, Trường
ĐHSP TPHCM.
3. Trung tâm Tin học Đại học Sư phạm (2012), Giáo trình điện tử, tài liệu lưu hành
nội bộ.
4. Trung tâm tin học Đại học Sư phạm (2012), Giáo trình Thiết kế Website
Dreamweaver CS5, tài liệu lưu hành nội bộ.
5. Trương Thị Thanh Tuyền và nnk (2011), Tìm hiểu thực trạng công tác giáo dục
biến đổi khí hậu cho học sinh trung học cơ sở huyện Cần Giờ - TPHCM, Kỉ yếu
Hội thảo Sinh viên nghiên cứu khoa học lần VIII, Khoa Địa lí, Trường ĐHSP
TPHCM.
168