Chia tàisản chung của vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay và hướng hoàn thiện pháp luật về vấn đề này - Pdf 34

I. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Chế độ tài sản chung của vợ chồng được quy định tại các điều 27, 28
của Luật HN&GĐ năm 2000 là chế độ tài sản pháp định với hình thức chế
độ cộng đồng tạo sản (tài sản mà vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân
được xác định là tài sản chung, trừ những tài sản theo qui định của pháp luật
thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng). Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế xã hội
hiện nay cũng như trên thực tế nhiều cặp vợ chồng muốn được chia tài sản
chung trong thời kỳ hôn nhân (có thể xuất phát từ mâu thuẫn giữa vợ chồng
trong quản lý sử dụng, định đoạt tài sản chung xuất phát từ mâu thuẫn về
tình cảm, song họ không muốn ly hôn nhưng muốn được độc lập về tài sản
để tránh phát triển mâu thuẫn và được độc lập trong cuộc sống). Tuy nhiên
việc chia tài sản riêng của vợ và chồng trong điều kiện kinh tế xã hội hiện
nay dù các nhà làm luật có cố gắng hoàn thiện đến đâu cũng không thể
không có những thiếu sót và bất cập, nhằm có một cái nhìn đúng đắn hơn và
có một cách hiểu sâu sắc hơn về vấn đề này em xin chọn đề tài “Chia tài
sản chung của vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân trong điều kiện kinh
tế xã hội hiện nay và hướng hoàn thiện pháp luật về vấn đề này”. Do đây
là một đề tài lớn, và dù em có cố gắng trình bày vấn đề này một cách ngắn
gọn, cô đọng, nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong
nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo. Em xin chân thành
cảm ơn!

II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
1. Chia tài sản chung của vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân trong điều
kiện kinh tế xã hội hiện nay.
1.1 Cơ sở pháp lý:
Xuất phát từ thực tế ngày càng có nhiều các cặp vợ chồng muốn chia
tài sản chung của mình trong thời kỳ hôn nhân để đầu tư kinh doanh riêng,
để thực hiện nghĩa vụ tài sản riêng, để cấp dưỡng riêng và lý do chính đáng
khác, Luật HN&GĐ năm 2000 trên cơ sở kế thừa Luật HN&GĐ năm 1986
(Điều 18 ) tiếp tục quy định chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong

giữa các thành viên khác trong gia đình.
+ Thứ hai, trên cơ sở kế thừa những quy định tiến bộ của Luật hôn
nhân và gia đình năm 1986, quy định tại Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình
còn nhằm đảm bảo quyền tự chủ của vợ chồng khi tham gia vào các quan hệ
kinh tế xã hội nhất định. Với tư cách là công dân, vợ hoặc chồng đều có
quyền thực hiện các quyền năng hợp pháp của mình (quyền tự do kinh
2


doanh, quyền tham gia các giao dịch dân sự). Để tránh những hậu quả không
tốt có thể xảy ra, ảnh hưởng đến kinh tế chung gia đình, cũng như tạo điều
kiện thuận lợi cho vợ chồng được tự do thực hiện các quyền và nghĩa vụ hợp
pháp của mình thì pháp luật quy định vợ chồng có quyền yêu cầu Toà án
chia tài sản chung cho vợ chồng ngay trong thời kì hôn nhân còn tồn tại.
+ Thứ ba, quy định này đảm bảo quyền lợi của người thứ ba khi tham
gia giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng. Hiện nay, việc duy trì và
phát triển đời sống gia đình đã thúc đẩy vợ chồng tham gia rộng rãi vào các
giao dịch dân sự. hoạt động này mang lại lợi ích cho vợ chồng, cũng như
phát sinh nghĩa vụ của vợ chồng với bên thứ ba tham gia giao dịch. Để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, người thứ ba cần phải biết quyền sở
hữu của vợ chồng đối với tài sản để xác định phạm vi giao dịch, mức độ tài
sản của vợ chồng trong việc thực hiện nghĩa vụ. Quy định này nhằm tạo ra
sự công bằng, hợp lý, bảo đảm sự an toàn về tài sản không những cho người
thứ ba mà còn cho cả gia đình.
1.3 Các trường hợp chia tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân.
Theo quy định tại điều 18 Luật hôn nhân và gia đình 1986 thì việc
chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân còn tồn tại là trường hợp đặc
biệt, chỉ khi có lí do chính đáng thì mới được chia. Tuy nhiên, trên thực tế,
việc áp dụng quy định này rất khó khăn khi xác định thế nào là có lí do
chính đáng và quy định phải được Toà án chấp nhận là sự can thiệp khá sâu

hưởng nặng nề khi việc kinh doanh thua lỗ.
Việc chia tài sản chung cũng có thể được yêu cầu ngay cả trong
trường hợp người có nhu cầu đầu tư kinh doanh không có ý định đưa tài sản
được chia vào khai thác trong khuôn khổ hoạt động đầu tư, mà chỉ muốn
chứng tỏ với mọi người về tiềm lực vật chất trong tay mình, nhằm củng cố
lòng tin cậy của các đối tác có quan hệ làm ăn với mình.
+ Thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng
Theo Bộ luật Dân sự, nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc
nhiều chủ thể phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ
có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất
định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác. Việc thực hiện nghĩa vụ dân
sự riêng là việc thực hiện nghĩa vụ mà chỉ một người (vợ hoặc chồng) phải
thực hiện còn người kia (chồng hoặc vợ) không phải liên đới thực hiện. Việc
thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng này chỉ nhằm để thực hiện đúng nghĩa vụ
phải thực hiện, chứ có mục đích nhằm để phát sinh lợi (vì nếu nhằm để phát
sinh lợi thì sẽ thuộc trường hợp chia để đầu tư kinh doanh riêng). Nghĩa vụ
dân sự riêng bao gồm các trường hợp thực hiện nghĩa vụ phát sinh do giao
dịch do một bên thực hiện trước thời kì hôn nhân hoặc không nhằm đáp ứng
nhu cầu thiết yếu của gia đình. Nghĩa vụ dân sự riêng thường phải phát sinh
trước khi chia tài sản chung. Có như vậy việc chia tài sản chung mới là cần
4


thiết để cho một trong hai người có thể thực hiện được nghĩa vụ này. Tuy
nhiên cũng có trường hợp nghĩa vụ riêng là nghĩa vụ trong tương lai. Bởi
vậy, việc chia tài sản chung cũng có thể được tiến hành nhằm bảo đảm việc
thực hiện một nghĩa vụ mà ở thời điểm tài sản chung được phân chia, chỉ
nằm trong dự tính của vợ chồng. Tuy nhiên nó phải có tầm quan trọng nhất
định thì mới được coi là chính đáng. Luật chỉ dự liệu trường hợp chia tài sản
để thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng chứ không hề dự liệu việc chia tài sản để

phép chia tài sản chung phải được đánh giá kĩ lưỡng về bản chất và mức độ
trầm trọng của các nguyên nhân làm rạn nứt gia đình. Nếu không đánh giá
đúng lí do chính đáng sẽ dẫn tới việc lạm dụng các quy định của pháp luật,
nhằm mục đích không chính đáng, làm phản tác dụng và giảm giá trị của
quy phạm pháp luật. Ngoài trường hợp nêu trên, có thể coi những trường
hợp ngoại lệ sau là có lí do chính đáng :
- Vợ, chồng được xác định mất tích.
- Một bên có hành vị phá tán tài sản hay hoang phí tài sản chung của
gia đình mà bên kia ngăn cản nhưng không được.
- Một trong hai người bị tịch thu tài sản do phạm tội.
- Mâu thuẫn vợ chồng, tình trạng trầm trọng, đời sống chung không
thể kéo dài nhưng vì danh dự, vì con cái mà không li hôn.
1.4 Những phát sinh từ việc chia tài sản chung để kinh doanh riêng
Thứ nhất theo quy định tại khoản 1 điều 29 thì vợ chồng có thể chia tài sản
chung để tiến hành hoạt động đầu tư kinh doanh bằng thỏa thuận hoặc quyết
định của tòa án, tuy nhiên khi nghiên cứu quy định của luậ thì có thấy một
số vướng mắc, xuất phát từ điều 57 hiến pháp 1992 và điều 50 BLDS (công
dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật ) việc ghi nhận
quyền chia tài sản chung của vợ chồng để đầu tư kinh doanh là cụ thể hóa
một trong những quyền hiến định của công dân, bảo đảm nguyên tắc tự chủ
tự định đoạt trong hoạt động sản xuất kinh doanh mặt khác quy định này
cũng hướng tới bảo vệ lợi ích chung của gia đình, tránh những rủi ro có thể
phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh ảnh hưởng không tốt đến cuộc
sống chung của gia đình. Tuy nhiên nếu vì nhu cầu kinh doanh riêng mà vợ
chồng chia hết tài sản chung thì lúc này trách nhiệm của mỗi bên trong việc
đảm bảo đời sống chung xẽ như thế nào? Rõ ràng đây là một quy định chưa
thật sự chặt chẽ của pháp luật có thể dẫn tới tình trạng biệt sản trong thời kỳ
hôn nhân vì vậy việc chia tài sản sẽ dẫn tới vợ chồng chỉ chú tâm vào hoạt
động sản xuất kinh doanh mà sao nhãng trách nhiệm của mình đối với sự ổn
định của gia đình trong đời sống chung.

2.1 Về quan hệ nhân thân.
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân không làm chấm dứt
các quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng. Mặc dù có sự phân chia tài sản
giữa vợ và chồng nhưng quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại, vì vậy thì các quyền
và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng không hề hay đổi, vợ chồng tiếp tục
phải thực hiện những quyền và nghĩa vụ đó. Thực tế cho thấy, nhiều cặp vợ
chồng yêu cầu chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân nhằm mục đích tiến
hành các hoạt động sản xuất kinh doanh riêng vì không muốn ảnh hưởng đến
lợi ích gia đình, mặt khác là đảm bảo đời sống ổn định của gia đình, đây là
điểm tích cực cần khuyến khích. Do vậy cũng cần khẳng định rằng, việc chia
7


tài sản chung trong thời kì hôn nhân không phải là gián tiếp quy định chế
định ly thân. Mặt khác, luật HN&GĐ không quy định chế độ ly thân.

2.2Về quan hệ tài sản.
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân sẽ làm
phát sinh những hậu quả pháp lý nhất định được quy định tại Điều 30 Luật
HN&GĐ 2000.Về vấn đề này cũng được hướng dẫn cụ thể trong Điều 8
nghị định 70/2001. Như vậy, từ các quy định trên ta thấy được 1 số điểm
quan trọng sau:
2.2.1 Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân
sẽ xác lập quyền sở hữu riêng của vợ chồng với tài sản đã được chia:
Tài sản chung sau khi được chia thì đó sẽ trở thành tài sản riêng của
vợ và chồng, họ có toàn quyền đối với khối tài sản riêng của mình, có đầy
đủ các quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của
mình. Vợ chồng tự quản lý tài sản riêng của mình, nghĩa vụ riêng về tài sản
của mỗi người được thanh toán bằng tài sản riêng (Khoản 1 Điều 33 Luật
HN&GD 2000). Như vậy có thể coi việc chia tài sản chung trong thời kì hôn

sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng.”
Như vậy theo quy định của pháp luật thì tài sản thuộc sở hữu chung
của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân bao gồm:
Phần tài sản chung không chia và hoa lợi lợi tức phát sinh từ phần tài sản
chung đó. Nếu ta xét theo quy định của Khoản 1 Điều 27 Luật HN&GĐ
2000: “ Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu
nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp
pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được
thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ
chồng thoả thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung
của vợ chồng.”
Và so sánh với khoản 2 Điều 8 – NĐ70 “Thu nhập do lao động, hoạt
động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên
sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ
chồng có thoả thuận khác.” Như vậy, ta có thể thấy rằng tài sản chung của
vợ chồng sau khi đã chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân còn bao gồm
cả những tài sản mà vợ chồng được tặng cho chung, được thừa kế chung và
những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Đối với tài sản
chung thì vợ chồng có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định
tại điều 28 Luật HN&GĐ 2000. Như đã phân tích ở phần trên thì quy định
tại khoản 2 điều 8 NĐ70/2001 là có phần trái với quy định của điều 27 Luật
9


HNGĐ 2000 và bộc lộ nhiều điểm chưa hợp lý. Do vậy cần quy định thêm
những thu nhập của vợ chồng sau khi chia tài sản riêng không liên quan đến
tài sản riêng là tài sản chung. Ví dụ như tiền lương, tiền thưởng, tiền công
lao động… của vợ chồng không liên quan đến việc tiến hành sản xuất kinh
doanh từ phần tài sản riêng là tài sản thuộc hình thức sở hữu chung của vợ



theo phần. Điều đó mâu thuẫn với các quy định về sở hữu trong hệ thống
pháp luật nước ta làm phức tạp thêm các mối quan hệ của vợ chồng về tài
sản. Để phát huy được những ưu điểm của việc chia tài sản chung trong thời
kì hôn nhân chúng ta phải nhanh chóng củng cố những quy định chưa hợp lý
này, và có những quy định thật chặt chẽ.
4. Những hạn chế trong chế định chia tài sản chung của vợ và chồng
trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay và hướng hoàn thiện pháp luật về
vấn đề này:
Thứ nhất: Việc pháp luật HN&GĐ chỉ công nhận vợ, chồng hoặc cả hai vợ
chồng có quyền yêu cầu Toà án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân,
quyền khởi kiện của người thứ ba trong trường hợp này không được thừa
nhận (Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000), là hoàn toàn phù hợp về mặt
nguyên tắc. Tuy nhiên, nếu áp dụng qui định này vào thực tiễn vẫn còn vấn
đề bất cập cần phải có sự vận dụng linh hoạt hơn. Theo luật hiện hành, khi
vợ, chồng có nghĩa vụ tài sản riêng thì nghĩa vụ tài sản đó được thực hiện
bằng tài sản riêng của họ, tài sản chung của vợ chồng không sử dụng cho
việc thanh toán các khoản nợ này trừ khi vợ chồng có thoả thuận (Điều 33
Luật HN&GĐ năm 2000). Vấn đề đặt ra là, rất có thể người có nghĩa vụ tài
sản không có hoặc không đủ tài sản riêng để thanh toán các khoản nợ và vợ
chồng đã không có thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung để
trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản. Trong trường hợp này, nếu không
thừa nhận quyền yêu cầu của người có quyền (chủ nợ) về chia tài sản chung
của vợ chồng để lấy phần tài sản của người có nghĩa vụ thanh toán nợ, thì
quyền lợi của họ được đảm bảo như thế nào?
Theo em, pháp luật cần qui định rõ: Trong trường hợp người có quyền có đủ
chứng cứ cho rằng, vợ chồng không có thoả thuận hoặc không yêu cầu Tòa
án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhằm mục đích trốn tránh thực
hiện nghĩa vụ về tài sản, thì người có quyền có thể yêu cầu Toà án chia tài

thoả thuận toàn bộ tài sản chung được chia, tài sản của ai làm ra thuộc về
người đó, thì khi đó lợi ích gia đình được đặt ở vị trí nào? Nếu thoả thuận
này được thực hiện thì quan hệ hôn nhân chỉ còn tồn tại về mặt nhân thân,
còn quan hệ tài sản giữa vợ chồng đã được dân sự hóa, bản chất của hôn
nhân XHCN vì thế không được thực hiện.
Theo em, để phát huy được mục đích, ý nghĩa của chia tài sản chung trong
thời kỳ hôn nhân cần bổ sung vào khoản 1 Điều 6 Nghị định số 70 một nội

12


dung bắt buộc trong văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng là:
Tài sản bảo đảm cho các nhu cầu chung của gia đình.
Ngoài ra cũng cần quy định cụ thể: Trong trường hợp vợ chồng không thoả
thuận được việc bảo đảm các nhu cầu chung của gia đình, thì có thể yêu cầu
Tòa án giải quyết. Toà án quyết định mức đóng góp của các bên trên cơ sở
nhu cầu thực tế của gia đình và khả năng kinh tế của các bên hoặc quyết
định không chia toàn bộ tài sản chung, phần tài sản chung không chia được
sử dụng cho nhu cầu của gia đình.
Thứ tư: Luật HN&GĐ năm 2000 và Nghị định số 70 quy định các trường
hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà không có lý do chính đáng
thì bị Toà án tuyên bố là vô hiệu. Tuy nhiên, Luật HN&GĐ lại không quy
định ai là người có thể yêu cầu Toà án hủy bỏ thỏa thuận chia tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân trong trường hợp thỏa thuận này vi phạm các điều
kiện được qui định tại Điều 29 Luật HN&GĐ hoặc gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến đời sống gia đình, đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục con chưa thành niên, con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi
dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Mặt khác, Luật HN&GĐ cũng chưa quy định hậu quả pháp lý của việc Tòa
án tuyên bố vô hiệu đối với thoả thuận chia tài sản chung. Theo em, cần quy

đó có tranh chấp về việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành
niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng
lao động, không có thu nhập, không có tài sản để tự nuôi mình. Để bảo vệ
các quyền và lợi ích hợp pháp của các con, theo em, pháp luật cần quy định
rõ: Trong trường hợp sau khi chia tài sản chung, vợ chồng có tranh chấp về
chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên
mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động, không có thu
nhập và không có tài sản để tự nuôi mình, thì Toà án quyết định theo yêu
cầu của vợ, chồng hoặc của các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Việc giải quyết tranh chấp liên quan đến con áp dụng tương tự qui định về
quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con khi ly hô

III. KẾT THÚC VẤN ĐỀ.
Như vậy, từ những phân tích trên đây, chúng ta có thể nhận thấy Luật
Hôn nhân và gia đình đã khẳng định vợ, chồng có quyền có tài sản riêng và
có xác định rõ nguồn gốc phát sinh tài sản riêng, cơ sở lý luận và thực tiễn
của việc thừa nhận quyền sở hữu tài sản riêng của vợ, chồng. Đồng thời
cũng nêu ra một số quy định hạn chế của luật và cách thức giải quyết.
14


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1. Giáo trình luật hôn nhan và gia đình Việt Nam, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội – 2009.
2 . Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam,
Nguyễn Văn Cừ, Luận án tiến sĩ Luật Học, 2005
3. Luật hôn nhân gia đình năm 1986.
4 . Luật hôn nhân và gia đình 2000, Nxb Lao động - Xã hội.

15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status