LV GIÁO DUC Ý THƯC THẨM MĨ CHO SINH VIÊN Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY
CHƯƠNG 1
NHŨNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHỦ THỂ, KHÁCH THỂ THẨM MĨ
1. 1. Các khái niệm
1.1.1. Chủ thể thẩm mĩ
1.1.1.1. Khái niệm:
Theo từ điển triết học, chủ thể là con người (cá nhân hay nhóm) tiến
hành hoạt động cải tạo thực tiễn. Con người chỉ có thể trở thành chủ thể nhận
thức một khi con người là một thực thể xã hội, có quan hệ với những người
xung quanh, nắm và sử dụng được các loại công cụ và phương tiện của hoạt
động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn mà các thế hệ để lại” [tr.230,
41].
Chủ thể thẩm mĩ là con người (cá nhân hay nhóm) hoạt động về mặt
thẩm mĩ. Trong các hoạt động của mình, con người quan hệ rất nhiều mối liên
hệ với thực tiễn, trong đó có quan hệ về mặt thẩm mĩ. Thực tiễn thẩm mĩ của
con người là các hoạt động hướng về cái đẹp, hoàn thiện cuộc sống theo qui
luật của cái đẹp. Thực tiễn thẩm mĩ của con người vô cùng phong phú và đa
dạng. Nó bao hàm toàn bộ xúc cảm, tình cảm, các quan hệ thưởng thức, đánh
giá và sáng tạo thế giới theo qui luật của cái đẹp.
Đời sống thẩm mĩ mang bản chất của chủ thể thẩm mĩ, trước hết đó là
hoạt động có mục đích. Trong quá trình tiếp xúc với thế giới tự nhiên, con
người khác hoàn toàn với động vật ở tính mục đích, từ đó đối tượng và
phương pháp hoạt động cũng khác. Con người hoạt động một cách tự giác, có
ý thức, biết lựa chọn đối tượng để cải tạo và bằng một phương pháp hợp lí mà
hoạt động của con người trở thành một kiểu hoạt động tinh vi và cao hơn cả
loài vật. Mục đích của con người là cải tạo thế giới và cải tạo chính bản thân
mình. “ Khao khát của con người là sản sinh ra chính mình bằng cách thay đổi
thế giới tự nhiên (tác giả nhấn mạnh). Vì thế, người ta thường nói về sự đồng
hóa hiện thực bằng con người. điều này có nghĩa là con người biến tự nhiên
thành tự nhiên của con người và biến con người thành con người xã hội.
thẩm mĩ.
Đúng vậy, những năng lực hưởng thụ và sáng tạo các giá trị thẩm mĩ có
những yếu tố tâm – sinh lí, có sự di truyền và có cả sự bẩm sinh, nhưng tất cả
các yếu tố đó là những tiềm năng ẩn sâu trong cơ thể mà chúng ta thường gọi
là năng khiếu. Những năng khiếu đó, chỉ giúp cho sự lớn mạnh, sự giàu có của
chủ thể thẩm mĩ, nếu nó được tiếp tục rèn luyện, mài dũa. Một hệ quả tất yếu,
chỉ thống qua hoạt động thực tiễn, qua quá trình cải tạo tự nhiên và cải tạo xã
hội, thì con người mới có thể phát huy những năng khiếu tiềm ẩn trong bản
thân mình.
Từ những nhận định trên, chúng ta có thể thấy, về cơ bản, năng lực thẩm
mĩ không phải là những năng lực bẩm sinh mà nó được nuôi dưỡng và được
bộc lộ thông qua năng lực thực tiễn. Các thành tố của chủ thể thẩm mĩ: cảm
xúc thẩm mĩ, thị hiếu thẩm mĩ, lí tưởng thẩm mĩ được hình thành và phát triển
đúng đắn trong thực tiễn. Sự hình thành các năng lực thẩm mĩ có quan hệ mật
thiết với các quan hệ xã hội. Có những quan hệ xã hội thúc đẩy các năng lực
3
thẩm mĩ đúng hướng và phát triển nhanh. Đó là những quan hệ xã hội tiến bộ,
đáp ứng được các nhu cầu giải trí, là nguồn vui trong lao động, con người thấy
tự do, bình đẳng… còn trong các xã hội mà tràn lan áp bức, bóc lột, bất công,
mất dân chủ, đói nghèo thì sẽ làm thui chột năng lực thẩm mĩ của con người.
Vì vậy, hoàn thiện và nâng cao quan hệ xã hội là một quá trình phát triển các
năng lực thẩm mĩ.
1.1.1.2. Các thành tố cấu thành của chủ thể thẩm mĩ
Tình cảm thẩm mĩ
Sự thoả mãn hay không thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ đã được nảy sinh
tình cảm thẩm mĩ ở con người. Đây là loại tình cảm đặc thù được xuất hiện
trong quá trình thưởng thức, sáng tạo và đánh giá các hiện tượng thẩm mĩ
trong cuộc sống cũng như những tác phẩm nghệ thuật.
Có thể thấy rằng, tình cảm và nhu cầu thẩm mĩ gắn bó hữu cơ với nhau.
Nếu thiếu những tình cảm của con người thì không bao giờ có nhu cầu thẩm
Trên phương diện đạo đức học, tình cảm thẩm mĩ có quan hệ mật thiết
với tình cảm đạo đức, bởi cái đẹp bao giờ cũng nảy sinh từ cái tốt, từ lao động
và đấu tranh phục vụ cho nguồn hạnh phúc của mọi người. Tình cảm thẩm mĩ
đúng đắn thức tỉnh con người đấu tranh cho cái đẹp, cái thiện, bác bỏ cái xấu,
làm cho xã hội văn minh hơn, làm phong phú thêm đời sống tinh thần và dẫn
đến phát triển thị hiếu thẩm mĩ thông qua nghệ thuật. Cần lưu ý rằng, tình cảm
đạo đức gắn chặt với tình cảm đạo đức nhưng không đồng nhất với tình cảm
5
đạo đức. Tình cảm thẩm mĩ bao giờ cũng bao hàm một nội dung hưởng thụ,
thưởng thức, biểu hiện như một nhu cầu được thỏa mãn. Trước một hành vi
đạo đức, con người có thái độ đánh giá căn cứ vào những chuẩn mực nhất
định của xã hội.
Tình cảm thẩm mĩ cũng mang trong lòng nó tính giai cấp, tính dân tộc
và tính thời đại. Chủ thể thẩm mĩ không thể tư duy và sáng tạo nghệ thuật nếu
không có tình cảm thẩm mĩ. Có thể nói, tình cảm thẩm mĩ là động lực của
sáng tạo nghệ thuật. Tình cảm thẩm mĩ càng cao, sự hấp dẫn của tác phẩm
càng lớn, tác động của nghệ thuật càng mạnh.
Con người xã hội, nhân tố tình cảm không bao giờ đứng biệt lập mà
luôn luôn chịu sự tác động của lí trí, thế giới quan, nhân sinh quan, bề dày văn
hóa… Cũng như sự gắn bó khăng khít và tất yếu giữa tình cảm chính trị - đạo
đức và tình cảm thẩm mĩ. Trong thực tiễn, hoạt động sáng tạo của con người
đã hình thành nên những tình cảm thẩm mĩ và chính chúng lại thường xuyên
kích thích, thúc đẩy quá trình sáng tạo. Đây chính là một động lực tinh thần to
lớn giúp chúng ta từng bước vượt qua những khó khăn, gian khổ để hoàn
thành công việc. Đối với hoạt động sáng tạo nghệ thuật, tình cảm thẩm mĩ còn
có vai trò đặc biệt hơn. Chủ thể sáng tạo nếu không có tình cảm thẩm mĩ thì
không thể cho ra đời các tác phẩm nghệ thuật được. Tình cảm thẩm mĩ vừa là
động lực tinh thần thúc đẩy hành vi sáng tạo, vừa là nguyên vật liệu để xây
dựng tác phẩm nghệ thuật. Chủ thể thẩm mĩ đã vật chất hóa các rung động, ấn
tượng, cảm xúc vào trong các tác phẩm nghệ thuật của mình. Vì thế, chủ thể
tiễn lao động và hoạt động xã hội, trong đó kết hợp những yếu tố có tính nhân
loại và những yếu tố thuộc về tầng lớp, giai cấp, giới tính và cá nhân. Thị hiếu
vốn uyển chuyển, dễ đổi thay nhưng lại mang tính cá biệt, nhưng đồng thời nó
chứa đựng một cái gì bền vững và ổn định. Sự thay đổi của đời sống xã hội
gắn liền với sự biến đổi về thị hiếu thẩm mĩ. Thị hiếu thẩm mĩ của một thời
đại, một cộng đồng người luôn biểu thị qua những thị hiếu cá nhân đa dạng,
độc đáo. Về phần mình, thị hiếu thẩm mĩ cá nhân được hình thành trên cơ sở
kinh nghiệm thẩm mĩ của nhân loại, thời đại, đồng thời còn bao hàm những
kinh nghiệm mới mà cá nhân đó trải nghiệm khi tiếp xúc với đời sống thẩm
mĩ.
Nghệ thuật là biểu hiện tập trung nhất, là hạt nhân của thị hiếu thẩm
mĩ.Thị hiếu thẩm mĩ càng phong phú, càng đậm đà, nếu cái vốn hình tượng
tích lũy được của tình cảm thẩm mĩ qua thực tiễn lao động, chiến đấu, qua
hoạt động nghệ thuật ngày càng nhiều. Một thị hiếu thẩm mĩ lành mạnh, sắc
bén, có tính chiến đấu do chiều sâu của các hình tượng đúng đắn được huy
động vào hành động cảm thụ, đánh giá và sáng tạo nghệ thuật. Cố Tổng Bí thư
Trường Chinh đã khẳng định sức mạnh của hình tượng trong nền nghệ thuật:
“Tác dụng mạnh mẽ của văn nghệ trong việc giáo dục và bồi dưỡng con người
mới là do bản thân những hình tượng nghệ thuật phản ánh một cách sinh động
những tính cách và hiện tượng quan trọng và nổi bật nhất trong cuộc sống của
chúng ta ngày nay. Do đó, văn nghệ gây được những ấn tượng sâu sắc và lâu
bền, tạo ra được những rung động mãnh liệt, tác động đến con người một cách
mạnh mẽ” [tr. 200-201,50]. Từ những hình tượng tốt đẹp của cuộc sống hàng
ngày, tâm hồn của công chúng sẽ trở nên phong phú, thị hiếu thẩm mĩ lành
8
mạnh hơn bởi vì quan hệ giữa chủ thể và khách thể thẩm mĩ được tập trung
đầy đủ và sâu sắc trong tác phẩm nghệ thuật.
Thế kỉ XXI là thế kỉ của khoa học và công nghệ cao đã đẩy xã hội đi lên
với tốc độ phi thường, tuy nhiên nó cũng ẩn chứa những dấu hiệu của cuộc
khủng hoảng toàn cầu: lương thực, thực phẩm, năng lượng, tài chính, bệnh
cơ cấu xã hội hoàn chỉnh và một chế độ chính trị dân chủ. Lí tưởng khoa học
vươn tới những chân lí. Lí tưởng đạo đức là quan niệm về cái thiện cao nhất.
Lí tưởng thẩm mĩ là sự biểu hiện khát vọng vươn tới cái đẹp hoàn mĩ, cái đẹp
hài hòa của đời sống thiên nhiên và xoa dịu và xóa bỏ những mâu thuẫn về
mặt thẩm mĩ đang vận động trong đời sống. Chân, thiện, mĩ có quan hệ chặt
chẽ với nhau trong mỗi lí tưởng chân chính.
Lí tưởng thẩm mĩ có tính khách quan xã hội. Đó là hình ảnh về cuộc
sống của một tập đoàn xã hội chứ không chỉ là của cá nhân. Lí tưởng thẩm mĩ
mang dấu ấn sâu sắc của thời đại, dân tộc, giai cấp. Thực tiễn thẩm mĩ diễn ra
khách quan không chỉ là cội nguồn của những lí tưởng thẩm mĩ mà còn là tiêu
chuẩn duy nhất để đánh giá tính chất đúng đắn của lí tưởng thẩm mĩ. Khi
những lí tưởng thẩm mĩ không tuân thủ các tiêu chuẩn của hiện thực khách
quan của các quan hệ thẩm mĩ thì khi đó chúng chỉ con là những ảo tưởng.
Trong xã hội có giai cấp, thì những lí tưởng thẩm mĩ bao giờ cũng
mang tính giai cấp. Tính giai cấp của lí tưởng thẩm mĩ không mang tính vĩnh
cửu, những lí tưởng đó tồn tại trước khi xuất hiện giai cấp và chúng còn tồn tại
10
ngay cả khi giai cấp đã không còn. Mỗi giai cấp, mỗi dân tộc, mỗi thời đại đều
có những mối quan tâm khác nhau, có những phương thức khác nhau trong
việc giải quyết các mâu thuẫn trong cuộc sống và trong nghệ thuật. Vận dụng
một cách linh hoạt và sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể
của Việt Nam, trong suốt tiến trình đấu tranh cách mạng và xây dựng xã hội
mới, Đảng ta đã khắc phục những quan niệm sai lầm về lí tưởng, tạo điều kiện
thuận lợi cho những hoạt động sáng tạo. Lí tưởng thẩm mĩ Mác – Lênin được
hình thành trên cơ sở cuộc đấu tranh tiêu diệt áp bức, bóc lột và xây dựng một
xã hội cao đẹp; là một lí tưởng nhân đạo, nó cổ vũ đẹp và loại trừ cái xấu
trong quá trình vận động của các quan hệ thẩm mĩ, nó tôn thờ những cái đẹp,
cái cao cả, cái anh hùng trong cuộc sống và trong nghệ thuật. Vì thế, lí tưởng
thẩm mĩ Mác – Lênin bao trùm toàn bộ mọi hoạt động sáng tạo ra cái đẹp của
cuộc sống, làm cho cuộc sống và nghệ thuật ngày càng hoàn mĩ.
thế giới chẳng qua chỉ là sự sáng tạo con người kinh qua lao động của con
người” [tr.182, 45]. Lao động đã cải biến mặt sinh học trong con người thành
cái thẩm mĩ. Ph.Ăngghen đã dẫn chứng rằng, lao động đã sáng tạo ra chính
bản thân con người và mọi hoạt động xã hội của con người và của cả loài
người. Quan hệ thực tiễn đầu tiên và cơ bản nhất của con người là lao động.
Điều này đồng nghĩa rằng, chưa có con người và lao động thì chưa có các hiện
tượng thẩm mĩ trong cuộc sống, tức là chưa thể có cái đẹp.
12
Lao động là hoạt động tích cực của con người tác động vào tự nhiên, cải
biến thiên nhiên khiến thiên nhiên trở thành thiên nhiên của con người và từ
đó tạo ra cái đẹp đầu tiên - cái đẹp nằm trong sản phẩm lao động của con
người. Lao động ban đầu mới chỉ ra những sản phẩm thực dụng như cái gậy,
hòn đá… mới chỉ đáp ứng các nhu cầu trước mắt. Cùng với sự tăng lên của
nhu cầu con người về hiệu quả lao động, họ tiếp tục tiến hành chế tạo những
hòn đá và cây gậy mới theo hình ảnh mà họ tưởng tượng ra ở trong đầu. Kết
quả ấy đem lại sự thích thú, từ đó họ có thể tự hào ngắm nghía những thành
phẩm lao động đó mang trong mình tài năng và phẩm chất của con người.
Những sản phẩm hoàn thiện trên đã từ tính hữu dụng mang tính thẩm mĩ. Nó
trở thành cái đẹp. Do đó, cái đẹp ra đời trong quá trình hoàn thiện các công cụ
lao động.
Từ đó thấy rằng, sản phẩm lao động chỉ đẹp khi nó bao gồm tổng thể
các yếu tố có khả năng tác động vào chủ thể thẩm mĩ, gây nên chủ thể những
khoái cảm. Sự thích thú thẩm mĩ, các cảm xúc thẩm mĩ của con người nhờ vậy
cũng ra đời từ trong thực tiễn lao động sản xuất của con người. Những sản
phẩm lao động đó đã được hoàn thiện dần bởi bàn tay lao động của con người.
Những sản phẩm đó là những đứa con tinh thần của chủ thể thẩm mĩ. Dần dần
những sản phẩm này trở thành các yếu tố hấp dẫn, cuốn hút người lao động,
gây nên tâm lí hài hòa, hoàn thiện, đẹp.
Như vậy là, những kinh nghiệm sống hình thành nên tâm lí của sự hợp
lí, sự cân đối, hài hòa, toàn vẹn. Đó là cơ sở để con người đi đến các phán
là đẹp phụ thuộc rất lớn vào bản sắc riêng đó của mỗi chủ thể đánh giá trong
mỗi nghệ thuật.
Cái đẹp mang tính giai cấp. Giai cấp tiến bộ thường hướng đến những
chuẩn mực giá trị gắn liền với cái phát triển. Giai cấp đã hết sứ mệnh lịch sử
thường hay đề cao những chuẩn mực lỗi thời, kìm hãm cái mới.
Tính nhân loại của cái đẹp thể hiện những chuẩn mực chung cho mọi
nhóm người, mọi dân tộc, mọi giai cấp. cái đẹp mang tính nhân loại còn thể
hiện khi chủ thể tiếp xúc với khách thể đã vượt qua mọi đặc tính riêng và
vươn tới những chuẩn mực chung của toàn thể con người. Cần chú ý rằng, tính
nhân loại mang các chuẩn mực đẹp ở tính đồng đại. Về mặt lịch đại, các chuẩn
mực của tính nhân loại cũng chịu sự qui định của yếu tố thời đại. Cái đẹp
trong thời đại phong kiến không thể có được các tiêu chuẩn cái đẹp của xã hội
tư bản. Sự phát triển của loài người sẽ nảy sinh yêu cầu mới về thẩm mĩ, cái
đẹp.
Đặc biệt là, tính thời đại của cái đẹp liên quan đến tính vĩnh cửu qui
chuẩn đẹp, chúng nằm trong mối quan hệ biện chứng. Dù là ở thời đại nào,
cũng có những chuẩn mực cái đẹp riêng. Song, các tiêu chuẩn có tính thời đại
đó là cần những yếu tố của cái chung mà mọi thời đều chấp nhận. Những qui
chuẩn vĩnh cửu là sự kết hợp hài hòa – cái đẹp khách quan qui định, mặt khác,
nó được qui định bởi các tiêu chuẩn lí tưởng mà loài người muốn vươn tới.
Những tiêu chuẩn lí tưởng đó mang tính nhân văn cao cả, gắn liền với cái thật,
cái tốt, cái có ích và sự hoàn mĩ, hoàn thiện. Một sự vật, hiện tượng gọi là đẹp
khi nó hướng tới các giá trị Chân – Thiện – Mĩ.
Nói tóm lại, cái đẹp là một phạm trù cơ bản của mĩ học, giữ vị trí trung
tâm giữa con người và hiện thực ra đời từ thực tiễn, lao động và chiến đấu của
15
con người bao chứa các quan hệ chân – thiện – ích, tồn tại dưới dạng hình
tượng toàn vẹn, cân xứng, hài hòa và gây được khoái cảm thẩm mĩ tích cực
đối với chủ thể xã hội.
1.1.2.2 Cái cao cả
con người và loài người. Trước khi có con người và loài người, các hiện tượng
tự nhiên chưa phát lộ bản chất cao cả của nó.
Cái cao cả tồn tại khách quan, nhưng khách quan trong quan hệ với thực
tiễn thẩm mĩ của con người. Con người có ý chí, ý thức thẩm mĩ sẽ không
ngừng làm phong phú các hiện tượng cao cả: Con người hiện đại đã chinh
phục được những ngọn núi cao, nắm được các qui luật của biển cả tạo ra một
thái độ ứng xử có văn hóa… Cái cao cả là cái đẹp mạnh hơn, cái đẹp lí tưởng
hơn chứ không phải là cái ngoài thẩm mĩ. Theo quan niệm của mĩ học Mác –
Lênin, cái cao cả được đặc trưng bằng chất lượng và gần gũi với lí tưởng. Nó
là cái đẹp trở về với nó tập trung hơn, mạnh mẽ hơn và có ý nghĩa xã hội rộng
lớn hơn.
Trong cuộc sống, cái cao cả là một quá trình sáng tạo không ngừng và
khát vọng vươn lên của con người đã làm nảy sinh sức mạnh của nó. Cái cao
cả biểu hiện trong cuộc sống mang yếu tố thẩm mĩ trước hết là những cái đẹp
của con người. Đó là những cái đẹp trong lao động, trong hành vi, trong các
quan hệ ứng xử, trong đạo đức của con người. cái đẹp đó được nhân rộng ra,
phát triển cao hơn trong những hoàn cảnh khó khăn; cái đẹp từ cái thẩm mĩ
17
bình thường đã mang yếu tố cái cao cả. Cái cao cả trong cuộc sống thể hiện cố
gắng không ngừng của con người, thể hiện khát vọng vươn đến cái vĩ đại. Nếu
như cái đẹp hướng con người vươn tới cái hoàn thiện thì cái cao cả phản ánh
một phẩm chất đáng quí là: trong khi hoàn thiện bản thân mình, con người còn
muốn hũng vĩ hóa con người một cách bất tận, để đáp ứng những nhiệm vụ to
lớn của cuộc sống đang đặt ra trước con người. Đồng thời, cái cao cả cũng
mang đậm dấu ấn của dân tộc và thời đại, đáp ứng các chuẩn mực mà xã hội
đã đặt ra.
Nhìn chung, cái cao cả là một phạm trù mĩ học cơ bản thể hiện sức
mạnh bản chất của con người trong quan hệ thẩm mĩ, mang giá trị cái đẹp
mạnh hơn, gần gũi hơn với lí tưởng xã hội rộng rãi.
1.1.2.3. Cái bi
trì thẩm mĩ phổ biến, mà trước hết là một phạm trù thẩm mĩ của nghệ thuật.
Cái hài thường gắn bó với cái cười. Song không phải cái cười nào cũng
mang tính hài. Cái cười mang tính hài đòi hỏi trước hết phải có một đối tượng
cười, tức là cái có thể gây cười và bị cười. Cái gây cười là sự đối lập, không
cân xứng, không hài hòa. Nó là cái bao chứa mâu thuẫn giữa hình thức và nội
dung, giữa bộ phận và cái toàn thể, giữa ý nghĩa và phương tiện, giữa ước
muốn và khả năng hiện thực, giữa cái được phép và không được phép, quen và
không quen, bình thường và bất thường. Mặt thứ hai của cái cười là chủ thể
19
cười. Bản thân đối tượng cười không thể gây nên tiếng cười nếu chủ thể không
nhận thức được những mâu thuẫn chưa đựng trong nó.
Bên cạnh đó, tiếng cười trong cái hài cũng mang tính xã hội, thể hiện
không chỉ nhận thức mà còn cả thái độ. Cười là hình thức để chế ngự cái xấu.
Dám cười cái xấu là dám tin, tự khẳng định sự tốt đẹp của mình. Cái hài là
một hình thức đánh giá, thể hiện trình độ của con người làm chủ đối tượng,
làm chủ bản thân. Cái hài sẽ đem lại niềm vui, sự sảng khoái và do đó tăng
cường khỏe cho con người. Tiếng cười thể hiện trình độ nhận thức và phẩm
chất của con người. Hơn thế, nó là thứ vũ khí lợi hại, nhằm phê phán những
thói hư tật xấu và đấu tranh chống lại các lực lượng kìm hãm sự phát triển của
con người. Mức độ phổ biến của cái hài là một trong những biểu hiện nói lên
nhu cầu và trình độ dân chủ hóa của xã hội.
1.2. Các quan niệm khác nhau của các nhà mĩ học về môi quan hệ giữa
chủ thể và khách thể thẩm mĩ
Đối tượng nghiên cứu của mĩ học là đời sống thẩm mĩ. Vì vậy, lịch sử
tư tưởng mĩ học một mặt tất yếu gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội, mặt
khác nó là một bộ phận của lịch sử tư tưởng triết học. Nhìn vào lịch sử tư
tưởng mĩ học thế giới, ta thấy nó được phát triển quan nhiều giai đoạn lịch sử
khác nhau với nhiều trường phái và học thuyết khác nhau. Nhưng tựu trung
lại, vấn đề nổi bật là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy
tâm về việc xác lập mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể trong đời sống
21
là tuyệt diệu, - đạo là tuyệt mĩ, nhưng nó không có tên và không thể diện đạt
được, và chỉ những ai “ thoát khỏi những say đắm” mới có thể nhận thức nó
được [tr.65, 59 ] Cái đẹp luôn song hành với cái xấu, cái thiện đi cùng với cái
ác. Cái đẹp gắn với cái giản dị, “ giống như gỗ chưa qua tay người”.
Những nhà mĩ tư tưởng Trung Hoa cổ đại đã đặt cơ sở cho sự phát triển
về sau của những tư tưởng mĩ học Trung Hoa. Những quan niệm của họ về
nghệ thuật, về cái đẹp, về giáo dục của nghệ thuật, lí tưởng thẩm mĩ … đã
được các nhà tư tưởng về sau kế thừa và phát triển, xây dựng nên một nền
nghệ thuật vĩ đại của thế giới.
1.2.2. Tư tưởng mĩ học phương Tây trước C.Mác
1.2.2.1. Tư tưởng triết học – mĩ học Hi Lạp
Nội dung chính của thời kì này là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật
và chủ nghĩa duy tâm, xét đến cùng, đó là sự phản ánh cuộc đấu tranh giữa các
lực lượng tiến bộ và các lực lượng phản động trong xã hội chủ nô. Trong các
học thuyết triết học nổi lên hai trường đối lập nhau đó là chủ nghĩa duy vật và
chủ nghĩa duy tâm.
Một điểm đáng lưu ý trong thời kì này là, trong hệ thống triết học của
mình, thẩm mĩ học là phần kết lại của cuộc đời tìm tòi và sáng tạo của các nhà
triết học lỗi lạc, như tác phẩm Phê- đơ -rơ của Pla- tông, Thi pháp của A- ri- x
tốt. Điểm chung của các công trình nghiên cứu này của các nhà triết học – mĩ
học Hi Lạp cổ đại là nhìn nhận mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể thẩm
mĩ từ góc độ bản thể luận. Triết học - mĩ học Hi Lạp dựa trên luận điểm “ Con
người là thước đo của vạn vật” để khám phá vẻ đẹp của con người. Về cơ bản,
mĩ học Hi Lạp cổ đại là đi tìm sự kết hợp hài hòa giữa tự nhiên và con người,
giữa con người và con người trong xã hội.
22
Nếu như các nhà tư triết học như Hê -ra -clit, Đê- mô- crít, … nhìn nhận
cái đẹp mang tính khách quan, vốn có của vũ trị, vũ trụ là hiện thân của sự hài
hòa, cân đối, có trật tự. Các nhà triết học Hi lạp đã giải quyết mối quan hệ
Để làm rõ bản chất đặc sắc của nghệ thuật, A- ri- xtốt so sánh nghệ thuật
với khoa học lịch sử, “ thơ ca thực hơn lịch sử”[tr. 36, 28]. Nếu như khoa học
lịch sử tái hiện lại những sự kiện đã xảy ra một cách trung thực, khách quan
thì nghệ thuật không chỉ trình bày cái đã xảy ra mà quan trọng hơn, nó hướng
tới qui luật tất yếu phải xảy ra. Người nghệ sĩ không bắt chước một cách máy
móc mà anh ta còn tái tạo hiện thực và, đề xuất một kiểu mẫu, ở đó chúng ta
thấy bản chất sự vật một cách sáng tạo hơn - Thực tế nghệ thuật bao giờ cũng
ở trên hoặc ở dưới hình mẫu tự nhiên. Ông khẳng định: “ sự khác nhau giữa
hài kịch và bi kịch chính là bi kịch muốn tô đậm những con người cao đẹp,
còn hài kịch thì bôi nhọ những con người xấu xa, hơn là những gì ta thường
trong thấy” [tr. 24, 28].
1.2.2.2. Tư tưởng mĩ học Tây Âu thời kì phong kiến
Sau khi phương thức sản xuất cổ đại sụp đổ, đời sống kinh tế, văn hóa –
xã hội đầy biến động và đảo lộn. Từ đế quốc La Mã hùng mạnh, hàng loạt các
nhà nước phong kiến xuất hiện như Anh, Pháp, Đức … Cốt lõi xã hội là nền
sản xuất nông nghiệp. Các lãnh chúa phong kiến mọc lên nhan nhản. Vị trí cá
nhân phụ thuộc vào vị trí của dòng họ. Nét tiêu biểu của đời sống tinh thần
24
của thời kì này là sự thống trị tuyệt đối của thần học, nghệ thuật chịu sự lan
tỏa của tôn giáo.
Do đặc điểm “ đói ở trần thế phải no ở thiên đường”, mĩ học thời phong
kiến Châu Âu phủ định cái đẹp ở trần thế, tôn vinh cái đẹp ở thiên đường.
chính nguyên nhân này mà không có nghệ thuật của hiện thực, nghệ thuật bị
lợi dụng làm công cụ cho công cuộc truyền giáo và trang trí nhà thờ. Điểm đặc
sắc của mĩ học giai đoạn này là phát hiện ra vẻ đẹp tâm linh của con người. Vì
vậy, đối tượng nghiên cứu của mĩ học giai đoạn này chủ yếu được xem xét
trong mối quan hệ giữa đức tín và lí trí, giữa sống và chết, thân xác và linh
hồn, giữa trần thế và thiên đường.
Ô- guyt - xtanh quan niệm chúa là cái đẹp tuyệt đối, bất biến, trường
tồn, không thể hủy diệt. Và vượt lên trên tất cả các phẩm tính đó, Thiên chúa