Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch Chùa Hương, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây - Pdf 34

ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một quốc gia có tài nguyên thiên nhiên phong phú và hệ sinh
thái đa dạng điển hình. Đây chính là tiềm năng và thế mạnh để phát triển du
lịch sinh thái. Tuy nhiên du lịch ở nước ta mới chỉ dừng lại ở du lịch đại chúng.
Do đó, vấn đề đặt ra là hướng hoạt động du lịch theo hình thức du lịch sinh
thái, phát triển du lịch gắn với bảo vệ tài nguyên và góp phần cải thiện chất
lượng cuộc sống của cộng đồng.
Khu du lịch Chùa Hương là một vùng non nước cẩm tú, sơn thuỷ hữu tình,
có cảnh đẹp nhất trời Nam. Chùa Hương cũng được coi là miền đất của đạo
Phật với những truyền thuyết mang ý nghĩa đặc thù, đặc biệt lễ hội Chùa
Hương là lễ hội dài nhất Việt Nam (bắt đầu từ tháng giêng đến tháng ba âm
lịch) và thu hút được lượng khách đông nhất, lượng khách du lịch tính đến ngày
06/4/2008 là 1.024.342 người. Sự có mặt của du khách cùng với những hoạt
động du lịch đã có những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường nơi đây. Cần phải
có những đánh giá về hiện trạng những ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến
môi trường để đưa ra các giải pháp khắc phục những tác động tiêu cực đến khu
du lịch nhằm phát triển du lịch một cách bền vững. Xuất phát từ thực tế và tính
cáp thiết của vấn đề, tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh
hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch Chùa Hương,
xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây”.

1


Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Các khái niệm
Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO), 1994: “Du lịch là một tập hợp các
hoạt động và dịch vụ đa dạng, liên quan đến việc di chuyển tạm thời của con
người ra khỏi nơi ở thường xuyên của họ nhằm mục đích tiêu khiển, nghỉ ngơi,
văn hoá, dưỡng sức,…và nhìn chung là vì những lí do không phải để kiếm

nhiên với con số khoảng 600 triệu người đi du lịch mỗi năm đã tạo ra những
thách thức đáng kể cả về mặt sinh thái, kinh tế và xã hội.
Về sinh thái, du lịch thiên nhiên sau đó đã để lại những quang cảnh hoang
tàn. Các loài thú hoang bị quấy nhiễu buộc phải rời bỏ nơi ở hoặc bị tiêu diệt
dần, các cánh rừng bị tàn phá để lấy không gian cắm trại, lấy củi đốt hoặc cung
cấp hàng lưu niệm…Ngày nay có nhiều du khách và chính quyền địa phương
nhận thấy tác hại của du lịch thiên nhiên đến giá trị của thiên nhiên và mối
quan tâm của nhân dân địa phương. Du lịch thiên nhiên càng phát triển thì
những rủi ro nó mang lại cho thiên nhiên và đời sống xã hội càng lớn. Việc xác
định sức chứa của một khu du lịch vẫn đang là một thách thức lớn đối với
những nhà quản lý và lập kế hoạch. Xác định giới hạn có thể cảm nhận sự thay
đổi môi trường sống gây ra bởi hoạt động du lịch, đảm bảo tính bền vững của
khu vực…Du lịch tự nhiên phát triển đã như một loại hình du lịch đến rồi lại
chạy xa vô trách nhiệm. Một sự tràn vào của dòng người yêu mến thiên nhiên ở
những điểm mới nhất, sau đó lại bỏ rơi sau khi đã khàm phá và làm suy thoái.
(David Western, 1999).
Về kinh tế, các nhà quản lý du lịch, quản lý các khu bảo tồn và chính quyền
địa phương đều có chung một điểm là họ thường xuyên tìm kiếm lợi nhuận
kinh tế từ du lịch sinh thái. Tuy nhiên, trong trong những vấn đề này họ phải
đối diện với hai khái niệm: giá trị kinh tế và lợi ích kinh tế. Thực tế cho thấy du
lịch sinh thái đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho những người quản lý, những
nhà chức trách địa phương, song lại làm mất đi nguồn lợi thường nhật của
người dân địa phương. Mâu thuẫn về kinh tế càng làm cho nguồn tài nguyên bị
3


khai thác và cạn kiệt hơn. Du lịch sinh thái đã phát triển như một loại hình có
ảnh hưởng tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển của cộng đồng địa phương, loại
hình sản xuất mà người dân luôn chịu “thiệt thòi” từ quá trình khai thác tài
nguyên sinh thái.

và được nhiều người biết đến. Có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh
vực du lịch như: Đề tài tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam; Quy hoạch tổng thể
phát triển du lịch Việt Nam; Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân vùng du lịch Việt
Nam; Tổ chức lãnh thổ du lịch; Quy hoạch du lịch Quốc Gia và vùng Nam.
Những nội dung chính của quy hoạch phát triển du lịch cùng với nhiều công
trình khác tập trung nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn của du lịch với quy
mô và phạm vi lãnh thổ.
Thực tế những năm gần đây đã được khá nhiều người nghiên cứu quan tâm
đến là sự phát triển của du lịch và hoạt động của nó đã tác động đến môi trường
tự nhiên và xã hội điển hình như: Lê Văn Lanh, Nguyễn Bá Thụ, Nguyễn Hữu
Dũng, Phạm Trung Lương…Điều này cho thấy rằng vấn đề môi trường trong
hoạt động du lịch đang ngày càng quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết.
Ngoài ra các tạp chí, ấn phẩm, báo chí cũng đề cập nhiều đến vấn đề tác động
của nó đến môi trường, xã hội, kinh tế như: Nguyễn Hoài Nam, Trần Thanh
Lâm, Nguyễn Tài Cung…

5


Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG,
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu
Nghiên cứu những ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu
du lịch Chùa Hương, từ đó đưa ra các giải pháp góp phần vào quá trình xây
dựng và phát triển du lịch bền vững tại Chùa Hương.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những ảnh hưởng tích cực, tiêu cực của
hoạt động du lịch tới môi trường tại khu du lịch Chùa Hương.
2.3. Nội dung nghiên cứu

du lịch Chùa Hương, Uỷ ban nhân dân xã Hương Sơn, các đề tài nghiên cứu
khoa học, tạp chí, tài liệu có liên quan đến đề tài. Trên cơ sở đó chọn lọc, cập
nhập thông tin tiến hành đánh giá và xử lý các vấn đề phù hợp với mục tiêu
nghiên cứu của đề tài.
b. Phương pháp điều tra thực địa
Tác giả tiến hành điều tra thực địa trên hai tuyến du lịch tiêu biểu là: tuyến
Hương Tích và tuyến Tuyết Sơn nhằm nắm được đặc trưng lãnh thổ một cách
rõ ràng, đánh giá được các tác động của hoạt động du lịch đến với môi trường
tại khu vực thông qua:
* Quan sát trực tiếp: Trong quá trình điều tra, tác giả đã luôn quan sát cảnh
quan thiên nhiên như các chỉ thị sinh học,…; điều kiện cơ sở hạ tầng như: hệ
thống giao thông, điện lưới, cấp thoát nước, cơ sở lưu trú,…trong khu vực.
* Phỏng vấn:
+ Đối tượng phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn, thăm dò ý kiến từ nhiều đối
tượng khác nhau như: khách du lịch, cán bộ nhân viên trong khu du lịch Chùa
Hương, cộng đồng dân cư địa phương.
+ Phương pháp phỏng vấn:
Phỏng vấn thông qua trao đổi trò chuyện.
Phỏng vấn trên cơ sở phác thảo các ý tưởng cơ bản.
Phỏng vấn bằng phiếu điều tra với hệ thống những câu hỏi lựa chọn và câu hỏi mở.
7


+ Mẫu điều tra là khác nhau đối với các đối tượng khác nhau:
Khách trong nước: 50 mẫu
Khách nước ngoài: 30 mẫu
Người dân địa phương, nhà quản lý: 30 mẫu
+ Thời gian điều tra: Đề tài tiến hành điều tra trong thời gian một tháng
thực tế tại khu vực tuyến Hương Tích, tuyến Tuyết Sơn, các quầy dịch vụ, địa
bàn dân cư xã Hương Sơn; mẫu biểu điều tra ở phần phụ lục.

kết quả điều tra xã hội học, điều tra thực địa, phân tích để thấy được mức độ phức tạp
của lãnh thổ từ đó xác định được tính toàn vẹn để thấy được sự ảnh hưởng của du
lịch đến tài nguyên môi trường, cộng đồng dân cư tại khu du lịch Chùa Hương.
b. Phương pháp tính điểm cho các tác động dựa theo thang điểm của Likert.
Tác động của du lịch sẽ được là rõ bằng cách tính điểm trung bình cho các câu
trả lời của người dân về tác động của du lịch đến từng yếu tố theo thang điểm
Likert. Các câu trả lời cho các tác động của du lịch đến từng yếu tố sẽ tương ứng
với thang điểm 5 của Likert với điểm thấp nhất là -5 và cao nhất là +5. Theo đó,
tác động rất xấu ứng với -5 điểm, tác động xấu tương ứng với -2,5 điểm, không có
tác động gì (không ảnh hưởng) ứng với điểm 0, tác động tốt ứng với 2,5 điểm và
tác động rất tốt ứng với 5 điểm. Các câu trả lời không biết (không có câu trả
lời) không được tính trong phần điểm trung bình.
Dựa vào điểm trung bình của mỗi yếu tố có thể biết được tác động của du
lịch đến yếu tố ấy ở mức độ nào, theo hướng tích cực hay tiêu cực. Giá trị tuyệt
đối của điểm trung bình càng lớn chứng tỏ tác động của du lịch tới yếu tố đó
càng lớn. Điểm trung bình là số dương chứng tỏ tác động của du lịch là tích cực
và ngược lại là tiêu cực.

9


Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm tài nguyên du lịch sinh thái tại khu du lịch Chùa Hương.
Cái đẹp của quần thể di tích Hương Sơn được tác thành bởi nhiều yếu tố:
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Chùa Hương với tổng diện tích 4280 ha gồm 6 thôn thuộc xã Hương Sơn:
Hội Xá, Đục Khê, YếnVỹ, Phú Yên. Trung tâm khu du lịch cách thủ đô Hà Nội
60 km về phía Nam, cách trung tâm huyện Mỹ Đức về phía Đông Nam 10 km.

hang động, làm cho chúng trở nên vô cùng hấp dẫn. Ngoài ra vùng giáp ranh
đồng bằng phù sa còn có các hang động thành tạo do cát, sét, sỏi sạn. Phần nền
hang đá được tạo dựng lâu đời vào giai đoạn người cổ đại sinh sống.
c. Địa chất, thổ nhưỡng.
Theo những kết quả nghiên cứu địa chất cho thấy cấu trúc địa chất Hương
Sơn được xếp vào đời cấu trúc kiến tạo Ninh Bình (Dovjikov, 1965). Toàn bộ
khối núi được cấu tạo bởi đá vôi thuộc hệ tầng Đồng Giao, được xếp vào bậc
Anizi. Phần dưới mặt cắt gần đá vôi phân lớp mỏng đến rất mỏng, phần giữa là
lớp đá vôi dày, khối tảng lớn màu xám loang lổ, xám sẫm đến vàng ngà. Đá giòn,
dễ vỡ. Tổng chiều dày của đá vôi này tới 1800 - 2000 m (Trần Văn Trị, 1977).
Đất ở Hương Sơn có nguồn gốc chính từ núi đá vôi và phù sa sông Đáy.
Các quá trình ảnh hưởng trực tiếp lên bề mặt thổ nhưỡng hiện tại là quá trình
rửa lũ, xói mòn, sụt lở, tích tụ ở núi đá vôi và quá trình bồi đắp cửa sông. Các
sản phẩm phong hoá của đá vôi thông qua quá trình feralitic và quá trình ngoại
sinh tạo nên sự đa dạng của các loại đất trong khu vực: đất phù sa không được
bồi, đất phù sa glây, đất phù sa úng nước, đất than bùn, đất đen trên sản phẩm
bồi tụ của cacbonat, đất đỏ nâu trên đá vôi.
Các loại đất trên phân bố ở hai dạng địa hình núi và đồng bằng, đó là điều
kiện tốt để phát triển nhiều loại cây ăn quả, cây đặc sản và thực vật tự nhiên
khác nhau, nó góp phần tạo nên sự đa dạng cảnh quan địa lý khu vực.

11


d. Khí hậu
Khí hậu Hương Sơn mang những đặc điểm chung của khí hậu miền Bắc
Việt Nam, đó là kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm chia thành 4 mùa khá
rõ nét như sau:
- Nhiệt độ không khí: Bình quân năm là 23,1ºC, trong năm nhiệt độ thấp
nhất trung bình 13,6ºC (vào tháng 1). Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là

Ý nghĩa

23,1

18 - 24

Thích
nghi

33,2

32 - 35

Rất nóng

1.520,7

Thích
nghi
(Nguồn: Uỷ ban nhân dân xã Hương Sơn)

12

1250 - 1990


Qua bảng trên ta thấy khí hậu của khu du lịch Chùa Hương rất thuận lợi để
tổ chức hoạt động du lịch.
e. Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt chính của Hương Sơn là sông Đáy ở Đông Bắc xã và các hồ,

lốt (Piperlotot CDC), Cây xộp (Fucus pimula)
+ Cây làm cảnh: Đùng đình Bắc sơn (Cryota bacsonensis), Gạo, Chua me hoa
tím (Oxalis martiana)…
+ Cây đặc sản: Mơ (Prunus mune), Rau Sắng (Melientho navifierre), Củ mài,
Kim ngân…
* Hệ động vật
Kết quả điều tra khảo sát ở Hương Sơn đã phát hiện có 88 loài chim thuộc
37 họ và 15 bộ, có 35 loài bò sát thuộc 16 họ và 3 bộ, 32 loài thú thuộc 17 họ
và 7 bộ. Nhìn chung khu hệ động vật Hương Sơn là nghèo nàn về số loài và số
lượng cá thể loài do khu vực này có ranh giới nhỏ hẹp, lại là sinh cảnh của
vùng núi đá bị cách biệt và bao bọc dân cư. Tuy nhiên xét về tài nguyên động
vật vùng Hương Sơn lại có ý nghĩa khá độc đáo.
Những loài động vật quý hiếm: Về chim, hiện nay Hương Sơn chỉ còn sót
lại 1 loài động vật quý hiếm đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam và thế giới là
Gà lôi trắng (Lophura nyethemra). Trước kia nhân dân còn cho biết trong vùng
còn có Công, Trĩ sao, Gà tiền. Về lưỡng cư, bò sát có 10 loài quý hiếm, gồm:
Trăn đất, Tắc kè, Kỳ đà nước, rắn ráo, rắn cạp nong, rắn hổ mang trâu. Về các
loài thú có 8 loài được đưa vào sách đỏ như: Báo hoa mai (Panthera Pardus),
Báo gấm (Neoflis nebulosa), Beo (Felis temmicki), Vượn đen (Hylobates
concolor), Voọc quần đùi trắng, Rái cá (Luta luta), Hổ (Pathera tigris).
Những loài động, thực vật tại khu du lịch Chùa Hương là yếu tố quan trọng
để hấp dẫn du khách đến du lịch tuy nhiên hiện nay các loài đang đứng trước
nguy cơ tuyệt chủng, rừng Hương Sơn đang bị suy thoái sinh học.
3.1.2. Văn hoá
Hương Sơn với tư cách là một quần thể các di tích lịch sử văn hoá bao gồm
nhiều loại di tích khác nhau mà chính sức lao động sáng tạo của người bao đời nay

14




Ảnh 01: Sơ đồ thắng cảnh khu du lịch Chùa Hương
(Nguồn: Ban quản lý khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn)
Mười tám điểm được chia thành bốn tuyến như sau:
1. Tuyến Hương Tích có 8 di tích là: Động Hương Tích, chùa Thiên Trù,
đền Trình Ngũ Nhạc, chùa Giải Oan, đền Cửa Võng, chùa Tiên Sơn,
chùa Hinh Bồng và động Đại Binh.
2. Tuyến Thanh Hương gồm: chùa Thanh Sơn và động Hương Đài.
3. Tuyến Long Vân gồm: chùa Long Vân, động Long Vân, động Cây Khế,
hang Thánh Hoà.
4. Tuyến Tuyết Sơn gồm: chùa Bảo Đại, động Ngọc Long, chùa Ngự Trì
(chùa Cá), đền Trình Phú Yên.
*Động Hương Tích
Động này vốn có từ thời kỳ vận động tạo sơn, được phát hiện vào thế kỷ XI
và đưa vào thờ phật năm 1687. Phật thoại truyền rằng: Đức Quán Thế Âm Bồ
tát ứng thân làm công chúa Diệu Thiện, con vua Diệu Trang Vương ở nước
Hương Lâm, tu hành 9 năm và thành đạo quả ở động này nên đặt tên là Hương
Tích. Đặc biệt ở đây có pho tượng Phật bà Quan Âm bằng đá xanh tạc thời Tây
Sơn và hàng vạn nhũ đá nhấp nhô với biết bao hình thù kỳ lạ. Thuyết phong
16


thuỷ cho rằng: Động Hương Tích là con rồng chúa đang há miệng vờn ngọc.
Đây là điểm chính của khu thắng cảnh, thu hút 100% du khách đến thăm quan,
thường gọi là chùa chính.
* Chùa Thiên Trù
Được khởi dựng từ thời Lê Thánh Tông, năm Đinh Hợi (1467) niên hiệu
Quang Thuận, thứ 8. Đến niên hiệu Chính Hoà năm thứ 7 (1686), Hoà thượng
Trần Đạo Viên Quang tái thiết. Đến năm 1942 thì toàn bộ công trình hoàn
chỉnh trở thành một lâu đài tráng lệ “Biệt chiếm nhất nam thiên”.

Hìn

Trưởng ban

Tổ bảo vệ
di tích
Hương
Trù

Tổ bảo vệ di
tích Long Vân
- Tuyết Sơn

Tổ nghiệp
vụ kiểm
tra

Tổ quản
lý khách

Tổ
hành
chính
lễ hội

h 01: Cơ cấu tổ chức quản lý của Ban quản lý khu du lịch Chùa Hương
Nhân viên hợp đồng trong Ban quản lý chỉ học qua nghiệp vụ du lịch hoặc là
lao động phổ thông. Trong 4 hướng dẫn viên du lịch của Ban quản lý chỉ có 1 người
được đào tạo chính quy. Trình độ nhân viên trong Bản quản lý gần như không có
khả năng giao tiếp đây là yếu tố hạn chế việc đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.

e. Cơ sở dịch vụ ăn uống và bán hàng
Dịch vụ ăn uống bước đầu đã đáp ứng yêu cầu của khách, ban tổ chức yêu
cầu các chủ cửa hàng phải có đăng ký trước và cam kết bảo đảm an toàn thực
phẩm, các hàng ăn đều phải có tủ kính đựng thức ăn.
Các điểm bán hàng nhiều nhưng qua khảo sát có rất ít hàng bán đồ lưu
niệm, sách giới thiệu về khu du lịch Chùa Hương.
f. Y tế
Trong vùng có 1 trạm xá, cơ sở vật chất tương đối khang trang. Tại các
điểm du lịch có bố trí lực lượng các bác sĩ thường trực tại: động Hương Tích,
Thiên Trù, chùa Thanh Sơn, Long Vân, Tuyết Sơn, sẵn sàng cấp cứu bệnh nhân
tại chỗ. Chuẩn bị xuồng cấp cứu khi có bệnh nhân cần chuyển ra tuyến ngoài.
3.2.3. Hiện trạng nguồn khách và doanh thu từ hoạt động du lịch.
a. Khách du lịch

19


Lễ hội Chùa Hương là mùa lễ hội dài nhất trong năm và thu hút được lượng
khách đông nhất cả nước. Theo thống kê của Ban quản lý Chùa Hương cho thấy:
Bảng 02: Số lượng khách du lịch đến khu du lịch Chùa Hương
Năm
Khách
Nội địa
Quốc tế
Tổng

2005

2006


Người thân

Quảng cáo/ Sách
hướng dẫn du lịch

Công ty
du lịch

52
30
8
10
16,7
10
20
53,3
(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra, đề tài thực hiện năm 2008)

20


Điều này cho thấy công tác quảng bá du lịch của khu du lịch còn nhiều hạn
chế.
Hoạt động du lịch ở khu du lịch Chùa Hương có tính mùa vụ rõ rệt, tập
trung chủ yếu vào 3 tháng đầu năm. Qua quá trình điều tra phân tích và thống
kê cho thấy rằng du lịch sinh thái chưa thực sự phát triển tại Chùa Hương. Phần
lớn du khách đến đây để hành hương lễ phật (chiếm 82%). Các hoạt động tìm
hiểu thiên nhiên, môi trường, nền văn hoá bản địa lại chưa thực sự phát triển.
Đây là thiếu sót lớn của hoạt động quản lý du lịch Chùa Hương, bởi tiềm năng
tài nguyên thiên nhiên và nhân văn ở đây là rất phong phú và độc đáo.

3.3.1. Ảnh hưởng lên môi trường tự nhiên.
a. Ảnh hưởng tích cực
Trong điều kiện đô thị hoá ngày càng cao, công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ngày càng gia tăng, để lập lại cân bằng cho nhịp sống đã bị phá vỡ, con người

21


ham muốn tìm đến những nơi môi trường tự nhiên còn nguyên sơ và nền văn
hoá còn nguyên bản
Bảng 05: Điểm trung bình cho các câu trả lời của người dân về tác động
tích cực của du lịch đến môi trường tự nhiên tại khu du lịch Chùa Hương

Yếu tố
Bảo tồn thiên
nhiên và bảo vệ
động vật hoang

Cải thiện môi
trường xanh,
sạch, đẹp
Tầm quan trọng
của môi trường
từ đó nâng cao ý
thức của người
dân

Rất xấu
(Số
phiếu)

7

5

12

5

1

+ 1,29

0

7

11

9

3

0

+ 0,67

0

0


Xói mòn

Mất rừng

Sụt lở

Nổ mìn

Kết cấu đất bị thay đổi

Xây dựng

Rác thải

Ô nhiễm đất

Nước thải

Hình 02: Cây vấn đề các tác động tiêu cực đến môi trường đất
Lượng khách du lịch gia tăng dẫn đến tăng áp lực về chất thải sinh hoạt.
Thực tế hiện nay, chỉ khoảng 70% lượng rác thải được thu gom xử lý. Số còn
lại được thải ra các thung lũng gây ảnh hưởng đến kết cấu đất, làm ô nhiễm đất.
Do địa hình vận chuyển khó khăn nên biện pháp xử lý chủ yếu ở đây là đốt tập
trung tại các đền. Việc xử lý này thường xuyên với lượng rác lớn, thời gian đốt
lâu sẽ làm cho đất bị ô nhiễm nhiệt, thoái hoá…Các hoạt động nướng thịt thú
rừng hai bên đường dọc các tuyến du lịch cũng tương tự.
Hiện tượng một số người dân kém hiểu biết đã tự ý nổ mìn, phá đá nhằm tạo ra
các hang mới để thu phí của du khách làm phá vỡ kết cấu đất, cảnh quan nơi đây.
Vào mùa lễ hội, tình trạng quá tải thường xuyên xảy ra đã hình thành các
con đường mòn ven đường đi trên núi gây hiện tượng đất bị nén chặt, gây nên

Hình 03: Cây vấn đề các tác động tiêu cực đến môi trường nước

Do các tuyến điểm du lịch trong khu du lịch Chùa Hương chủ yếu là ở
những nơi có địa hình núi cao, lượng nước phân bố không đếu so với vùng
chân núi nên vào mùa lễ hội, lượng khách đông, nhu cầu sử dụng nước khoảng
145 lit/khách/ngày nên nguồn nước phục vụ cho du lịch còn hạn chế. Một phần
diện tích rừng bị mất đi do phát triển các cơ sở vật chất phục vụ du lịch như:
xây dựng nhà hàng, khách sạn, tạo ra các tuyến đường…và lấy gỗ làm các đồ
lưu niệm, chặt cây để làm gậy, đốt củi,…làm giảm khả năng giữ nước bề mặt,
điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến trữ lượng nước của khu vực.
Hoạt động du lịch còn tạo ra lượng nước thải lớn. Theo Ban quản lý khu du
lịch Chùa Hương thì nước thải từ hoạt động du lịch: từ nhà hàng, khách sạn, từ
công trình vệ sinh được thải trực tiếp ra môi trường không qua biện pháp xử lý.
Nước thải ra sẽ ngấm xuống tầng nước ngầm và các thuỷ vực lân cận, đây là
nguồn chính gây ô nhiễm nguồn nước.

24


Ảnh 02: Nước thải tại Đền Trình

Ảnh 03: Rác trên suối Yến
(Nguồn: Tác giả chụp, 2008)

Dọc suối Yến (từ bến Yến vào bến Đục) cứ 500 m lại có biển báo nhắc nhở
du khách cùng bảo vệ môi trường, có 4 thuyền chuyên làm nhiệm vụ vớt rác, mỗi
thuyền chở khách đều có sọt đựng rác nhưng hiện tượng rác thải trên thuyền và
trên mặt suối vẫn còn, đây cũng là nguyên nhân làm ô nhiễm nguồn nước mặt.

Ảnh 04: Thuyền vớt rác trên suối Yến

Không khó chịu
chịu
khó chịu khó chịu
DO
mg/l 1,24
5,65
6,28
>2
BOD5 mg/l 17,34
2,7
2,06


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status