HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
BÀI TIỂU LUẬN
*********
Đề tài: Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với
Trung Quốc trong kháng chiến chống Mỹ
Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Trung Quốc 1954 – 1975
Hà Nội ngày 11 tháng 3 năm 2011
Mục lục
Mở đầu .................................................................................................2
Giai đoạn 1954 – 1959
1. Bối cảnh.............................................................................................4
2. Chính sách........................................................................................6
3. Triển khai..........................................................................................7
4. Đánh giá............................................................................................8
Giai đoạn 1960 – 1975
1. Bối cảnh.............................................................................................9
2. Chính sách.......................................................................................10
3. Triển khai.........................................................................................11
4. Đánh giá...........................................................................................13
Kết luận................................................................................................13
2
Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Trung Quốc 1954 – 1975
vì vậy đòi hỏi Đảng phải có cái nhìn linh hoạt, thay đổi chính sách đối
ngoại với Trung Quốc sao cho phù hợp với tình hình hai nước và thế giới.
Như các tài liệu chia thời kì chống Mỹ của Việt Nam ra hai chặng :
Chặng 1 từ 1954 – 1959, chặng 2 từ 1960 – 1975, quan hệ Việt – Trung
cũng có những nét thay đổi theo 2 thời kì tương ứng, với 2 đường lối
chính sách khác nhau.
Như vậy, trong phạm vi bài tiểu luận của mình, nhóm chúng tôi sẽ
tìm hiểu Chính sách đối ngoại Viêt Nam – Trung Quốc theo hai phần
chính:
Chính sách đối ngoại Việt Nam đối với Trung Quốc thời kì đầu
chống Mỹ (1954 - 1959)
Chính sách đối ngoại Việt Nam đối với Trung Quốc nửa sau thời kì
chống Mỹ (1960 – 1975)
Để làm rõ được hai chính sách đối ngoại trên hai thời kì này, nhóm
chúng tôi sẽ lần lượt tìm hiểu : Bối cảnh (trong nước, quốc tế), Chính
sách đối với Trung Quốc, Triển khai chính sách, Đánh giá nhận xét về
kết quả và ý nghĩa của chính sách.
4
Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Trung Quốc 1954 – 1975
5
Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Trung Quốc 1954 – 1975
I. Giai đoạn 1954-1959
1. Bối cảnh
thứ hai đến giữa thập kỷ 50 đã đạt nhiều kết quả tốt đẹp, mặc dù gặp
nhiều khó khăn. Hai nước đi đầu trong hệ thống xã hội chủ nghĩa là Liên
Xô và Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu trên các mặt kinh tế, quân
sự, tạo động lực khuyến khích và thúc đẩy sự phát triển của các nước xã
hội chủ nghĩa khác, trong đó có Việt Nam.
Có thể thấy,Mỹ là cường quốc chi phối các nước tư bản chủ nghĩa;
Liên Xô và Trung Quốc thi hành chính sách đối ngoại khác nhau và đều
có những điểm khác với đường lối cách mạng của Việt Nam. Tuy nhiên,
trong giai đoạn này, ý thức hệ tác động rất lớn đến sự tin tưởng của chính
phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa vào Trung Quốc, điều này ảnh hưởng
trực tiếp đến chính sách của ta đối với Trung Quốc.
b. Tình hình trong nước
Sau 9 năm chiến đấu (1945 - 1954) , miền Bắc được giải phóng và
đi lên chủ nghĩa xã hội. Sau khi quân đội Pháp rút đi, nhân dân ta phải tập
trung hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, bảo đảm đời
sống, củng cố, xây dựng miền Bắc thành hậu phương chiến lược của cả
nước. Tình hình an ninh ở miền Bắc vẫn còn phức tạp do thực dân Pháp,
đế quốc Mỹ và bọn phản động phá hoại. Vùng mới giải phóng, chính
quyền cơ sở mới hình thành, chưa được củng cố kiện toàn.
Miền Nam Việt Nam từ sau khi ký kết Hiệp nghị Giơnevơ, tồn tại
ba lực lượng chính trị, quân sự chủ yếu là: Pháp (và các thế lực thân
Pháp), Mỹ (và các thế lực thân Mỹ) và các lực lượng cách mạng miền
Nam. Pháp và các thế lực thân Pháp nhanh chóng bị gạt bỏ, còn lại hai
lực lượng đối lập nhau gay gắt là: Mỹ - Diệm và lực lượng cách mạng
miền Nam. Đi đôi với quá trình hất cẳng Pháp, tiêu diệt các thế lực thân
7
Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Trung Quốc 1954 – 1975
Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Trung Quốc 1954 – 1975
tận dụng mọi sự giúp đỡ có được từ phía Trung Quốc để tập trung xây
dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa và củng cố lực lượng quân sự, đồng
thời tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân Trung Quốc trong cuộc đấu tranh
chống đế quốc Mỹ. Hơn nữa, do Liên Xô lúc này đang giương cao ngọn
cờ “ cùng tồn tại hòa bình với tư bản chủ nghĩa” ta cần phải tranh thủ
khai thác khéo léo mâu thuẫn Xô Trung để kéo Trung Quốc ủng hộ ta với
nhiệm vụ khởi nghĩa vũ trang thống nhất đất nước.
3. Triển khai chính sách
Triệt để đi theo chính sách thân thiện, đoàn kết hữu nghị với Trung
Quốc, Việt Nam đã tận dụng mọi sự giúp đỡ và viện trợ có được từ phía
Trung Quốc. Cụ thể là ta đã nhận được sự viện trợ đáng kể để hoàn thành
kế hoạch ba năm khôi phục kinh tế 1955-1957 và kế hoạch ngắn hạn ba
năm phát triển kinh tế 1958-1960. Nhờ đó ta mới có thể có điều kiện xây
dựng miền Bắc với những bước nhảy vọt mới về kinh tế, tiến hành cải
cách ruộng đất, cải tạo quan hệ sản xuất, đẩy mạnh sản xuất, tạo điều kiện
củng cố và bảo vệ chính quyền miền Bắc, chi viện cho nhân dân miền
Nam cả về lương thực, vũ khí đạn dược.
Bên cạnh đó, ngoài việc bản thân kinh tế miền Bắc phát triển đã có
thể chi viện cho miền Nam về quân sự, từ năm 1956 đến đầu những năm
60, ta đã nhận viện trợ về quân sự của Trung Quốc gần 320 triệu nhân
dân tệ. Năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên chính thức dẫn đầu
đoàn đại biểu Đảng và chính phủ Việt Nam đi thăm các 3 nước xã hội
chủ nghĩa trong đó có Trung Quốc, thể hiện tinh thần hữu nghị, đoàn kết
và hợp tác giữa các nước anh em, thắt chặt hơn nữa sợi dây kết nối mối
quan hệ Việt Trung và thể hiện sự trân trọng sâu sắc đối với những giúp
đỡ và ủng hộ của Chính phủ và nhân dân Trung Quốc. Đến năm 1958, khi
mọi nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc thực hiện thống nhất nước
cuộc vùng lên giành độc lập thống nhất dân tộc.
10
Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Trung Quốc 1954 – 1975
Chính sách này được đưa ra hoàn toàn hợp lí đối với tình hình của
ta lúc bấy giờ, tuy nhiên với việc hoàn toàn tin tưởng vào bạn, ta đã bị lệ
thuộc khá nhiều vào Trung Quốc, thiếu sự chủ động trong việc tự minh đề
ra đường lối, dẫn đến việc phải đến những năm 60 ta mới chủ động kiên
quyết trong việc giành lại độc lập thống nhất đất nước.
II. Giai đoạn 1960-1975
1. Bối cảnh
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, giữa các nước XHCN với nhau đã
có mối quan hệ nhìn chung là gắn bó trên cơ sở lý tưởng chung và mục
đích chung là xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh chống chủ nghĩa tư
bản đế quốc, kẻ thù chung của nhân loại. Nhưng trong những quá trình
phát triển đó cũng đã phát sinh những vấn đề bất đồng trong quan hệ giữa
các nước XHCN với nhau. Đến khi mâu thuẫn Xô-Trung bùng nổ công
khai thì phạm vi những bất đồng này càng trở nên gay gắt và toàn diện.
Liên Xô có những ưu thế mạnh mẽ về chính trị, muốn củng cố cơ chế hai
cực và xác lập vị thế hàng đầu trong phe XHCN trong khi Trung Quốc là
một nước dân số đông, có nhiều điều kiện địa lý thuận lợi cũng muốn
nắm vị trí số một nên nỗ lực phá cơ chế hai cực. Trong giai đoạn này,
mâu thuẫn Xô Trung đã lên đến đỉnh cao. Đầu năm 1965, (sau khi
Khơrusốp bị hạ bệ), Ban lãnh đạo mới của Liên Xô có sáng kiến đề nghị
cùng Trung Quốc lập cầu hàng không và hành động thống nhất ủng hộ
nhân dân Việt Nam chống Mỹ, một vấn đề tưởng chừng hai bên sẽ dễ đạt
được sự nhất trí và sẽ là bước khởi đầu cho quá trình hòa giải giữa hai
nước XHCN anh em đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc lâm vào tình thế
đối kháng cao trào khiến cho Mỹ cũng rất quan tâm khai thác yếu tố này
để triển khai cuộc chiến tại Việt Nam. Tuy nhiên chúng ta cũng đã có
những đường lối ngoại giao khéo léo, chính sách kiên định đoàn kết với
Trung Quốc cũng như các nước XHCN khác, trên tinh thần quốc tế chân
chính, vì lợi ích lâu dài, biết phát huy mặt mạnh, mặt tích cực của từng
nước để thu hẹp mặt hạn chế trong mối quan hệ giữa ta và bạn và Trung
12
Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Trung Quốc 1954 – 1975
Quốc đã trở thành một hậu phương quốc tế mạnh của Việt Nam. Dù quan
điểm lập trường, đường lối, chính sách đối nội, đối ngoại, của hai bên
Việt Nam và Trung Quốc có những lúc hoàn toàn khác biệt, trái ngược
nhau trong một thời gian khá dài, nhưng nhìn chung phía Việt Nam vẫn
tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ rất lớn về nhiều mặt của Trung Quốc
do nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, Đảng ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài
tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho Ban lãnh đạo Trung Quốc tin
chắc là trong bất kỳ tình huống nào Việt Nam cũng không bao giờ chống
hoặc đi với ai để chống Trung Quốc, chống những lợi ích chính đáng của
họ. Thứ hai, Trung Quốc muốn chứng tỏ vị trí tiên phong và lãnh đạo của
mình trong phong trào giải phóng dân tộc của các nước thuộc thế giới thứ
ba và trở thành người anh cả XHCN. Thứ ba, tuy chiến lược đối ngoại
của các nhà lãnh đạo Trung Quốc với Việt Nam có sự thay đổi lớn giữa
các giai đoạn nhưng có một mục tiêu cơ bản không hề thay đổi là đưa
Trung Quốc trở thành cường quốc bậc nhất thế giới và thực hiên mưu đồ
bành trướng và bá quyền. Vì vậy sự giúp đỡ của họ với Việt Nam không
nằm ngoài mục đích này. Tuy vậy chính sách đối ngoại của Việt Nam với
ủng hộ thế “vừa đánh vừa đàm” của ta : “Sự nhiệt tình của một nước
XHCN với một nước XHCN khác là xuất phát từ tinh thần vô sản. Chúng
tôi không bao giờ nghĩ nhiệt tâm là có hại. Nếu các đồng chí nhiệt tâm
giúp đỡ thì chúng tôi sẽ đỡ hy sinh hai hay ba triệu người. Miền Nam
chúng tôi sẽ chống Mỹ đến cùng và chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần
quốc tế vô sản”. Đây là minh chứng cho chính sách khéo léo của Đảng ta
với Trung Quốc trong giai đoạn lịch sử phức tạp này, thể hiện tinh thần
giữ vững lập trường nhưng cũng cần hậu phương vững chắc là Trung
Quốc. Về vấn đề “ cách mạng văn hóa”, phía ta cũng chịu sức ép ủng hộ
nhưng chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn cách làm “ không ủng hộ cũng
không phản đối” như những nước XHCN khác và tránh sa vào cuộc nội
chiến đẫm máu đó.
Năm 1971-1972, Trung Quốc dành cho Việt Nam khoản viện trợ
cao nhất so với những năm trước đó để dùng sức ép Việt Nam đi đến
14
Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Trung Quốc 1954 – 1975
thỏa hiệp với Mỹ và nhằm che đậy việc hòa hoãn Trung Mỹ vì lo ngại
liên minh Xô Mỹ thành lập sẽ không có lợi. Trước tình hình đó, nhân dân
Việt Nam vẫn kiên cường đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ và tin
tưởng và thắng lợi của mình. Khi phía Trung Quốc thông báo với ta rằng
trong chuyến thăm Trung Quốc, Níchxơn cũng sẽ cùng những người lãnh
đạo Bắc Kinh bàn về vấn đề Việt Nam, lãnh đạo ta đã thẳng thắn nói: “
Việt Nam là của chúng tôi; các đồng chí không được bàn với Mỹ về vấn
đề Việt Nam” và “ tuyên bố “ trong cuộc chiến đấu chống Mỹ, nhân dân
Việt Nam phải thắng. Tới đây, đế quốc Mỹ có thể đánh phá trở lại miền
Bắc ác liệt hơn nữa nhưng nhân dân Việt Nam không sợ, nhân dân Việt
Nam nhất định thắng”. Đây là chính sách không nhân nhượng của Đảng
kết với nhân dân Trung Quốc, đồng thời cũng quý trọng tình đoàn kết
hữu nghị với nhân dân Liên Xô và thực tế là trên thế giới đã hình thành
mặt trân nhân dân thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của
nhân dân Việt Nam. Điều này đóng vai trò hết sức quan trọng trong thắng
lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta.
16