Cơ sở, nội dung và tầm quan trọng của nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế - Pdf 34

MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh sự phát triển của khoa học kĩ thuật thế giới hiện nay, việc các quốc
gia phát triển khoa học kĩ thuật của mình vào cấc lĩnh vực nhằm phục vụ cho mục đích an
ninh quốc gia là điều tất yếu. Tuy nhiên, nếu quốc gia lại dùng những nghiên cứu của
mình để phát động chiến tranh xâm lược quốc gia khác hay bằng các biện pháp phi quân
sự khác nhằm mục đích sử dụng sức mạnh của mình nhằm đạt được một số lợi ích nhất
định thì đây lại là những hành động vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc của luật quốc tế
hiện đại. Cụ thể đó là nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan
hệ quốc tế

1


NỘI DUNG
I. Cơ sở, nội dung và tầm quan trọng của nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe
dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế:
1. Cơ sở của nguyên tắc:
a) Cơ sở thực tiễn:
Trước Chiến tranh thế giới thứ I, việc các quốc gia sử dụng vũ lực trong quan hệ
quốc tế không hề bị giới hạn bởi một quy phạm pháp luật quốc tế nào. Nó tùy thuộc vào ý
muốn chủ quan của từng quốc gia và quan hệ quốc tế cụ thể.
Sau Chiến tranh thế giới thứ I, Hiệp ước Paris ngày 27/8/1928 về việc không dùng
chiến tranh như một công cụ quốc sách, tuy còn có nhiều điểm hạn chế, nhưng trong hiệp
ước đã có qui định một cách dứt khoát và cụ thể nguyên tắc cấm xâm lược. Tại điều 1 của
nguyên tắc qui định: “ Các bên tham gia hiệp ước trịnh trọng tuyên bố lên án việc dùng
chiến tranh để giải quyết các tranh chấp quốc tế và tuyên bố không dùng chiến tranh như
một công cụ quốc sách trong quan hệ với nhau”.
Nguyên tắc cấm chiến tranh xâm lược được khẳng định lại và phát triển thêm trong
quy chế của Tào án quốc tế Niu-răm-be và Tokyo xét xử bọn tội phạm Đức – Nhật đã gây
ra cuộc Chiến tranh thế giới lần II chống loài người. Theo hai bản quy chế này, Luật quốc
tế cấm chiến tranh xâm lược cũng như cấm chuẩn bị cho cuộc chiến tranh đó.

nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực có nội dung rộng hơn nhiều bao
gồm ngoài việc cấm xâm lược vũ trang còn cấm cả các hình thức xâm lược khác như xâm
lược về kinh tế, tư tưởng và những sự xâm lược gián tiếp... đồng thời với cả những hành
động đe dọa sử dụng vũ lực. Việc mở rộng nội dung của nguyên tắc cấm chiến tranh xâm
lược là thắng lợi của các lực lượng tiến bộ và yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Nó hoàn
toàn phù hợp với tình hình thế giới sau thế chiến II.
b) Cơ sở pháp lí:
Như trên đã phân tích, nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong
quan hệ quốc tế được qui định cụ thể trong Hiến chương Liên hợp quốc tại chương I, Điều
2, khoản 4.
Trong khuôn khổ những nỗ lực của Liên hợp quốc, nguyên tắc cấm dùng vũ lực và
đe dọa sử dụng vũ lực đã từng bước được cụ thể hóa qua các văn kiện quốc tế quan trọng,
đáng chú ý là Tuyên bố về những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh mối quan hệ
hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc được Đai
hội đồng Liên hợp quốc thông qua theo Nghị quyết số 2625, ngày 14/1/1970. Tuyên bố đã
đặt lên hàng đầu nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực. Phát triển nguyên tắc
đã được Hiến chương xác lập trước đó, Tuyên bố chỉ rõ: “Mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ
việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự toàn vện lãnh
thổ hoặc nền độc lập chính trị của bất kì quốc gia nòa... Việc đe dọa dùng vũ lực như trên
sẽ cấu thành sự vi phạm luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc và không bao
giờ được sử dụng như là một biện pháp để giải quyết các vấn đề quốc tế”.
Tuyên bố này là một văn kiện có giá trị pháp lí quốc tế vì nó là bằng chứng thể hiện
sự đồng thuận của cộng đồng quốc tế trong việc nhận thức, cụ thể hóa và cam kết thực
hiện các nguyên tắc cơ bản được nêu lên trong Hiến chương lIên hợp quốc, trong đó bao
gồm nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực.
Sau đó Liên hợp quốc đã tiếp tục thông qua một số văn kiện khác liên quan đế
nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe sọa sử dụng vũ lực. Đáng chú ý là Nghị quyết về
3



tranh làm công cụ quốc sách để giải quyết các tranh chấp quốc tế.
- Bản án tòa án quốc tế Niu-răm-be qui định “chiến tranh xâm lược không những là
hành động không hợp pháp, mà còn là hành động tội ác”, “gây chiến tranh xâm lược
không đơn giản là tội ác mang tính chất quốc tế, mà còn tội ác quốc tế nghiêm trọng
nhất”.
- Hiến chương Liên hợp quốc, Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc
cấm các quốc gia dùng vũ lực để thực hiện những mục đích trái với mục đích của Hiến
4


chương Liên hợp quốc. Trong các hình thức “vũ lực” thì trước hết cấm sử dụng vũ lực
quân sự, tức là xâm lược vũ trang.
b) Cấm xâm lược gián tiếp, xâm lược về kinh tế và xâm lược về tư tưởng:
Như đã trình bày, theo Luật quốc tế hiện đại các quốc gia có nghĩa vụ không được
tiến hành những hành động xâm lược vũ trang và cả các hình thức xâm lược khác, cụ thể
là xâm lược về kinh tế và xâm lược về tư tưởng..
- Xâm lược gián tiếp: là phương pháp hoạt động phá hoại phổ biến của chủ nghĩa
đế quốc và bọn phản động quốc tế chống lại các quốc gia khác. Xâm lược gián tiếp khác
với xâm lược vũ trang ở chỗ quốc gia xâm lược hoạt động giấu mặt thông qua người khác.
Những hành động sau đây có thể gọi là xâm lược gián tiếp:
+ Xúi giục, giúp đỡ các quốc gia khác đi xâm lược để thực hiện mưu đồ chính trị
của mình.
+ Khuyến khích các hành động phá hoại như khủng bố, tàn sát chống nước khác.
+ Khích động gây nội chiến ở nước khác.
+ Hoạt động lật đổ chính quyền ở các nước khác một cách có lợi cho mình.
- Xâm lược kinh tế: là phương pháp hoạt động phá hoại phổ biến của các nước đế
quốc và bọn phản động quốc tế nhằm gây sức ép đối với các nước yếu thế hơn bắt các
nước này phải phụ thuộc vào chúng về kinh tế và chính trị.
Những hình thức xâm lược kinh tế có thể là:
+ Áp đặt những điều ước kinh tế thương mại không bình dẳng, mang tính nô dịch.

Những hành động này đều trái với tinh thần và nội dung của Hiến chương Liên hợp
quốc. Các quốc gia gây ra những hành động như vậy phải chịu trách nhiệm theo qui định
của luật quốc tế.
3. Các trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử
dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế:
Hiện nay, Hiến chương Liên hợp quốc chỉ qui định hai trường hợp sử dụng hợp
pháp lực lượng vũ trang vào mục đích tự vệ (Điều 51) và theo quyết định của Hội đồng
bảo an (HĐBA) Liên hợp quốc khi có sự đe dọa hòa bình, xâm phạm hòa bình hoặc bị
xâm lược (các điều từ 39 đến 42).
a) Quyền tự vệ chính đáng:
Điều 51 Hiến chương qui định: “Không một điều khoản nào trong Hiến chương này
làm tổn hại đến quyền tự vệ cá nhân hay tập thể chính đáng trong trường hợp thành viên
của Liên hợp quốc bị xâm lược, cho đến khi HĐBA tiến hành các biện pháp nhằm duy trì
hòa bình và an ninh thế giới. Các biện pháp mà các quốc gia đã tiến hành phải được thông
báo ngay lập tức cho HĐBA và các biện pháp này không hề ảnh hưởng đến quyền hạn và
trách nhiệm của HĐBA, theo qui định của Hiến chương này, hành động nhanh chóng theo
cách thức mà cơ quan này cho là cần thiết để duy trì và lập lại hòa bình và an ninh thế
giới”. Như vậy, Hiến chương thừa nhận quyền tự vệ chính dấng của các quốc gia hay nói
cách khác là có quyền dùng vũ lực quân sự để đánh trả sự tấn công vũ trang của các nước
khác, nhưng không đưa ra được định nghĩa về khái niệm “xâm lược”.
Phải đến ngày 14/12/1974, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã nhất trí thông qua Nghị
quyết 3314 về định nghĩa xâm lược. Theo đó, xâm lược là việc một nước sử dụng lực
lượng vũ trang tấn công, vi phạm đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hoặc nền độc lập
chính trị của một nước khác hoặc dưới bất kì hình thức nào khác. Nghị quyết trao quyền
cho HDBA kết luận có hay không hành vi xâm lược trong các tình huống cụ thể.
Tuy nhiên quyền tự vệ này của quốc gia được qui định hết sực nghiêm ngặt là đã có
6


sự tấn công vũ trang của nước khác và chỉ khi nào đã bị tấn công vũ trang thì các quốc gia

1. Thực tiễn việc sử dụng vũ lực:
a) Một số trường hợp sử dụng vũ lực bất hợp pháp:
* Việc NATO sử dụng vũ lực ở Kosovo:
Cuộc khủng hoảng ở Kosovo (đây là một tỉnh tự trị của Cộng hòa Serbia thuộc Liên
bang Nam Tư) diễn biến dai dẳng và phức tạp. Năm 1989, Milosevic đã xóa bỏ qui chế tự
7


trị mà Tito trao cho Kosovo từ năm 1974. quyết định này đã không được người dân ở
Kosovo phục tùng trong một thời gian dài.
Năm 1992, quan hệ giữa chính quyền Ben-grat và một bộ phận dân chúng ở
Kosovo căng thảng đến mức Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu (OSCE), được sự chấp
thuận của chính phủ Nam Tư, đã triển khai một lực lượng ngăn chặn xung đột tại một số
tỉnh của Serbia là Kosovo, Vojvodin và Sandijak. Phái đoàn này đã phải rút đi sau vài
tháng sau đó theo yêu cầu của chính quyền Ben-grat. Trong những năm 90, tình hình ở
khu vực này trở nên rất căng thẳng. Nhằm chống lại những hoạt động đàn áp của chính
quyền Ben-grat, nhiều phong trào chính trị dã xuất hiện ở Kosovo. Với sự ra đởi của các
lực lượng này ở Kosovo nhằm vào các đại diện chính phủ Nam Tư ngày càng gia tăng,
dẫn đến những đợt trấn áp mạnh tay bằng lực lượng cảnh sát và lực lượng bán quân sự của
chính quyền Ben-grat. Nghị quyết 1160 và 1199 của HĐBA về giải quyết vấn đề tại
Kosovo đã được đưa ra nhằm khẳng định “tình trạng đang xấu đi ở Kosovo là một mối đe
dọa cho hòa bình và an ninh khu vực”; đồng thời HĐBA đã yêu cầu các nhà chức trách ở
Nam Tư và nhà lãnh đạo người dân Kosovo duy trì lệnh ngừng bắn ở Kosovo, và Cộng
hòa liên bang Nam Tư phải áp dụng ngay các biện pháp cụ thể nhằm giải quyết tình hình
ở Kosovo bằng con đường chính trị.
Tại các đoạn 16, 17 của Nghị quyết 1199, HĐBA tuyên bố nếu chính quyền Bengrat không tuân thủ những cảnh báo của Liên hợp quốc, HĐBA sẽ xem xét bước tiếp theo
và các biện pháp bổ sung. Đay là văn kiện duy nhất của HĐBA mà các thành viên NATO
có thể sử dụng để biện minh cho các hành vi trấn áp của mình vì trên thực tế HĐBA đã
không thông qua được một nghị quyết nào do có sự phản đối của một số thành viên.
Năm 1998, với vai trò trung gian của Mỹ, tình hình tại đây có xu hướng dịu lại.

đó, Tổng thu kí NATO đã bật đèn xanh cho ACTORD (ch phép hành động quân sự) mà
Hội đồng NATO đã thông qua từ trước.
NATO đã tiến hành can thiệp mà không cần viện dẫn tới điều 5 của Hiệp ước Bắc
Đại Tây Dương. Ngày 17/3, Tổng thư kí NATO gửi thư cho Chủ tịch HĐBA nêu rõ “hoạt
động quận sự được tiến hành là nhằm bảo vệ các mục tiêu của cộng đồng quốc tế”. Chiến
dịch không kích lúc đầu còn hạn chế sau đó mở rộng ra với qui mô lớn. Tổng thống Serbia
từ chối chấp nhận những điều kiện mà nhóm tiếp xúc đưa ra.
Ngay từ ngày 26/3/1999, Belarus, Ấn Độ và Nga đã trình lên HĐBA một dự thảo
Nghị quyết. Dự thảo này coi việc NATO sử dụng vũ lực là vi phạm trắng trợn Hiến
chương Liên hợp quốc và yếu cầu dừng ngay hoạt động can thiệp. Dự thảo này đã bị bác
bỏ với 12 phiều chống, chỉ có 3 phiếu thuận. Như vậy là dù không tán đồng với hành động
can thiệp, HĐBA cũng không lên án hành vi can thiệp đó. Tuy nhiên, đây không thể hiểu
là một sự cho phép của HĐBA, bởi việc HĐBA cho phép phải được thể hiện bằng một
nghị quyết rõ ràng.
Với những nỗ lực trung gian được triển khai trong suốt chiến dịch không kích,
NATO và Nam Tư đã cùng thương lượng về các vấn đề quân sự, kí kết hiệp định kĩ thuật
quân sự ngày 9/6/1999. hiệp định này đã dẫn tới một loạt các sự kiện sau đó: Nam Tư
bước đầu rút quân, NATO tạm hoãn các vụ không kích theo lệnh của Tổng thư kí, HĐBA
bỏ phiếu thông qua Nghị quyết 1244, Hội đồng khối NATO cho phép triển khai lực lượng
KFOR.
Với những tuyên bố của NATO trong việc đưa quân can thiệp vào Kosovo khó có
thể nói rằng việc này đã tạo thành một tiền lệ mới về can thiệp nhân dạo, bởi lẽ, tại các
cuộc thảo luạn của Đại hội đồng Liên hợp quốc về chủ đề này, rất nhiều nước đã bày tỏ
quan điểm phản đối mạnh mẽ. Đại đa số các thành viên Liên hợp quốc khó có thể chấp
nhận việc các cường quốc chủ yếu có thể tự cho mình quyền can thiệp dựa trên những
đanh giá của riêng họ về tình hình nhân đạo. Chỉ có điều, nhờ nghị quyết 1244 của
9


HĐBA, lực lượng quân sự của NATO ở Kosovo đã được thừa nhận một cách rõ ràng về

thống Georgia Saakashvili nói rằng đã chống trả lại một âm mưu của quân đội Nga xâm
chiếm lãnh thổ Georgia. Ngược lại Moscow cũng cho rằng đã tiến hành can thiệp dể bảo
vệ dân cư hai khu vực nổi dậy mang hộ chiếu Nga. Nhiều câu hỏi được đặ ra là vì sao xảy
ra cuộc chiến tranh Nga – Ossetia
* Xung đột ở Afghanistan:
Sau khi chính quyền do quân đội Liên Xô hậu thuẫn sụp đổ, Afghanistan đã trải qua
10


một thời kì tranh giành quyền lực giữa các phe phai trong suốt thập niên 90. một trong các
phe phái này lừ lực lượng Taliban đã thắng thế, chiếm giữ thủ đô Kabul và phần lớn lãnh
thổ từ năm 1998, đồng thời hị thiết lập một chính quyền vô cùng hà khắc đối với nhân dân
đến mức rất nhiều tổ chức phi chính phủ tham gia giúp đỡ trực tiếp dân chúng ở vùng này
đã phải lên tiếng vì sự vi phạm nhân quyền của chính quyền.
Chính quyền Taliban không phản ứng những đòi hỏi của Liên hợp quốc được nêu
ra tại Nghị quyết 1267 yêu cầu trao nộp Oussama Bin Laden cho các cơ quan có thẩm
quyền và trong năm 2000, các băng nhóm có liên quan đến Oussama lại tiến hành thêm
nhiều cuộc tấn công mới. Diễn biến tình hình được Liên hợp quốc theo dõi chặt chẽ.
Với việc thông qua Nghị quyết 1333 của HĐBA, theo đó sẽ áp dụng các biện pháp
phong tỏa đối với Taliban và Oussama. Tuy nhiên chính quyền Taliban đã không thực thi
các quyết định này mà tiếp tục dung nạp Oussama, đồng thời từ chối hợp tác với các nước
đang truy lùng hắn.
Sau vụ tấn công hôm 11/9, ngày hôm sau 12/9, dưới sự chủ trì của Pháp, HĐBA đã
họp và ra thông qua Nghị quyết 1368 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng “thừa nhận quyền tự
vệ chính đáng của cá nhân hay tập thể, phù hợp với Hiến chương..., cực lực lên án các
cuộc tấn công khủng bố kinh hoàng diễn ra hôm 11/9... và coi những hành động này như
các hoạt động khủng bố quốc tế khác, là mối đe dọa đối với hòa bình và an ninh thế giới”
Nghị quyết 1368 không coi các cuộc tấn công khủng bố nhằm vào Mỹ là hành động
xâm lược vũ trang nhưng lại ngầm khẳng định rằng Mỹ có quyền trả đũa dựa trên cơ sở
Điều 51 Hiến chương. Như vậy Nghị quyết 1368 đã mở đường cho Mỹ hành động và chỉ

plotinium cấp độ vũ khí và thực hiện vụ thử hạt nhân lần hai.
Hai nhà ngoại giao cấp cao tham gia đàm phán về nghị quyết trừng phạt của Liên
hợp quốc phát biểu rằng, Trung Quốc không bao giờ nói rõ thực sự họ cõ ý định thực hiện
nghị quyết trừng phạt mới hay không. Đại sứ trung Quốc, Zhang Yesui phát biểu nghị
quyết này cho thấy sự phản đối gay gắt của cộng đồng quốc tế đốic với tham vọng hạt
nhân của Triều Tiên, đồng thời ông cũng thúc giục các nước thận trọng khi kiểm tra hàng
hóa của Triều Tiên và ông còn nhấn mạnh “dù trong hoàn cảnh nào cũng không nên đe
dọa sử dụng vũ lực”.
2. Vai trò của Liên hợp quốc đối với việc thực hiện nguyên tắc cấm sử dụng vũ
lực và đe dọa sử dụng vũ lức trong quan hệ quốc tế:
Trong phạm vi chức năng, quyền hạn của mình trong nhiều năm qua Liên hợp quốc
đã có nhiều nỗ lực trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Tuy nhiên trong tình
hình quốc tế hiện nay, sự chi phối của các cường quốc mạnh tới chức năng và hoạt động
của Liên hợp quốc là không thể phủ nhận.
Chính vì thế mà trong nhiều trường hợp khi các cường quốc này có những sự vi
phạm về các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc nhất là nguyên tắc cấm sử dụng
vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, thì HĐBA (cơ quan được giao
trách nhiệm chính trong việc duy trì an ninh thế giới) đã không có được bất kì một hành
động nào nhằm phản đối hay ngăn chặn việc đưa quân bất hợp pháp vào lãnh thổ quốc gia
khác (chẳng hạn như trường hợp Mỹ đưa quân vào Kosovo với lí do bảo vệ nhân quyền)
hay ngầm đồng ý cho Mỹ và quân đồng minh đưa quân vào Afghanistan và Iraq hay can
thiệp vũ trang vao lãnh thổ quốc gia khác.
Liên hợp quốc đã bị chỉ trích không ít lần do không thể hành động một cách rõ ràng
và kiên quyết trong việc nhanh chóng giải quyết các vấn đề liên quan đến việc các quốc
gia sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực nhằm trả đũa quân sự hoặc chạy đua vũ
trang giữa các quốc gia (chẳng hạn như giữa Nga và Israel, hay giữa Nga và Mỹ

12



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status