BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ HÒA
ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG DƯ LƯỢNG THUỐC
BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC
SẢN XUẤT RAU XÃ VÂN NỘI, HUYỆN ĐÔNG ANH, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công
trình nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn đã
được cảm ơn, các thông tin trích dẫn đã chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Hòa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn PGS. TS. Đoàn Văn Điếm, người
đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn. Với những lời chỉ dẫn, những tài
liệu, sự tận tình hướng dẫn và những lời động viên của Thầy đã giúp tôi vượt qua
nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi cũng xin cảm ơn quý thầy cô giảng dạy chương trình cao học “Khoa học
Môi trường” đã truyền dạy những kiến thức quý báu, những kiến thức này rất hữu
ích và giúp tôi nhiều khi thực hiện nghiên cứu. Đặc biệt, tôi xin cám ơn về những
góp ý có ý nghĩa rất lớn khi tôi thực hiện đề cương nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Tác giả luận văn
2.1. Đối tượng nghiên cứu 25
2.2. Phạm vi nghiên cứu 25
2.3. Nội dung nghiên cứu 25
2.4. Phương pháp nghiên cứu 25
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 25
2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 26
2.4.3. Phương pháp khảo sát, quan trắc thực địa 26
2.4.4. Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu 27
2.4.5. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm. 28
2.4.6. Phương pháp đánh giá tình hình sử dụng thuốc BVTV và biến động dư
lượng thuốc BVTV trong môi trường khu vực sản xuất rau trên địa bàn xã
Vân Nội 28
2.4.7. Phương pháp kế thừa 29
2.4.8. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 29
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế, xã hội của xã Vân Nội, huyện Đông Anh,
Hà Nội 30
3.1.1. Điều kiện tự nhiên của xã Vân Nội 30
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của xã Vân Nội 34
3.2. Tình hình sản xuất rau ở địa bàn nghiên cứu 36
3.2.1 Tình hình sản xuất rau tại xã Vân Nội 36
3.2.2. Thực trạng sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau tại xã Vân Nội 40
3.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng thuốc BVTV 47
3.3.1. Điều kiện tự nhiên và mùa vụ 47
3.3.2. Giống rau 47
3.3.3. Thị trường tiêu thụ rau 48
3.3.4. Chính sách phát triển nông nghiệp của nhà nước 48
Bảng 2.1. Vị trí lấy mẫu nước và đất trồng rau tại làng Vân Nội, Đông Anh 27
Bảng 3.1. Diện tích đất đai thích nghi đối với các loại hình sử dụng đất 32
Bảng 3.2. Hiện trạng sử dụng đất tại xã Vân Nội năm 2013 33
Bảng 3.3. Cơ cấu dân số, lao động tại xã Vân Nội năm 2013 34
Bảng 3.4. Diện tích, năng suất, sản lượng rau tại xã Vân Nội 2006 – 2012 37
Bảng 3.5. Kết quả điều tra về cơ cấu sản xuất các loại rau tại Vân Nội 38
Bảng 3.6. Một số công thức luân canh RAT vụ xuân ở xã Vân Nội 39
Bảng 3.7. Cơ cấu chủng loại rau trong phạm vi hộ tại xã Vân Nội 40
Bảng 3.8. Các loại thuốc BVTV được sử dụng trên rau tại xã Vân Nội 42
Bảng 3.9. Loại thuốc BVTV và số lần phun trên cây trồng vụ Xuân – Hè tại
HTX Vân Nội 44
Bảng 3.10. Kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV của người dân xã Vân Nội 46
Bảng 3.11. Các hoạt động tuyên truyền về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 49
Bảng 3.12. Dư luợng thuốc BVTV trong nuớc mặt năm 2011 50
Bảng 3.14. Dư luợng thuốc BVTV trong nuớc mặt năm 2013 51
Bảng 3.15. Dư luợng thuốc BVTV trong nuớc ngầm năm 2011 52
Bảng 3.16. Dư luợng thuốc BVTV trong nuớc ngầm năm 2012 52
Bảng 3.17. Dư luợng thuốc BVTV trong nuớc ngầm năm 2013 53
Bảng 3.18. Dư luợng thuốc BVTV trong đất năm 2011 54
Bảng 3.19. Dư luợng thuốc BVTV trong đất năm 2012 55
Bảng 3.20. Dư luợng thuốc BVTV trong đất năm 2013 56 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Mức độ thích nghi đất đai đối với vùng chuyên rau 32
Hình 3.2. Sơ đồ hệ thống phân phối thuốc BVTV tại xã Vân Nội 41
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Rau là loại thực phẩm không thể thiếu được trong đời sống hằng ngày. Cùng
với thức ăn động vật, rau cung cấp những dinh dưỡng cần thiết cho sự tồn tại và
phát triển của con người. Tục ngữ có câu: “Cơm không rau như đau không thuốc”.
Rau cung cấp cho cơ thể những chất dinh dưỡng, đặc biệt là các vitamin, các axít
hữu cơ, chất khoáng… Theo tính toán của nhiều nhà dinh dưỡng học, muốn cơ thể
hoạt động bình thường cần cung cấp 2300-2500 kcal mỗi ngày, trong đó phải có
250-300 gam rau (tương đương với 7,5-8 kg/tháng hay 90-108 kg/năm). Như vậy
tổng nhu cầu rau của nước ta sẽ là 7.650 – 9.180 nghìn tấn, tổng sản lượng rau các
loại năm 2006 đạt 9.650 nghìn tấn. Chính vì thế, rau xanh trở thành một sản phẩm
Nông Nghiệp có giá trị kinh tế cao và có thị trường tiêu thụ rộng lớn.
Với điều kiện khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, Việt nam có thể sản xuất rau quanh
năm. Theo thống kê 2005, diện tích sản xuất rau ở nước ta vào khoảng 635,8 nghìn ha,
sản lượng 9640,3 nghìn tấn, so với năm 1999 diện tích tăng 175,5 nghìn ha (tốc độ tăng
bình quân 3,61%/ năm), sản lượng tăng 3071,5 nghìn tấn (tốc độ tăng bình quân
7,55%/năm). Trong đó rau ở miền bắc vào khoảng 249,7 ngàn ha (chiếm 39,3% tổng
diện tích) (Ngọc Anh, 2005).
Hà Nội là một trong những địa phương sản xuất khá nhiều rau trong cả nước.
Tổng diện tích gieo trồng rau các loại của thành phố Hà Nội có 8,1 ngàn ha, năng
suất đạt 186,2 tạ/ha, sản lượng 150,8 ngàn tấn. Do vậy, ngành hàng rau của tỉnh có
những ảnh hưởng nhất định tới toàn bộ hệ thống ngành hàng rau của miền Bắc. Sản
xuất rau một mặt đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu đang ngày
càng tăng, mặt khác là giải pháp cho phép thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đa dạng hoá
trong khoảng thời gian ngắn. Tuy nhiên, thâm canh cao trong nông nghiệp gắn liền
với việc tăng cường sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ đã làm
ảnh hưởng xấu tới môi trường xung quanh.
Xã Vân Nội là xã nằm ở phía Tây huyện Đông anh - ngoại thành Hà nội.
Từ lâu, xã Vân Nội đã nổi tiếng là làng rau chuyên canh với diện tích khá lớn
của huyện, là nơi cung cấp rau cho thành phố Hà Nội và các vùng lân cận. Nhu
cầu thị hiếu của người dân về rau ngày càng gia tăng, rau bán trên thị trường
trước hết phải có mẫu mã đẹp, xanh, non, mà không bị sâu bệnh. Vì vậy, đòi hỏi
người sản xuất cần phải tăng hàm lượng sử dụng thuốc BVTV, diệt trừ hết sâu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
bệnh để đảm bảo rau của mình dễ dàng được người dân sử dụng. Tuy nhiên, việc
lạm dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau đã làm ảnh hưởng rất lớn đến chất
lượng thực sự của rau cũng như chất lượng môi trường do lượng dư các hóa chất
BVTV này, qua đó ảnh hưởng tới sức khỏe con người.
Do vậy , việc tìm hiểu thực trạng sản xuất rau trong khu vực, thực trạng sử
dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau của xã và dư lượng của nó trong đất, nước là
điều rất quan trọng và hết sức cần thiết. Để từ đó đưa ra được những biện pháp quản
lý và kiểm soát cũng như các biện pháp kỹ thuật phù hợp trong sản xuất rau vừa đáp
ứng được nhu cầu rau trong khu vực, vừa đảm bảo được chất lượng rau cũng như
chất lượng môi trường xung quanh.
Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá biến động dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật trong môi trường tại
khu vực sản xuất rau xã Vân Nội, huyện Đông Anh, Hà Nội .”
2. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau tại xã Vân
Nội, huyện Đông Anh, Hà Nội.
- Đánh giá biến động của thuốc BVTV trong môi trường đất, nước vùng
trồng rau xã Vân Nội, huyện Đông Anh giai đoạn 2011 - 2013.
Trung Quốc 5,93 1,24
Ấn Độ 2,46 1,44
Sub- Sahara Africa 1,83 0,53
Các nước đang phát triển Châu Á 3,86 1,73
Châu Mỹ Latinh và Caribben 0,24 1,38
Các nước phát triển 3,30 1,05
Các nước đang phát triển 1,19 1,70
Toàn thế giới 2,80 1,18
(Nguồn : Theo FAO STAT, số liệu năm 2006 )
Theo Sootsukon và cộng sự hiện có 120 chủng loại rau được sản xuất ở các
vùng khác nhau nhưng chỉ có 12 loại chủ yếu được trồng nhiều chiếm khoảng 80%
diện tích rau toàn thế giới (Bộ NN&PTNT,2005).
Qua bảng số 1.1 ta thấy, diện tích đất trồng rau trên thế giới liên tục tăng
trong 20 năm qua. Điển hình là Trung Quốc, diện tích đất trồng rau tăng rất nhanh
đạt mức trung bình 6% /năm trong suốt 20 năm qua. Trong khi đó các nước đang
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
phát triển Châu Á và một số quốc gia phát triển khác có tốc độ tăng chậm hơn, đạt
mức 3% /năm. Tính chung trên toàn thế giới, diện tích đất trồng rau hiện đang tăng
ở mức 2,8 %/năm. Còn đối với năng suất thì Brazil là nước có tốc độ tăng lớn nhất,
đạt 2,57 % /năm. Tính chung trên toàn thế giới năng suất tăng ở mức 1,18% /năm.
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất rau của thế giới năm 2008
STT
Tên quốc gia Sản lượng (Triệu tấn) Tỷ lệ (%)
Thế giới 1383.649 100,00
1 Trung Quốc 506.634 36,62
2 Ấn độ 127.560 9,22
3 Mỹ 69.382 5,01
cây không dùng đất trong mấy năm qua tăng đáng kể. Từ 515 ha (1982), lên 800ha
(1992), 1000ha (1984), 3000ha (1991) (Hồ Hữu An, 2005).
Tại Anh, người ta xây dựng một hệ thống kỹ thuật màng mỏng dinh dưỡng sử
dụng nhiệt thừa của nhà máy điện với diện tích 8,1ha để trồng cà chua.
Ở Pháp, từ năm 1975 người ta đã ứng dụng công nghệ này không những
trồng rau mà còn trồng hoa với quy mô 300ha.
Ở Singapo, người ta đã trồng các loại rau diếp, bắp cải, cà chua, su hào và
một số loại rau ôn đới khác với kỹ thuật aeroponic. Trước đây, các loại rau ôn đới
trồng ở Singapore rất khó khăn nhưng với kỹ thuật mới này thì các loại rau hiện nay
được trồng tương đối dễ dàng.
Tại Gabong với kỹ thuật trồng không dùng đất, năng suất dưa tây đạt 3kg/m
2
sau trồng 75 ngày, dưa chuột 7kg/m
2
sau trồng 90 ngày.
Từ năm 1983 – 1984 ở Nhật Bản người ta đã trồng RAT với công nghệ
không dùng đất tăng khoảng 500ha, năng suất cà chua đạt 130 – 140 tấn/ha/năm và
xà lách đạt 700 tấn/ha/năm (Hồ Hữu An, 2005).
1.1.2. Tình hình tiêu thụ rau trên thế giới
Rau được dùng kết hợp với các loại hoa quả thực phẩm rất tốt cho sức khoẻ
do có chứa các loại vitamin, các chất chống ôxi hoá tự nhiên, có khả năng chống lại
một số bệnh như ung thư. Do vậy nhu cầu tiêu thụ rau quả ngày càng tăng. Người
dân Nhật Bản tiêu thụ rau quả nhiều hơn người dân của bất cứ quốc gia nào trên thế
giới, mỗi năm Nhật Bản tiêu thụ 17 triệu tấn rau các loại, bình quân mỗi người tiêu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
thụ 100 kg/năm. Xu hướng hiện nay là sự tiêu thụ ngày càng nhiều các loại rau tự
nhiên và các loại rau có lợi cho sức khoẻ. Trung bình trên thế giới mỗi người tiêu
rệt là mùa mưa và mùa khô nên có thể trồng các loại rau ưa nước trong mùa mưa và
cây chịu hạn trong mùa khô.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
Đầu thập kỷ 90, diện tích trồng rau của Việt Nam phát triển nhanh chóng và
ngày càng có tính chuyên canh cao. Ở các tỉnh phía bắc, diện tích trồng rau vụ đông
năm 2005 đạt 137,4 nghìn ha( bằng 95.5%), năng suất đạt 153,5 tạ/ha(tăng 5,6%) và
sản lượng đạt 2,1 triệu tấn(tăng 1,1%) so với vụ đông năm 2004 các tỉnh phía nam,
năm 2006 gieo trồng được khoảng 235,182 ha rau các loại, tăng 22,959 ha so với
năm 2005 và tăng chủ yếu ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long( 20.504 ha). Năng
suất bình quân là 154,85 tạ/ha, sản lượng đạt 3.641.896 tấn, tăng hơn năm 2005 là
363.837 tấn (Cục Trồng trọt, 2006).
Theo số liệu từ Sở NN & PTNT, năm 2012 diện tích trồng rau cả nước ước
đạt khoảng 823.728 ha (tăng 103,7% so với năm 2011), năng suất ước đạt 170 tạ/ha
(tăng 102% so với năm 2011), sản lượng ước đạt 14,0 triệu tấn (tăng 106% so với
năm 2011); trong đó miền Bắc diện tích ước đạt 357,5 nghìn ha, năng suất ước đạt
160 tạ/ha, sản lượng dự kiến đạt 5,7 triệu tấn; miền Nam diện tích ước đạt 466,2
nghìn ha, năng suất dự kiến đạt 178 tạ/ha, sản lượng đạt 8,3 triệu tấn.
Bảng 1.3. Diện tích rau ở Việt Nam phân theo địa phương
Địa phương Năm 2011 (ha) Năm 2012 (ha)
Cả nước 794.243 823.728
Miền Bắc 302.808 357.551
ĐBSH 127.808 159.7690
Đông Bắc 90.293 94167
Tây Bắc 21.897 9.161
Bắc Trung Bộ 84.667 94.454
Miền Nam 491.435 466.177
Nam Trung Bộ 62.651 64.809
Tây Nguyên 123.859 87.361
yếu tố môi trường (Vũ Thị Hòa, 2011).
1.2.2. Tình hình tiêu thụ rau tại Việt Nam
Nhìn chung, ngành trồng rau đã đóng góp một khối lượng sản phẩm đáng kể
cho xuất khẩu ở nước ta. Từ năm 1957, rau quả Việt Nam đã có mặt tại Trung
Quốc. Thời kỳ 1986 – 1990, thực hiện Hiệp định hợp tác đã ký giữa hai Chính phủ
Việt Nam và Liên Xô cũ (01/1985) về xuất khẩu sản phẩm rau quả sang Liên Xô,
một khối lượng lớn rau đã được bán, góp phần không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu
cho đất nước.
Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt 464,3 triệu USD, tăng 5,8% so
với năm 2009. Năm 2011 đạt 625 triệu USD, tăng 34,8% so với năm 2010 (Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2012).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
Theo Bộ Công Thương, đến năm 2012, kim ngạch xuất khẩu rau quả tăng lên
770 triệu USD. Những tháng đầu năm 2013 kim ngạch xuất khẩu đạt 187 triệu
USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2012.
Tính đến năm 2013, cả nước có 60 nhà máy chế biến rau quả với công nghệ,
thiết bị hiện đại, sản phẩm đa dạng, chất lượng đáp ứng được yêu cầu của thị trường
như Nhật Bản, Mỹ và châu Âu. Tuy nhiên, công suất hoạt động thực tế của những
nhà máy này chỉ đạt 20-30%. Nguyên nhân là một số nhà máy xây dựng xong thiếu
nguyên liệu, các vùng nguyên liệu xa nhà máy, chi phí vận chuyển lớn, nguyên liệu
không đảm bảo các yêu cầu chất lượng nên không thể chế biến xuất khẩu được.
Ngoài ra, một trong những nguyên nhân khiến ngành rau quả Việt Nam gặp khó
khăn là đa số các giống rau, hoa quả không ổn định cả về chất lượng và giá thành,
gây ảnh hưởng đến sản xuất của nông dân. Mỗi năm Việt Nam phải chi 200 triệu
USD nhập khẩu các loại hạt giống phục vụ ngành trồng trọt trong nước (Đan
Phương, Hoàng Tuyết, 2013).
Nhà xuất khẩu đã chịu đầu tư mở rộng tìm kiếm nghiên cứu thị trường xuất khẩu,
đến nay sản phẩm rau quả đã có mặt rại 50 quốc gia trên thế giới, trong đó chủ yếu là
chương 1, điều lệ quản lý thuốc BVTV (ban hành kèm theo Nghị định số
58/2002/NĐ – CP ngày 03/06/2002 của Chính phủ), ngoài tác dụng phòng trừ sinh
vật gây hại tài nguyên thực vật, thuốc BVTV còn bao gồm cả những chế phẩm có
tác dụng điều hòa sinh trưởng thực vật, các chất làm rụng lá, làm khô cây, giúp cho
việc thu hoạch mùa màng bằng cơ giới được thuận tiện (thu hoạch bông vải, khoai
tây bằng móc…). Những chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các loài sinh
vật gây hại tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt. Trong các nhóm thuốc BVTV trên
đây được sủ dụng phổ biến hơn cả là thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh và thuốc trừ cỏ
dại. Tuy nhiên, , các nhóm thuốc BVTV chỉ tiêu diệt được một số loài dịch hại nhất
định, chỉ phát huy hiệu quả tối ưu trong những điều kiện nhất định về thời tiết, đất
đai, cây trồng, canh tác…(Chi cục BVTV Phú Thọ, 2009).
1.3.1.2. Phân loại HCBVTV
* Phân loại dựa vào đối tượng phòng chống
Nguyễn Trần Oánh, Nguyễn Văn Viên (1996) và Lê Trung (1997), phân loại
như sau:
- Thuốc trừ sâu (Insecticides)
- Thuốc trừ nấm và vi khuẩn (Fungicides, Bactericides)
- Thuốc diệt loài gặm nhấm (Rodenticdes, Zoocides)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
- Thuốc trừ ký sinh trùng (Acarcides, Miticides)
- Thuốc trừ cỏ dại và cây dại (Herbicides, Arboricides)
- Thuốc gây rụng lá (Defulicumts)
- Chất điều hòa sinh trưởng (Growth regulators).
* Phân loại dựa theo con đường xâm nhập
Nguyễn Trần Oánh, Nguyễn Văn Viên (1996) phân loại như sau:
- Thuốc có tác dụng tiếp xúc: là những loại thuốc có thể gây độc cho cơ thể
sinh vật khi chúng xâm nhập qua da.
- Thuốc có tác dụng vị độc: gây độc cho cơ thể sinh vật khi chúng xâm
lại có các nhóm nguyên tố hay các nguyên tố mà người ta xếp chyungs vào những
nhóm khác nhau.
1.3.2. Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên thế giới
Trong sản xuất nông nghiệp, ngoài nước tưới, phân bón, giống là 3 yếu tố
tạo năng suất và sản lượng cây trồng cao thì thuốc BVTV cũng rất quan trọng.
Thuốc BVTV có thể được coi như sử dụng đầu tiên là dung dịch huyền phù
Boocđo (1881). Trong một thời gian dài, người ta dùng các chất vô cơ như HCN,
Đồng Asenat, Chì Asenat…làm thuốc trừ dịch hại cây trồng.
Theo một số tác giả thì từ năm 1013 ở Đức, hợp chất thủy ngân hữu cơ đầu
tiên được sử dụng để bảo quản hạt giống. Năm 1924, Zeidler đã tổng hợp được
DDT nhưng phải đến năm 1939, Muler mới phát hiện ra khả năng diệt sâu hại của
nó. Điều đó đặt nền móng cho việc sử dụng các hợp chất hữu cơ, hữu cơ – vô cơ
vào mục đích làm HCBVTV. Sau đó là các hợp chất Clo hữu cơ, Carbamat, các hợp
chất Photpho hữu cơ được phát hiện và dùng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới.
Năm 1972, người ta đã thành công trong việc sản xuất từ cây cỏ tự nhiên
nhóm hoạt chất Pyrethroid, đây là nhóm hóa chất diệt côn trùng mới và có ý nghĩa
hết sực quan trọng. Trong những năm của thập kỷ 70 – 80, có nhiều HCBVTV mới
được ra đời, những hợp chất này có hiệu quả ở nồng độ thấp hơn các loại trước đây.
Tiêu biểu của thế hệ mới này là chất diệt cỏ Sulfonyl urealaxyl và Triadimefon
(Phùng Minh Phong, 2002)
Tác hại của sâu bệnh, nấm, vi khuẩn…rất lớn không thể lường trước được.
Người ta đã dự tính tác hại của sâu bệnh, cỏ dại, vi khuẩn lên đến 46% tiềm năng
năng suất lúa thế giới (Cramer, 1967). Riêng Châu Á thiệt hại đến 51,6% và riêng ở
Mỹ hàng năm thiệt hại khoảng 80 tỷ đôla. Thuốc BVTV đã thực sự được đánh giá
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
cao, được ghi nhận vai trò của mình trong sản xuất nông nghiệp. Theo Viện lúa
quốc tế (IRRI), trong thí nghiệm nhờ sử dụng thuốc BVTV mà đã bội thu được 2,7
tấn/ha, đó là kết quả nghiên cứu dài hạn từ 1964 – 1971 (Pathak và Dyek, 1974).
sâu và thuốc trừ bệnh. Giai đoạn 1976-1980, mỗi năm cả nước sử dụng 1.600 tấn
hóa chất BVTV ,tiếp đó giai đoạn 1986-1990 trung bình mỗi năm sử dụng 1.400 tấn
hóa chất BVTV.
Giai đoạn từ 1990 đến nay, nhờ chính sách đổi mới năm 1986, thị trường hóa
chất BVTV có thay đổi, nền kinh tế thị trường phát triển, nguồn hàng phong phú.
Năm 1991 tỉ lệ hóa chất trừ sâu chiếm 83,3%, hóa chất trừ nấm 9,5%, hóa chất diệt
cỏ 4,1%, và những loại khác 3,1% (Đỗ Văn Hòe, 2005). Đến năm 2008, tỉ lệ hóa
chất trừ sâu chiếm 37,9%, hóa chất trừ nấm 21,12%, hóa chất diệt cỏ 13,77%, hóa
chất diệt côn trùng 23,46% và các loại khác 3,75%. Lượng hóa chất BVTV tiệu thụ
qua các năm tăng dần, kinh ngạch nhập khẩu hóa chất BVTV tăng mạnh. Theo số
liệu của tổng cục thống kê, kim ngạch nhâp khẩu hóa chất BVTV và nguyên liệu
năm 2007 là hơn 382.8 triệu USD tăng 25,4% so với cùng kỳ năm 2006, năm 2008
là 473,7 triệu USD tăng 23,8% so với cùng kỳ năm 2007.
Bảng 1.4. Lượng thuốc sâu sử dụng ở Việt Nam qua các giai đoạn
Năm
Khối lượng
(tấn thành phẩm)
Trung bình lượng chất
tác dụng (kg/ha)
Trước 1985 6500-9000 0,3
1986-1990 13.000-15.000 0,4-0,5
1991-2000 20.300-33.636 0,67-1,04
2001-2007 36.000- 75.805 1,24-2,54
(Báo cáo chất lượng môi trường quốc gia, năm 2010)
Việt Nam nhập khẩu thuốc trừ sâu và nguyên liệu từ các thị trường như
Trung Quốc, Ấn Độ, Đức, Xingapo, Thái Lan, Nhật Bản…Số liệu thống kê sơ bộ
của Tổng Cục Hải Quan Việt Nam, tính từ đầu năm cho đến hết tháng 4/2014, Việt
Nam đã nhập khẩu 265 triệu USD mặt hàng thuốc trừ sâu và nguyên liệu, tăng
2,83% so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó phần lớn thuốc trừ sâu và nguyên liệu
nhập từ thị trường Trung Quốc, chiếm 57,2% tổng kim ngạch, tăng 26,08%, tương