Nghiên cứu công nghệ và đề xuất giải pháp cho doanh nghiệp quản trị dịch vụ OVER THE TOP (OTT) - Pdf 34

BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
VIỆN CHIẾN LƯỢC THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

BÁO CÁO
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO
DOANH NGHIỆP QUẢN TRỊ DỊCH VỤ OVER-THE-TOP
(OTT)

Hà Nội, 12/2013


MỤC LỤC

2


MỞ ĐẦU
Các dịch vụ ứng dụng đa phương tiện miễn phí trên di động (còn gọi là dịch vụ
cung cấp nội dung trên nền mạng viễn thông OTT - over - the - top content) thu hút hàng
triệu người dùng ở Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ. Các dịch vụ này làm các nhà mạng viễn
thông trong nước lo ngại bị cạnh tranh, chia sẻ doanh thu. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh
của các OTT đang là xu hướng không thể tránh khỏi và cần sự thỏa hiệp, hợp tác giữa các
nhà mạng và các doanh nghiệp OTT.
Xu hướng sử dụng dịch vụ OTT đang lan tỏa mạnh, thể hiện qua lượng người dùng
tăng chóng mặt. Trên thế giới, một số ứng dụng OTT thành công có thể kể đến như Line,
ra mắt vào tháng 6-2011 đã nhanh chóng lan tỏa đến 231 quốc gia và chỉ mất hơn 19
tháng để vượt con số 100 triệu người dùng. Hay như Viber, một công ty nhỏ của Israel,
tuyên bố chạm mốc 175 triệu người dùng chỉ sau hơn 12 tháng ra mắt. Ứng dụng
Whatsapp đang nắm khoảng 250 triệu người dùng tại Châu Âu. Và không thể không nhắc

Trong khuôn khổ của đề tài, báo cáo sẽ tập trung vào phạm vi nghiên cúu cụ thể cho
trường hợp các ứng dụng OTT tại Việt Nam. Mục tiêu của đề tài là đưa ra là tìm ra được
một bộ các giải pháp, chính sách thống nhát và phù hợp cho các doanh nghiệp quản trị
dịch vụ OTT để dung hòa các lợi ích đang xung đột và tạo không gian cho các úng dụng
OTT phát triển.

4


PHẦN I: NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM KĨ THUẬT CHUNG CỦA ỨNG DỤNG
OTT
Phần này sẽ trình bày các thông tin tổng quan về OTT, ứng dụng OTT và công ty
OTT. Các thông tin ở phần này sẽ góp phần xác định rõ vị trí của một ứng dụng OTT ở
trên thị trường công nghệ thông tin và truyền thông. Qua đó, chỉ ra các ưu, nhược điểm
của ứng dụng OTT, dự báo các tương tác (nếu có) giữa các ứng dụng OTT và mạng viễn
thông, cũng như giữa công ty OTT và công ty viễn thông truyền thống (telco).
I.1. Giới thiệu chung về OTT
I.1.1. Khái niệm về OTT
a) Khái niệm về OTT, ứng dụng OTT và công ty OTT
Một ứng dụng over-the-top (OTT) là một ứng dụng cung cấp một sản phẩm hoặc
dịch vụ trên Internet và bỏ qua phương pháp phân phối dịch vụ truyền thống trong lĩnh
vực viễn thông. Dịch vụ OTT thường liên quan đến thông tin liên lạc và truyền thông đa
phương tiện nói chung, và thường có chi phí thấp hơn so với phương pháp phân phối dịch
vụ truyền thống1.
Cổng thông tin Techopedia đưa ra một cách giải thích ứng dụng Over-the-Top
(OTT) khái quát hơn là: Một ứng dụng over-the-top có thể xem như bất cứ yếu tố gì gây
phá vỡ mô hình thanh toán truyền thống - ở đây là của các công ty viễn thông hoặc các
công ty truyền hình cáp / truyền hình vệ tinh. Ví dụ như Hulu hay Netflix cho video (thay
thế nhà cung cấp dịch vụ truyền hình thông thường) hoặc Skype (thay thế nhà cung cấp
dịch vụ điện thoại đường dài).

132/2013/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ
Thông tin và Truyền thông đã chỉ rõ OTT, ứng dụng OTT và công ty OTT nắm trong
phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông. Các đối tượng này sẽ trực
tiếp chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông. Hiện tại (tính đến thời
điểm tháng 11/2013), chưa có văn bản dưới luật nào được ban hành bởi các cơ quan nhà
nước để trực tiếp điều chỉnh các đối tượng: OTT, ứng dụng OTT và công ty OTT.
Trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông, các dịch vụ OTT laij được
xếp vào nhóm các dịch vụ giá trị gia tăng. Các dịch vụ OTT có đầy đủ các đặc điểm của
dịch vụ viễn thông thuộc nhóm này. Chi tiết về dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng được
trình bày trong phần này.
Một dịch vụ giá trị gia tăng (value added service - VAS) là một thuật ngữ được sử
dụng phổ biến trong ngành công nghiệp viễn thông, dùng để chỉ các dịch vụ không cốt
lõi, hoặc chỉ có tính chất ngắn hạn, thời điểm. Tất cả các dịch vụ không phải là các cuộc
gọi thoại tiêu chuẩn và truyền fax đều được coi là dịch vụ giá trị gia tăng. Theo sự biến
đổi của thị trường dịch vụ viễn thông, các dịch vụ được coi là cốt lõi của ngành công
nghiệp viễn thông đã được mở rộng ra thêm dịch vụ tín nhắn (chữ, hình ảnh, thoại) và
dịch vụ dữ liệu di động. Ngoài ra, khái niệm dịch vụ giá trị gia tăng còn có thể được sử
dụng một cách tự do hơn, trong bất kỳ ngành công nghiệp dịch vụ nào, dùng để chỉ dịch
vụ có chi phí rất thấp, hoặc miễn phí được dùng để thúc đẩy dịch vụ kinh doanh chính
của họ.
Trong ngành công nghiệp viễn thông, ở một một mức độ nào đó, dịch vụ giá trị gia
tăng thêm giá trị cho dịch vụ cung cấp chính, tiêu chuẩn, thúc đẩy các thuê bao sử dụng
điện thoại của họ nhiều hơn và cho phép các nhà điều hành mạng làm tăng doanh thu
dịch vụ của họ. Đối với điện thoại di động, các dịch vụ như SMS, MMS và dữ liệu di
động trước đây thường được coi là dịch vụ giá trị gia tăng, nhưng trong những năm gần
đây tin nhắn SMS, MMS và dữ liệu di động đã được chấp nhận rộng rãi như các dịch vụ
viễn thông cốt lõi, tiêu chuẩn mới.

6


cáp: chỉ có dạng phát quảng bá broadcast). Các tính năng này có được là do sử dụng tối
đa bộ giao thức Internet, mở ra một dải rộng các dịch vụ và nội dung mà công nghệ OTT
có thể góp phần đưa đến người dùng.
d) Một số đặc điểm chung của ứng dụng OTT và công ty OTT
Các ứng dụng OTT này còn có thể hiểu là các ứng dụng “giá trị gia tăng”, nghĩa
là người dùng sẽ trả thêm chi phí để được sử dụng những dịch vụ này bên cạnh chi phí
thuê bao Internet (hữu tuyến hoặc vô tuyến Mobile Internet).
7


Các chi phí “giá trị gia tăng” này thường chỉ có công ty OTT được hưởng, mà
công ty cung cấp dịch vụ Internet không được hưởng. Việc này có thể sẽ không gây ra
mâu thuẩn lớn như vậygiữa công ty OTT và công ty viễn thông truyền thống, nếu các
dịch vụ mà các ứng dụng OTT này cung cấp là những ứng dụng hoàn toàn mới, không
gây ảnh hưởng đến các dịch vụ viễn thông mà các công ty viễn thông truyền thống đang
cung cấp. Trên thực tế, các ứng dụng OTT mà các công ty OTT cung cấp đều là các dịch
vụ thay thế cho các dịch vụ hiện đang có trên thị trường của các công ty viễn thông
truyền thống. Sự xung đột lợi ích giữa các dịch vụ OTT được các công ty OTT cung cấp
và các dịch vụ viễn thông truyền thống của các công ty viễn thông truyền thống, các công
ty OTT và các công ty viễn thông truyền thống như vậy, là không thể tránh khỏi.
Các công ty OTT khi khởi điểm thường là những công ty cỡ vừa và nhỏ, và không
sở hữu hạ tầng mạng viễn thông. Tính chất không sở hữu hạ tầng mạng viễn thông
được nhấn mạnh, để làm rõ sự khác biệt giữa các công ty OTT và các công ty viễn thống
truyền thống. Các công ty viễn thông truyền thống hoàn toàn có thể phát triển và vận
hành các ứng dụng OTT. Tuy nhiên, ngay từ ban đầu, họ thiếu động lực để thực hiện việc
này do:
(a) Các dịch vụ tương tự đã có và vận hành ổn định trên mạng lưới viễn thông mà
họ sở hữu và
(b) Các dịch vụ OTT đem lại doanh thu thấp hơn so với các dịch vụ tương tự đang
được cung cấp trên hạ tầng mạng viễn thông của họ.

đặc điểm kỹ thuật của giao thức SIP – vào tháng 6 năm 2002
Vào tháng 3/2007, FCC (Ủy ban Truyền thông Liên bang Hoa Kỳ) đã yêu cầu
mọi TV mới đều phải có bộ chuyển đổi số, và khuyến khích người dùng sử dụng bộ
chuyển đổi số nhỏ gọn có tên là CableCard. FCC hướng tới CableCard trở thành phương
tiện duy nhất để giải mã tín hiệu TV số. Tuy nhiên, sự tốn kém trong việc xây dựng hệ
thống tương thích lại dễ dàng giết chết CableCard. Truyền hình cáp truyền thống đứng
trước ngưỡng cửa của sự thay đổi, nhưng quá chậm chạp. Truyền hình Internet, IPTV dần
xuất hiện nhưng dịch vụ đi kèm phát triển lại không tương xứng. Không được phép tích
hợp dịch vụ truyền hình trực tiếp vào sản phẩm của mình, các công ty trong ngành công
nghiệp công nghệ cao đã dành nguồn lực để xây dựng hệ sinh thái dành cho nội dung
video phát trên Internet. Apple TV, Xbox 360 của Microsoft cho phép thuê phim trực
tuyến, PS3 của Sony cho phép theo dõi tất cả các giải thi đấu nhà nghề Hoa Kỳ như
MLB, NBA, NFL… Và từ đây bắt đầu kỉ nguyên của OTT TV.
Vào đầu năm 2013, kênh truyền hình CBS đã mở rộng sự hiện diện của mình trên
thị trường với sự ra mắt ứng dụng CBS dành cho iPhone và iPad, cho phép người xem
miễn phí Phần trình giờ vàng sau 8 ngày kể từ khi phát sóng; với Phần trình đêm khuya
thì trong vòng 24 giờ sau khi phát sóng. Các thương hiệu truyền hình có tiếng khác trên
thế giới như YouView, NOW TV hay Sky cũng đang dần hòa mình vào dòng chảy OTT.
Và những cách mà người tiêu dùng đang truy cập nội dung OTT này tiếp tục phát triển,
cho dù đó là cách thông qua set-top box chuyên dụng như Apple TV hoặc Roku, máy tính
xách tay, máy chơi game, máy tính bảng hay smartphone.
Gần đây, ý nghĩa của thuật ngữ OTT đã được mở rộng hơn, áp dụng cho bất kỳ
nhà cung cấp nội dung nào. Điểm mấu chốt của tất cả điều này là các ứng dụng/dịch vụ
OTT không đến từ các công ty viễn thông truyền thống hoặc các nhà cung cấp dịch vụ
Internet. Các công ty viễn thông và công ty cung cấp dịch vụ Internet ISP chỉ đơn thuần
là các nhà cung cấp kết nối Internet mà các ứng dụng OTT hoạt động trên đó.
I.1.3. Phân loại OTT theo dịch vụ
Theo yêu tố dịch vụ được cung cấp, có thể chia ứng dụng OTT thành 2 nhóm lớn:

9

động phổ thông có kết nối Internet.
Tuy nhiên không phải việc đưa truyền hình lên thiết bị cầm tay lúc nào cũng dễ
dàng. Motorola và Cisco đã thất bại khi mà chi phí quá cao với cáp, hộp kết nối, hệ thống
chuyển mạch, quản lý trong khi đó việc di chuyển lên ứng dụng điện toán đám mây giúp
giảm khá nhiều chi phí cho nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ nhỏ cũng như người dùng
cá nhân.
Có không ít các nhà cung cấp đang dần khẳng định mình như HBO Go cho phép
người dùng xem mọi nơi mọi lúc khi bạn trả tiền 1 lần duy nhất cho dịch vụ cáp HBO
truyền thống. Và chính các kênh video, dịch vụ trực tuyến khác như Netflix và Hulu cũng
cạnh tranh khốc liệt với YouTube…
10


Từ đầu năm 2013 đến nay doanh số bán hàng của các nhà đài trên thế giới đã giảm
khá mạnh, và đây là lần giảm đầu tiên trong lịch sử truyền hình cáp. Tuy nhiên, hệ thông
truyền hình cáp tại Việt Nam vẫn khá tốt, một phần là do nền tảng công nghệ còn nhiều
hạn chế và người sử dụng chưa sẵn sàng thay đổi thói quen của mình.
Một báo cáo được công bố bởi công ty nghiên cứu The Diffusion Group cho thấy
sự quan tâm lớn người dùng trong việc tiếp cận nội dung thông qua nhiều thiết bị, có tới
75% lượng thuê bao truyền hình trả tiền có khả năng sử dụng nhiều thiết bị khác nhau để
xem nếu nội dung được cung cấp đầy đủ trọn vẹn. Cuộc điều tra cũng cho thấy khả năng
phát triển doanh thu từ quảng cáo kĩ thuật số trên các thiết bị di động giúp nhà đài bổ
sung nguồn thu đáng kể.
Intel với tham vọng tạo ra kênh truyền hình mới thông qua Internet đã vấp phải sự
phản đối mạnh mẽ của các công ty truyền hình cáp. Người ta lo ngại rằng Intel và OTT
TV của họ sẽ mở cửa cho những người khổng lồ khác như Apple và Google tham gia
vào, cũng như khả năng đe dọa ngành công nghiệp truyền hình cáp.
Truyền hình OTT ứng dụng trong nhiều lĩnh vực:
• Phát hình trực tiếp (LCD media)
• Giảng dạy trực tuyến (Live Education)

trong năm 2012. Ngược lại, thời gian trực tuyến lại tăng từ 44 phút mỗi ngày lên 84 phút
mỗi ngày trong cùng kỳ.
Về lý thuyết, các ứng dụng OTT TV này sẽ cạnh tranh với các sản phẩm và dịch
vụ truyền hình đang có mặt trên thị trường và nảy sinh các mâu thuẫn. Trên thế giới, đặc
biết ở Hoa Kỳ, đây là thực tế đã và đang xảy ra khi các OTT TV đang chiếm lĩnh thị
trường và làm giảm cả thị phần cũng như doanh thu của các dịch vụ truyền hình khác.
Tuy nhiên, đây không phải là mâu thuẫn xuất hiện ở thị trường Việt Nam, do nhiều
nguyên nhân, trong đó yếu tố quan trọng nhất có lẽ là các sản phẩm OTT TV nội địa kém
hấp dẫn và các OTT TV ngoại không gây ảnh hưởng đến thị trường hiện có của các
doanh nghiệp phát thanh truyền hình trong nước.
OTT TV có thể phát triển để đáp ứng nhu cầu quy mô lớn của người xem truyền
hình khi mà nhà cung cấp dịch vụ đầu tư cơ sở hạ tầng phân phối của riêng mình. Tuy
nhiên, cũng không phải là yêu tố mong muốn của các đơn vị cung cấp nội dung số, khi
mà họ đang phân phối nội dung số qua mạng của các công ty viễn thông và có giá thành
rẻ hơn nhiều so với tự đầu tư hạ tầng.
Ưu và nhược điểm của OTT TV so với các hình thức truyền hình khác được tổng
hợp trong bảng sau:
Bảng : Ưu và nhược điểm của OTT TV so với các hình thức truyền hình khác
Công nghệ

Web Tivi

OTT TV

P2P TV
Chi phí thấp,
chỉ phải mua
Chi phí trung
Chi phí trung
licence khoảng

cần thuê hệ
thống máy chủ
phân tán

phải cài đặt
phần mềm,
xem trực tiếp
từ máy tính

xem trực tiếp
qua Tivi thường

Đơn giản, chỉ
cần thuê hệ
thống máy chủ
phân tán

Phải sử dụng
mạng truy nhập,
sử dụng hạ tầng
mạng viễn thông
để triển khai hệ
thống các thiết bị
nếu muốn cung
cấp dịch vụ tại
mạng viễn thông
của các ISP khác

Rất đơn giản,
sử dụng công

người dùng cùng một ứng dụng OTT viễn thông mới có thể liên lạc với nhau qua ứng
dụng OTT viễn thông đó. Điều này mang lại cho OTT tính năng kết nối cộng đồng người
13


sử dụng, tính năng tương tự như các mạng xã hội. Yêu tố này sẽ được phân tích kĩ hơn ở
phần 3 của báo cáo này.
Mô hình kinh doanh của các công ty OTT viễn thông có thể tóm tắt thành 3 dạng
chính như sau:
• Thu phí dịch vụ từ người dùng
• Cung cấp dịch vụ miễn phí cho người dùng và thu doanh thu từ sự hiện diện trên
ứng dụng OTT của mình
• Các hình thức khác
Lần lượt các hình thức kinh doanh này sẽ được trình bày ngắn gọn như sau:
Thu phí sử dụng từ người dùng: Đây là hình thức có thể coi là cổ điển nhất,
giống như các dịch vụ viễn thông thông thường từ các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông
truyền thống. Tuy nhiên, ở trên các OTT viễn thông, hình thức này có những thay đổi để
hấp dẫn người dùng hơn, bên cạnh yếu tố chi phí thấp hơn đáng kể so với các dịch vụ
viễn thông truyền thống như thoại, SMS. Trong hình thức kinh doanh này lại có thể chia
nhánh thành:
Cách 1: Trả phí một lần duy nhất để kích hoạt dịch vụ. Ứng dụng OTT nhắn tin có
số lượng người sử dụng cao nhất thế giới Whatsapp ban đầu chọn phương pháp này. Tuy
nhiên, sau đó họ đã thay đổi cách thức kinh doanh và chuyển sang cách 2.
Cách 2: Hầu hết các ứng dụng OTT viễn thông thành công mà có thu phí từ người
sử dụng đều chọn hình thức: miễn phí hoàn toàn cho các dịch vụ cơ bản và thu phí cho
các dịch vụ nâng cao. Cách thu phí lại chia thành 2 loại là thu phí duy trì dịch vụ theo
thời gian (định kì ngày, tuần, tháng…) và thu phí một lần duy nhất (kích hoạt dịch vụ
nâng cao). Ứng dụng nổi bật chọn hình thức kinh doanh này có thể kể đến như: Skype và
Viber.
Cung cấp dịch vụ miễn phí cho người dùng và thu doanh thu từ bán sự hiện

truyền thống
Chi phí của Tương đối cao
người dùng

Rất thấp, hoặc miễn phí

Chất lượng dịch Tốt, ổn định
vụ

Không ổn định, chất lượng thay đổi tùy theo
từng loại dịch vụ và ứng dụng khác nhau, không
có cam kết về chất lượng

Tính dê tiếp cận Cao, cho tất cả các Thấp, chỉ các thiết bị viễn thông hiện đại hoặc
qua thiết bị đầu loại thiết bị viễn các thiết bị chuyên dùng như điện thoại thông
cuối
thông
minh, máy tính bảng…
An ninh, bảo mật Cao, chính sách, Không rõ ràng, không có cam kết về vấn đề này
quản lý rõ ràng
I.2. Đặc điểm kĩ thuật chung của OTT
Phần này sẽ xem xét mô hình kĩ thuật của một ứng dụng OTT thông thường, sau
đó so sánh nó với mô hình kĩ thuật của một công ty viễn thông để quan sát thấy những sự
khác biệt. Cũng theo đo, có thể đánh giá được những tương tác của phần nội dung số do
OTT cung cấp lên phần hạ tầng mạng của các công ty viễn thông. Cuối cùng, các xung
đột có thể xảy ra giữa hai bên này sẽ được phân tích và đánh giá.
a) Mô hình kĩ thuật của ứng dụng OTT không khác biệt lớn so với các công ty viễn thông
truyền thống
Có rất nhiều sự khác biệt giữa 2 sản phẩm: dịch vụ viễn thông của công ty viễn
thông và dịch vụ OTT của công ty OTT, do đó mô hình công ty viễn thông và mô hình

• Một lớp kiểm soát, quản lý nhận dạng, kiểm soát truy cập và giao tiếp ứng dụng
API, cũng như các dịch vụ OTT quan trọng (ví dụ: tìm kiếm cho Google, kiểm soát thông
tin liên lạc cho Skype hoặc mạng xã hội cho Facebook);
• Một lớp ứng dụng, nơi các bên thứ ba cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng phúa trên
lớp điều khiển, sử dụng các API; và
• Một lớp mạng, tương tự như của các công ty viễn thông.

2 Nguồn: [2].

16


Lớp điều khiển ở đây là hoàn toàn độc lập với lớp mạng. Điều này có nghĩa là sẽ
có hai nhược điểm chính. Đầu tiên, một lớp kiểm soát độc lập không thể quyết định các
chính sách mạng để áp dụng cho các dòng dữ liệu IP. Thứ hai, nó không có thể sử dụng
thông tin ở mức mạng lưới để phục vụ cho việc điều hành và quản lý dịch vụ. Tuy nhiên
những hạn chế bị phá vỡ bởi các doanh nghiệp OTT. Ngày nay, băng thông mạng không
còn là một vấn đề về cung cấp dịch vụ thời gian thực trên các mạng truy cập không dây,
đặc biệt với sự ra đời và phổ biến ngày càng nhanh của các mạng di động thế hệ tiếp
theo. Hơn nữa, quyền hạn của họ cũng như các cơ quan quản lý ngăn chặn các nhà khai
thác hoạt động các lớp mạng không được áp dụng các chính sách làm cản trở truy cập
vào dịch vụ của họ. Cuối cùng, các công ty ứng dụng OTT quản lý hoạt động mà không
cần thông tin đến từ mạng, chỉ dựa vào các thiết bị đầu cuối. Ví dụ, với chứng thực tiềm
ẩn, trải nghiệm người dùng tương tự có thể được đáp ứng bằng việc sử dụng cookie của
trình duyệt web.
Để kết luận, kiến trúc của 2 mô hình được so sánh ở đây có chức năng gần giống
nhau, sự khác biệt chủ yếu là liên kết giữa các mạng và các lớp điều khiển. sự khác biệt
về kiến trúc này hàm ý một mô hình kinh doanh; về bán hàng, công ty viễn thông truyền
thống cung cấp dịch vụ của họ cho khách hàng địa phương của họ (tức là khách hàng của
các mạng truy cập của họ ), trong khi thị trường tự nhiên của các công ty ứng dụng OTT

ngang hàng thì không.
Trái lại, các mô hình OTT không thể hợp tác cùng hoạt động liên kết được, không
phải ở lớp kiểm soát, cũng không phải ở lớp ứng dụng. Ví dụ cụ thể là một cuộc gọi điện
thoại từ một người dùng mạng T-Mobile để người dùng mạng Orange là hoàn toàn tự
nhiên, nhưng kết nội một người sử dụng MySpace vào mạng Facebook không thể thực
hiện được. Kể từ khi các nhà cung cấp OTT bắt đầu hoạt động trên một thị trường toàn
cầu và khách hàng của họ dễ tiếp cận hơn so với các nhà khai thác, sự quan tâm của họ
trong các thỏa thuận hợp tác, liên kết ngang hàng là thấp hơn nhiều. Hơn nữa, các nhà
phát triển ứng dụng không được truy cập đến lớp kiểm soát của nhà cung cấp OTT. Một
ứng dụng iPhone sẽ không bao giờ chạy trên Android, ngay cả khi đã có những nhà khai
thác cố gắng thực hiện việc bắc cầu này với Parlay hoặc Jain để cung cấp các API chung
cho các lớp kiểm soát. Một số dịch vụ OTT đã áp dụng thậm chí đầy đủ các mô hình
“đóng”, ví dụ Apple, duy trì toàn quyền kiểm soát trên các ứng dụng được xây dựng trên
lớp điều khiển của họ, đòi hỏi từng ứng dụng phải được chấp thuận trước khi xuất bản.
Tóm lại, khả năng tương tác, liên kết hợp tác là một sức mạnh quan trọng của các
công ty viễn thông, thậm chí nhiều hơn so với tính mở. Khả năng tương tác, liên kết, hợp
tác được thực hiện giữa các nhà mạng, thông qua các tiêu chuẩn và các thỏa thuận, nó đòi
hỏi đặc điểm kỹ thuật chi tiết và kiểm soát chặt chẽ.
Tính mở có nghĩa là thành phần nhỏ hơn tham gia mạng có thể sử dụng hệ thống
của các nhà mạng theo cách không xác định trước được, đó là việc cho đi một số quyền
lực để đạt được nhiều quyền lực hơn. Liên quan đến ứng dụng OTT, mức độ mở phụ
thuộc vào sức mạnh của công ty sở hữu ứng dụng (lợi thế cạnh tranh) và chiến lược của
họ. Ví dụ, khách hàng của Apple hỗ trợ các mô hình “đóng” bởi vì họ đánh giá cao lợi thế
cạnh tranh của các thiết bị và giao diện rất có ích của Apple. Sự cởi mở không phải là
một yếu tố quan trọng để đạt được hoặc giữ chân khách hàng, nhưng nó là một lựa chọn
chiến lược.
(c) Ứng dụng OTT là không biên giới
Gần đây, ngành công nghiệp viễn thông đã thiết lập ra mô hình công ty viễn thông
2.0 để cạnh tranh với các công nghệ OTT bằng cách xem xét thị trường toàn cầu chứ
không chỉ quan tâm đến thị trường cục bộ (tức là xem xét cung cấp dịch vụ liên quan đến

chỉ mua sản phẩm từ một hệ sinh thái – phù hợp kinh doanh hoặc theo số đông thị
trường. Công ty viễn thông ở đây có tiềm năng mang lại tiêu chuẩn hóa và khả năng
tương tác, liên kết, hợp tác.
(d) Tính trung lập về mạng lưới chỉ là một giải pháp
Tính trung lập về mạng lưới nhằm mục đích ngăn cản việc các nhà vận hành mạng
sử dụng tài nguyên mạng của họ để phân biệt đối xử giữa dịch vụ khác nhau. Như chúng
ta đã thảo luận ở trên, một quy định có tính đối xứng nên mở rộng nguyên tắc này đến
lớp kiểm soát: Các công ty nội dung số sẽ không thể sử dụng các lớp kiểm soát của họ để
phân biệt giữa các nhà cung cấp ứng dụng khác nhau. Hơn nữa, lớp điều khiển của ứng
dụng OTT nên tương thích, ít nhất là đến một mức độ nhất định. Điều này chắc chắn sẽ
bao hàm một số yêu cầu tiêu chuẩn hóa. Hình 7 tượng trưng cho nhu cầu này cho khả
năng tương tác với các phích cắm và ổ cắm.
Cơ quan quản lý của chính phủ Pháp đã quyết định nghiên cứu những khó khăn
những người dùng hiện tại gặp phải khi muốn di chuyển môi trường kỹ thuật số của họ
(dữ liệu cá nhân, ứng dụng,…) khi thay đổi thiết bị di động. Tim Wu, người đã xác lập
19


các khái niệm về tính trung lập mạng lưới và hiện là cố vấn cao cấp của FCC, hiện đang
ủng hộ một nguyên tắc tách: "những người phát triển thông tin, những người kiểm soát
các cơ sở hạ tầng mạng mà thông tin được truyền đi, và những người kiểm soát các công
cụ hoặc các địa điểm truy cập mạng phải được tách độc lập với nhau". Điều này sẽ ngăn
chặn, ví dụ, một nhà cung cấp ứng dụng phân biệt đối xử giữa các ứng dụng nó xuất bản,
hoặc với một công cụ tìm kiếm từ đối thủ cạnh tranh.
(e) Công ty điện thoại/viễn thông là không thể bị thay thế
Các trường hợp sử dụng điện thoại đã thay đổi rất ít kể từ thời gian điện thoại
được chế tạo ra. Trên mạng PSTN, ISDN, hoặc thông qua một hệ đã phương tiện công
nghệ IP, A vẫn gọi B bằng cách soạn số điện thoại của B trên thiết bị của mình, điện thoại
đổ chuông của B, B có cuộc gọi và cả hai nói chuyện với nhau. A thường được tính phí
cho cuộc gọi đó. Trường hợp sử dụng cơ bản này được mở rộng bằng một loạt các tính

giao thức, trong khi W3C sẽ xác định một tập hợp các giao điện lập trình ứng dụng API
Javascript để thí điểm thiết lập và kiểm soát truyền thông.
Phát triển mới nhất này có thể sẽ thách thức sâu sắc điện thoại như chúng ta biết.
Thay vì gọi B, A có thể duyệt trang Facebook của B với điện thoại thông minh của mình,
và chỉ cần nhấp vào để gọi B. B sé được thông báo và thiết lập trả lời trong ứng dụng
Facebook của mình. Tất cả các dòng kiểm soát được duy trì nội bộ trong Facebook,
không cần đến thiết bị đầu cuối nào. Khái niệm về số điện thoại công cộng sẽ biến mất, ít
nhất là cho những người cùng sử dụng nền tảng mạng xã hội tương tự. Như hầu hết các
truyền thông với những người từ mạng xã hội, trường hợp sử dụng mới này có thể dễ
dàng trở nên rất phổ biến. Bộ ứng dụng truyền thông có thể trở thành một thành phần dự
kiến của một ứng dụng mạng xã hội, và, mặc dù điện thoại truyền thống sẽ vẫn còn, tầm
quan trọng của nó sẽ giảm dần. Tuy nhiên, điều này có thể buộc các công ty OTT rời khỏi
vị trí đơn vị phát triển phần mềm và trở thành nhà cung cấp dịch vụ viễn thông, với tất cả
các nhiệm vụ liên quan, chẳng hạn như can thiệp pháp lý, dịch vụ phổ cập hoặc gọi điện
thoại khẩn cấp.
Phải đối mặt với mối đe dọa này trên thị trường điện thoại, công ty viễn thông có
thể chọn để chặn loại ứng dụng điện thoại mới này ở cấp độ mạng, ví dụ dùng phương
pháp lọc địa chỉ IP, hoặc thậm chí cơ chế kiểm duyệt thông tin DPI (Deep packet
inspection) – và cuối cùng bỏ việc chặn này với điều kiện phải trả phí.
Công ty viễn thông cũng có thể, đồng thời xem xét việc phân tách lớn hơn giữa
lớp kiểm soát và lớp mạng, ví dụ bằng cách hợp tác với một số nhà cung cấp OTT. Họ
thậm chí có thể cạnh tranh với các nhà cung cấp OTT bằng cách cung cấp truyền thông
hợp nhất, giống như họ đã cố gắng với bộ truyền thông tiên tiến RCS (Rich
Communication Suite). Thị trường doanh nghiệp trong tình huống này là phát triển cao
hơn, và các nhà khai thác lớn có được vị trí như những nhà quản lý truyền thông toàn cầu
hơn là các nhà khai thác viễn thông đơn thuần. Bằng cách tích hợp sản phẩm phần mềm
và dịch vụ mạng khác nhau, doanh nghiệp có thể gần như không bao giờ phải lựa chọn
một sản phẩm duy nhất cho tất cả các nhu cầu thông tin liên lạc. Ví dụ, gần đây nhà cung
cấp dịch vụ BT đã công bố việc tích hợp các dịch vụ TelePresence và visioconference từ
Cisco, Polycom và Tandberg vào trong cùng một hội nghị trực tuyến.

22


PHẦN II: NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG CỦA OTT Ở VIỆT NAM, CÁC
TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH VỤ OTT ĐỐI VỚI XÃ HỘI VÀ DỊCH VỤ VIỄN
THÔNG TRUYỀN THỐNG
II.1. Thực trạng phát triển của dịch vụ OTT ở Việt Nam
Không khó để thấy được những tiềm năng và ứng dụng hấp dẫn mà OTT có thể
mang lại và khai thác tại thị trường Việt Nam. Đặc biệt khi tỉ lệ các thiết bị thông minh
(smart devices – bao gồm: smartphone, tablet, phablet, smart TV) đang ngày một phổ
biến trên thị trường.
Một yếu tố thuận lợi khác cho thấy đây là thời điểm tốt để OTT phát triển tại Việt
Nam là hạ tầng internet tại VN đã khá hoàn chỉnh với chi phí đầu cuối khá thấp. Điều này
giúp Việt Nam có tỷ lệ người dùng internet, 3G cao, độ phủ rộng.
Báo cáo của ComScore về lượng truy cập video trực tuyến tại châu Á

Hình : Lượng truy cập xem video trực tuyền của khu vực châu Á3

Theo báo cáo của comScore vào Quý II/2012 vừa qua, Viêt Nam có khoảng 13
triệu người xem video trực tuyến, lọt vào top dẫn đầu về lượng truy cập video trực tuyến
tại châu Á. Trong số các nước châu Á – Thái Bình Dương được nghiên cứu, Việt Nam
nằm trong số quốc gia có mật độ người xem video trực tuyến cao nhất, gần 90% người sử
dụng internet truy cập xem video trực tuyến so với mức độ trung bình 83,1% của thế giới.
Youtube vẫn là kênh được xem nhiều nhất tại Việt Nam cũng như trên thế giới.
3 Nguồn: comScore, 2012.

23


Tuy Youtube là ứng dụng OTT dẫn đầu mảng VOD tại Việt Nam song để lại một

nội dung số. Hình thức thanh toán đang được triển khai tại Viện Nam khá đa dạng từ
chuyển SMS, Internet Banking, thẻ cào đến ví điện tử, chuyển khoản ngân hàng. Tuy
nhiên hình thức tiện lợi và được sử dụng phổ biễn nhất vẫn là tài khoản SMS vẫn đang
nằm trong tay của 3 nhà mạng lớn dẫn dắt thị trường, công với tính cạnh tranh kém của
thì ttrường viễn thông làm chi phí tăng cao, gây ảnh hưởng lớn đến doanh thu.
Truyền thông: Đây có lẽ là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định đến
sự thành công của một nhà cung cấp dịch vụ OTT. Chi phí dành cho việc phát triển và
vận hành một dịch vụ OTT có thể thấp hơn rất nhiều so với việc phát triển và vận hành
một dịch vụ thông tin/ viễn thông truyền thống khác. Tuy nhiên, chi phí cho truyền
thông/marketing của những dịch vụ này thì không khác nhứng dịch vụ truyền thống, có
thể lên tới 50% giá trị sản phẩm. Điều này cho thấy ở cuộc chơi này, khi yếu tố sản phẩm
và chất lượng có sự tương đồng rõ rệt thì truyền thông là cứu cánh tạo nên sự thành công
và doanh thu cho dịch vụ.
24


Như vậy xét tổng thể 4 yếu tố trên, thì ngoài Kênh thanh toán được xem là yếu tố
khách quan và là khó khăn chung, thì 3 yếu tố còn lại phụ thuộc vào tiềm lực và cách
vận hành của từng nhà cung cấp dịch vụ. Nói cách khác 3 yếu tố này sẽ là điểm nhấn tạo
nên sự khác biệt và thành công của mỗi nhà cung cấp.

Hình : Mô hình hạ tầng hệ thống của nhà cung cấp dịch vụ OTT [9].

Theo số liệu thống kê từ Hiệp hội Internet Việt Nam (VIA) công bố tại Ngày
Internet Việt Nam 4/12, tỷ lệ sử dụng các dịch vụ OTT qua smartphone tại Việt Nam
đang tăng dần từ 24,7% trong năm 2012 lên 33,8% vào năm 2013; dự kiến 3 năm 2014 2015 - 2016 sẽ tiếp tục đạt được các mức 41% - 44,2% - 45,5%.
II.2.Tác động của dịch vụ OTT đối với xã hội và dịch vụ viễn thông truyền thống
Trong năm 2011, phân khúc dịch vụ OTT chiếm khoảng 10% tổng lợi nhuận trong
ngành công nghiệp viễn thông và chiếm gần 50% tổng lưu lượng trong các mạng băng
rộng di động và cố định trên thế giới. OTT hiện đang là phân khúc thị trường có tốc độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status