Khảo sát đặc điểm tự sự sử thi qua văn bản sử thi Ra Glai (Tây Nguyên) - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

CHU THỊ THÚY HẰNG

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ SỰ SỬ THI QUA VĂN
BẢN SỬ THI RA GLAI (TÂY NGUYÊN)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học dân gian
Mã số: 60. 22. 36

Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS Vũ Anh Tuấn

Hà Nội – 2011


A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Tây Nguyên là một vùng có nhiều tài sản văn hóa vật thể và phi vật thể quý
báu của đất nước ta trong đó có sử thi mà trước đây chúng ta thường gọi là trường
ca, anh hùng ca, một thể loại tự sự dân gian truyền miệng, cho tới nay vẫn được lưu
giữ trong trí nhớ của người dân và thường được diễn xướng trong các dịp sinh hoạt
cộng đồng. Việc phát hiện, sưu tầm và công bố các tác phẩm sử thi Tây Nguyên là
công sức của nhiều thế hệ các nhà sưu tầm và nghiên cứu văn hóa dân gian gần một
thế kỉ qua.
Là một bộ phận hợp thành và làm nên sự phong phú đa dạng của sử thi Việt
Nam, sử thi Tây Nguyên đã có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển và
lưu tồn của sử thi Việt Nam, đặc biệt là về nguồn tư liệu sử thi sống. Thực tế cho
thấy, sử thi Tây Nguyên đã trở thành một phần không thể thiếu trong hệ thống loại
hình sử thi dân tộc, và diện mạo của sử thi Việt Nam chỉ có thể được nhìn nhận

Vì thế, việc tìm hiểu về sử thi akhat` jucar nói chung, cũng như những đặc
trưng thể loại của nó nói riêng trong tương quan và đối sánh với sử thi nhân loại và
sử thi Việt Nam sẽ góp phần khẳng định những đóng góp và giá trị của sử thi Ra
Glai khi nghiên cứu sử thi Việt Nam nói chung và sử thi Tây Nguyên nói riêng. Đó
là lí do đầu tiên chúng tôi chọn sử thi Ra Glai để nghiên cứu.
Hiện nay, việc nghiên cứu tự sự dân gian (Research of Folk Narrative) đã
phát triển sâu rộng và hình thành tổ chức Quốc tế (International Society for Folk
Narrative Research) qua nhiều kỳ đại hội. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu tự sự dân
gian đã đạt được nhiều thành tựu, và ngày càng thu hút được sự quan tâm của các
nhà nghiên cứu. Bản thân nó cũng ngày càng chứng tỏ tính hữu dụng của mình đối
với văn học nói chung và việc nghiên cứu văn học nói riêng từ quá khứ đến hiện
đại.
Sử thi Ra Glai là một kho tàng vô giá và chứa dựng nhiều giá trị cần được
khai thác, vì lẽ đó, việc vận dụng lý thuyết và những ứng dụng của tự sự học, nhất
là lý thuyết trong lĩnh vực loại hình vào nghiên cứu kho tàng sử thi Ra Glai thiết
nghĩ là một việc làm khoa học và đứng đắn.

3


Được sự gợi ý, giúp đỡ của người hướng dẫn, chúng tôi đã chọn vấn
đề“Khảo sát đặc điểm tự sự sử thi qua văn bản sử thi Ra Glai (Tây Nguyên) » làm
đề tài luận văn của mình.
Từ việc tìm hiểu, nghiên cứu, so sánh loại hình sử thi Ra Glai trong tương
quan với sử thi nói chung và sử thi các dân tộc khác, luận văn chỉ ra những đặc
trưng về loại hình của sử thi Ra Glai, từ đó khẳng định về mối tương quan của sử thi
Ra Glai với các sử thi khác, đồng thời chỉ ra những đặc điểm cơ bản trong sự thống
nhất và khu biệt với sử thi nhân loại và sử thi Việt Nam.
Ngoài ý nghĩa khoa học, đề tài còn có ý nghĩa thực tiễn, đó là khẳng định vị trí
và những đóng góp của sử thi Ra Glai đối với nền sử thi Việt Nam một cách khách

tạo nên bước đột phá về chất trong phát hiện và nhận thức sử thi Tây Nguyên.
Đột phá cho giai đoạn này là việc nhóm điều tra sưu tầm của Viện Nghiên
cứu Văn hóa Dân gian cùng với Sở Văn hóa Thông tin Đắc Lắc lần đầu tiên phát
hiện hệ thống sử thi đồ sộ Ot Ndrông của người Mnông, mà qua hơn 10 năm điều
tra, sưu tầm đến nay chúng ta vẫn chưa xác định một cách chính xác số lượng và
khối lượng tác phẩm của nó. Phát hiện quan trọng này đã được phản ánh trong Hội
thảo Khoa học về Sử thi Tây Nguyên, tổ chức ở Buôn Ma Thuột ngày 19/5/1997 do
Trung Tâm KHXH & NV Quốc gia phối hợp với UBND tỉnh Đắc Lắc tổ chức. Đó
là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới việc xây dựng và thực thi Dự án Điều tra, sưu tầm,
bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên, mà Chính phủ đã
giao cho Viện Khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp với các tỉnh Tây Nguyên thực
hiện từ 2001-2007.
Từ năm 2001 - 2005, trọng tâm của dự án là điều tra và sưu tầm những tác
phẩm sử thi truyền miệng đang còn lưu giữ trong trí nhớ của nhân dân, sau đó từ
2005 - 2007 tiến hành biên dịch và xuất bản 75 tác phẩm sử thi. Kết quả của dự án:
Đã sưu tầm đươc 801 tác phẩm sử thi truyền miệng, lưu giữ trong 5679 băng ghi âm
loại 90 phút, tương ứng với khoảng 8500 giờ trình diễn sử thi của nghệ nhân. Từ
các tác phẩm truyền miệng được thu băng trên, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn ra 75
tác phẩm in trong bộ sách Kho tàng sử thi Tây Nguyên gồm 62 tập (mỗi tập dày từ
500 đến 1400 trang).
Từ năm 2008 đến 2010, sau khi dự án điều tra, sưu tầm và in 75 tác phẩm kết
thúc (2001-2007), được sự tài trợ của Nhà nước, nhóm nghiên cứu lại tiến hành

5


phiên dịch và in thêm 25 tác phẩm nữa, để tới năm 2010 in trọn 100 tác phẩm sử thi
Tây Nguyên‖. [Trích dẫn theo lời giới thiệu tác phẩm Kho tàng sử thi Tây Nguyên.
Nguồn: />Song song với việc nghiên cứu về sử thi Tây Nguyên nói chung, các công
trình nghiên cứu chuyên biệt về các tộc người và sử thi của những dân tộc trên địa

Những công trình kể trên đều đã đưa nhiều giả thuyết về nguồn gốc của
người Ra Glai ở Việt Nam, nhưng tập trung ba ý kiến: a) Người Ra Glai có nguồn
gốc từ các đảo đến Việt Nam; b) Là cư dân bản địa sống ven biển trước khi người
Chăm đến vùng đất miền Trung duyên hải Việt Nam; c) Là một nhánh của người
Chăm cổ tách ra.
Trong kho tàng sử thi Tây Nguyên đa dạng và phong phú, những công trình
nghiên cứu về sử thi Ra Glai mới được phát hiện còn hết sức khiêm tốn. Đối tượng
trực tiếp là sử thi Ra Glai thông qua việc vận dụng lý thuyết và ứng dụng của tự sự
học để nghiên cứu có: Phương pháp tự sự bằng khuôn hình sử thi của Phan Đăng
Nhật, Awơi Nãi Tilor – một sử thi Ra Glai độc đáo, của Phan Thu Hiền, Trần Kiêm
Hoàng trong tạp chí văn hóa dân gian số 11; Amã Chisa – một akhat` jucar độc đáo
của người Ra Glai, của Nguyễn Việt Hùng trong Amã Chisa, Amã Cuvau VongCơi:
Sử thi Ra Glai, NXB Khoa học xã hội…
Trong đó không thể không kể đến những bài viết công phu của tác giả Vũ
Anh Tuấn. Trên những cơ sở khoa học đáng tin cậy, tác giả đã giới thiệu một cách
khái quát, cô đọng, chi tiết và có hệ thống trên tất cả các bình diện nội dung, nghệ
thuật, và môi trường diễn xướng của hai tác phẩm sử thi Ra Glai là Udai-Ujac` và
Sa Ea. Từ đó khẳng định đây là những truyện hát hoành tráng, những áng sử thi
đích thực trên nhiều phương diện.
Trong hội thảo tự sự dân gian năm 2009, tác giả Vũ Anh Tuấn cũng có tham
luận về Một số phạm trù Tự sự học qua khảo sát thế giới nghệ thuật sử thi Ra Glai
dựa trên cơ sở 11 Quy luật sử thi của tự sự dân gian do A. Olrik đề xuất. Trong bài
viết này, tác giả đã đưa ra những luận điểm có giá trị về thế giới nghệ thuật sử thi Ra
Glai theo các nguyên tác cấu trúc thể loại. Đặc biệt tác giả đã đặt ra nhiều vấn đề về
đặc điểm tự sự trong một số văn bản sử thi Ra Glai có tính chất gợi mở cho đề tài.
Những kiến thức lí luận và giá trị thực tiễn cùng những định hướng vận dụng
trong nghiên cứu về văn hóa và sử thi Ra Glai của những công trình kể trên đã đem
đến nguồn tư liệu quý giá có ý nghĩa to lớn đối với luận văn này.

7

phẩm quen thuộc làm văn liệu chính cho đề tài. Để đề tài trở nên rõ ràng mạch lạc,
kết cấu bài viết được xây dựng theo các chuyên mục đã định sẵn, trên cơ sở ấy triển

8


khai các ý nội hàm có liên quan tạo thành một chuỗi liên kết bền vững cho toàn bộ
cấu trúc.
Phạm vi nghiên cứu trong luận văn là một số văn bản sử thi Ra Glai tiêu
biểu: Sa Ea, Awơi Nãi Tilơr, Udai – Ujac`, Amã Chisa…
Ngoài ra, chúng tôi cũng so sánh với một số tác phẩm khác để thấy được tính
thống nhất và khu biệt của sử thi Ra Glai về phương diện đặc điểm tự sự sử thi.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp cơ bản sau:
a. Phương pháp phân tích khái quát hóa:
Từ việc dựa trên văn bản cụ thể của một số tác phẩm sử thi Ra Glai, người
nghiên cứu sẽ đưa ra được tính khái quát và những nhận định chung.
b. Phương pháp đối chiếu so sánh
Việc vận dụng phương pháp đối chiếu, so sánh nhằm tìm hiểu sự ảnh hưởng,
tương quan mối quan hệ giữa sử thi Ra Glai và sử thi nhân loại cũng như các nét
khu biệt của nó.
c. Phương pháp thống kê, phân loại
Để việc phân tích, lí giải, đối chiếu có kết quả cần sử dụng phương pháp
thống kê và phân loại cụ thể ở mỗi văn bản và trong toàn chỉnh thể hệ thống sử thi
Ra Glai.
Ba phương pháp nghiên cứu trên được phối hẹp chặt chẽ với nhau, ngoài ra
luận văn còn sử dụng một số phương pháp tổng hợp khác.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu , kế t luâ ̣n , tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn trình
bày thành 3 chương:

để đảm nhận những chức năng quan trọng trong đời sống, tín ngưỡng, văn hoá của
cộng đồng.
1.1.1.1. Khái niệm
Xét về mặt nội dung, sử thi là những tác phẩm theo thể loại tự sự, có nội
dung hàm chứa những bức tranh rộng và hoàn chỉnh về đời sống nhân dân với nhân
vật trung tâm là những anh hùng, dũng sĩ đại diện cho một thế giới nào đó (Theo
Wikipedia).
Trong nghĩa rộng, thuật ngữ sử thi dùng để chỉ một thể loại tự sự, một trong
ba loại thể văn học phân biệt với kịch và trữ tình. Ở phạm vi hẹp, hiện nay được
dùng một cách tương đối phổ biến trong các nền văn học dân tộc nói chung, thuật
ngữ này chỉ thể loại sử thi anh hùng.

11


―Xét về mặt diễn xướng, căn cứ theo dạng vốn tồn tại của chúng, có thể nói
khan, hơmon, hơri… là những tác phẩm thuộc loại hình tự sự dân gian, trong đó có
kết hợp hài hòa một cách tự nhiên các yếu tố nghệ thuật khác nhau: nói lối của văn
xuôi, nói vần của thơ ca, hát của thanh nhạc và diễn xướng của sân khấu‖ [16; 753].
Như vậy, ―căn cứ theo phương thức diễn xướng kết hợp với đặc trưng nghệ
thuật hào hùng kì vĩ, mang âm điệu ngợi ca các nhân vật anh hùng, với nội dung
đầy các sự kiện to lớn xoay quanh các nhân vật với hành động có ý nghĩa toàn dân,
có thể xác định được rằng các sử thi dân gian các dân tộc ít người thuộc phạm trù
sử thi anh hùng trong thể loại tự sự dân gian‖ [16;753].
1.1.1.2. Đặc điểm thể loại
Trong nghĩa hẹp, chuyên biệt và có cách hiểu tương đối phổ quát, sử thi chỉ
một hoặc một nhóm thể loại trong tự sự, đó là sử thi anh hùng, tức những thiên tự
sự kể về quá khứ anh hùng, là bức tranh rộng và hoàn chỉnh về đời sống nhân dân
và về những anh hùng, dũng sĩ, tiêu biểu cho một thế giới sử thi.
Sử thi tồn tại dưới cả dạng truyền miệng và văn bản thành văn. Phần lớn

Những đề tài chính được sử thi cổ xưa miêu tả: chiến đấu chống quái vật (cứu người
đẹp và dân làng), người anh hùng đi hỏi vợ, sự trả thù của dòng họ.
- Sử thi cổ điển
Các dạng cổ điển của sử thi có nhân vật thường là các dũng sĩ kiêm thủ lĩnh
và các chiến binh đại diện dân tộc ở tầm lịch sử; các kẻ thù của họ thường được
đồng nhất với bọn xâm lược, những kẻ áp bức, ngoại bang và dị giáo (như người
Turk, người Tarta với sử thi Slave). Thời gian sử thi ở đây khác với sử thi dân gian,
không còn là thời đại sáng chế các thần thoại, mà là quá khứ vinh quang trong buổi
bình minh của lịch sử dân tộc.
- Anh hùng ca
Những anh hùng ca, với tư cách là các tác phẩm sử thi anh hùng cỡ lớn, thể
hiện sự tương quan giữa yếu tố cá nhân anh hùng và yếu tố sử thi tập thể rõ rệt, đủ
để bộc lộ tính tích cực cá nhân, đã trở thành công cụ đắc lực cho sự biểu hiện yếu tố
toàn dân, toàn dân tộc. Trường ca sử thi ―về thực chất có liên quan đến thời trung
đại, khi dân chúng tỉnh dậy từ giấc ngủ nặng nề, nhưng tinh thần thì đã cứng cáp
đến mức tạo được thế giới riêng của mình và tự cảm thấy mình gắn bó máu thịt với
thế giới ấy... Khi bản thân cái cá nhân được giải phóng khỏi khối vẹn toàn dân tộc

13


khởi thủy với trạng thái chung, lối nghĩ lối cảm chung, hoạt động và số phận chung,
thì thay cho thơ ca sử thi những cái sẽ phát triển chín muồi hơn cả một mặt là thơ
và mặt khác là kịch‖ (Hegel1).
1.1.2. Khái quát về tự sự học
Roland Barthes nói: ―Đã có bản thân lịch sử loài người, thì đã có tự sự‖, tác
giả J. H. Miller có nói: ―Tự sự là cách để ta đưa vào một trật tự, và trật tự ấy mà
chúng ta có được ý nghĩa. Tự sự là cách tạo nghĩa cho sự kiện, biến cố‖ [36,2].
Điều đó cho thấy, tự sự - những phương thức căn bản kiến tạo lại bức tranh
thế giới sự kiện khúc xạ vào hình dung của con người, hình thành ý nghĩa của nó

mà ngày nay đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu có hiệu quả như lĩnh vực thi
pháp tiểu thuyết và nghệ thuật tự sự nói chung. Tự sự học là sự mở rộng của thi
pháp học, thể hiện sự gắn kết của nó với tu từ học (Rhetorica), một bộ môn mà vào
thời cổ đại đã phân biệt với thi pháp học. Hiện thời tự sự học ―kinh điển‖ đã chuyển
sang tự sự học hậu kinh điển, một giai đoạn mới của thi pháp học tiểu thuyết và tự
sự học.
Thi pháp tự sự học không phải thoát thai từ chủ nghĩa cấu trúc mà có cội
nguồn từ thi pháp học tiểu thuyết Anh Mĩ đầu thế kỉ. Trước thế kỉ XX, khái niệm
văn học không bao gồm tiểu thuyết vì nó là văn xuôi, mọi bình luận về tiểu thuyết
chỉ dựa vào chủ đề và nội dung chứ chưa quan tâm hình thức. Vấn đề là phải chứng
minh hình thức nghệ thuật của thể loại văn xuôi – tiểu thuyết, và thế là nghiên cứu
hình thức tiểu thuyết bắt đầu. M. Schorer năm 1947 đã phát biểu: ―Bây giờ người ta
đã chứng minh, bàn về nội dung không phải là bàn về nghệ thuật, mà chỉ bàn về
kinh nghiệm, chỉ khi bàn về cái nội dung đã được thực hiện tức là hình thức, cũng
là tác phẩm nghệ thuật thì khi ấy mới là tiếng nói của nhà phê bình‖. Từ đó các vấn
đề của tự sự như người trần thuật, điểm nhìn, hình thức không gian… đã được bàn
rộng rãi, chúng gắn liền với sự ý thức về vai trò độc lập tự chủ của con người cá
nhân. (J. Watte).
Ở Việt Nam, từ việc xác định vai trò, ý nghĩa của Tự sự học đối với sự phát
triển của bộ môn nghiên cứu văn học, theo báo cáo đề dẫn Tự sự học không ngừng
mở rộng và phát triển của GS TS Trần Đình Sử, tự sự học là ngành nghiên cứu còn
non trẻ, định hình từ những năm 60 - 70 ở Pháp nhưng đã nhanh chóng vượt qua biên
giới, trở thành một trong những lĩnh vực học thuật được quan tâm phổ biến.

15


Những năm gần đây, chuyên ngành này ngày càng phát triển, đặc biệt, nhiều
tác giả có xu hướng gắn nghiên cứu Tự sự học trong quan hệ với văn hoá, với đặc
tính dân tộc..

miệng, chúng hướng văn học truyền miệng vào một con đường chặt chẽ, khác với
con đường của văn học tự sáng tác, bởi văn học truyền miệng chỉ có thể đo đạc
được bằng chính những quy luật của riêng nó, chứ không phải bằng những quy luật
của đời sống hàng ngày, hay đời sống sáng tác.
1.1.3.2. Một số quy luật cơ bản
- Quy luật về khai truyện và kết truyện
Theo Orik, Sa-ge không bắt đầu đột ngột, không kết thúc đột ngột, bắt đầu đi
từ bình lặng đến sôi động, sôi nổi và sau sự kiện có tính chất kết thúc (thông thường
là có một tai họa) thì chuyển từ sôi động đi đến bình lặng và truyện kết.
Ví dụ, sử thi Đăm Di bắt đầu bằng tuổi thơ ấu của Đăm Di và kết thúc bằng
cảnh tượng Đăm Di trở nên giàu có hơn nhiều lần xưa kia nhưng trước đó phải kế
đến các cảnh Đăm Di đánh Mtao Mdây đòi nợ cũ; Đăm Di kết nghĩa với Đăm Prah
Mló; Đăm Di lấy nàng Bang Ea; Đăm Di đi tìm làng Tung Hlung; Đăm Di đi cướp
làng Tung Hlung; Đăm Di đánh Tuăn Nguăn để giữ lại vợ và lấy của cải của làng để
trở nên giàu có.
Hay ở hàng trăm bài dân ca, chỗ kết thúc không phải là cái chết của đôi lứa
mà là những cành lá của hai cây hoa hồng rủ trên nấm mộ. Sự tồn tại của những yếu
bình lặng ở đoạn kết như vậy đã chứng tỏ đó không phải là do cá nhân người kể mà
đấy là một điểm cố định về hình thức sử thi.
- Quy luật về thống nhất cốt truyện và logic truyện
Tổ chức lỏng lẻo và hành động mơ hồ ở cấu trúc cốt chuyện là một đặc điểm
của văn học sáng tác hiện đại. Ở Sa-ge, không như vậy, mà là một tổ chức chặt chẽ,
tình tiết và cốt truyện rõ ràng, thống nhất, trong đó có những mức độ khác nhau.
Một mặt là sự thống nhất sử thi, mọi yếu tố quy về một mối khiến cho sự việc diễn
ra có vẻ đứng đắn ngay từ lúc mở đầu và khiến cho sự việc không bị khuất lấp (ví
dụ một em bé chưa sinh ra đã bị hứa nộp cho quỷ sứ thì mọi vấn đề đều xoay quanh
việc làm thế nào mà nó có thể thoát được khỏi tay quỷ sứ đó). Mặt khác là sự thống
nhất lý tưởng sử thi: nhiều yếu tố được tập hợp theo một trật tự nhằm minh họa tốt
nhất những mối quan hệ giữa các tính cách (hoàng tử được cứu thoát nhờ sự lanh


1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Kho tàng sử thi Tây Nguyên (các tiểu vùng sử thi Tây Nguyên)

18


Có thể nói, thập kỷ 80 - 90 của thế kỷ XX là thời kỳ phát hiện lại và công bố
những thành tựu nghiên cứu đột phá về sử thi Tây Nguyên. Bộ sách Kho tàng sử thi
Tây Nguyên dự kiến cứ trên 100 tác phẩm của các dân tộc Mơnông, Ra Glai, Xơ
Đăng, Ba na… lần lượt xuất bản từ năm 2004 đến nay đã in được 52 trên tổng số 75
cuốn. Mỗi tập sách có độ dày trên dưới 1000 trang.
Trong kho tàng phong phú của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, bên cạnh
giá trị âm nhạc cồng chiêng đã được công nhận là ―di sản văn hóa phi vật thể‖ của
UNESCO, còn phải kể đến giá trị của sử thi. Đó là những áng hùng ca (căn cứ vào
các âm điệu của các anh hùng trong các tác phẩm dân gian ấy), nhưng có lẽ gọi một
cách khoa học chính xác, đó là sử thi. Sử thi hình thành trên nền tảng văn hóa, văn
nghệ dân gian thời cổ đại, trước hết trên nền tảng thần thoại với việc phản ánh nhận
thức của người xưa về thế giới, nhân loại, cuộc sống, gắn liền với phong tục, tập
quán, nghi lễ và ca múa nhạc nguyên thủy. Hơn thế nữa, sử thi không chỉ là đặc
trưng, nét độc đáo duy nhất của vùng văn hóa Tây Nguyên, mà chỉ là một trong
nhiều hiện tượng văn hóa tiêu biểu khác như âm nhạc cồng chiêng, văn hóa nhà mồ,
các luật tục, tập quán… của vùng này.
Trong nền văn học dân gian Tây Nguyên, sử thi chứng minh khả năng tự sự
thành thục, đã đạt tới trình độ cao của các thế hệ tác giả tập thể. Khả năng cuốn hút
công chúng, sự bám chắc và bền bỉ tồn tại, lưu truyền của rất nhiều áng sử thi dân
gian Tây Nguyên cho đến những năm cuối của thế kỷ XX, khi văn hóa, văn học bác
học của nhân loại đã phát triển tột bậc, có lẽ là những minh chứng rõ ràng nhất cho
sự trường tồn của loại thể văn học dân gian này trong đời sống văn hóa cộng đồng.
Để có được điều đó, hẳn là nhờ những đóng góp lớn lao của nghệ thuật tự sự.
Và một khi phương thức tự sự đã được xác lập một cách bền vững là giá trị nghệ

một thuật ngữ khoa học thì hầu như chưa có tác giả nào đề cập tới. Năm 1981, Võ
Quang Nhơn trong công trình Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam ,
đã nói tới thể loại ―Sử thi anh hùng của các dân tộc Tây Nguyên‖, song đây chưa
phải là một khái niệm với ý nghĩa đầy đủ và chặt chẽ của nó. Mãi tới năm 1997,
trong Hội thảo khoa học được tổ chức ở Buôn Ma Thuột, nhân dịp kỷ niệm 70 năm
phát hiện và công bố sử thi khan Đăm San, và sau đó nội dung của nó được công bố
trong tập sách Sử thi Tây Nguyên, xuất bản năm 1998, thì cái tên này mới dần dần

20


được dùng một cách chính thức và bắt đầu hàm chứa nội dung học thuật tương đối
rõ ràng.
Vậy, khái niệm Sử thi Tây Nguyên cần được hiểu như thế nào? Đó là một
dạng tự sự dân gian, nằm trong khuôn khổ thể loại mà các nhà học giả thế giới gọi
là Epic, Epope (dịch sang tiếng Việt là “Sử thi”), gắn với những đặc thù Tây
Nguyên về môi trường tự nhiên, truyền thống các dân tộc bản địa, trình độ phát
triển kinh tế xã hội và các đặc trưng văn hóa, tạo nên sự thống nhất thể loại .[dẫn
theo: Sử thi - một thành tố của văn hóa tộc người Bahnar ở Gia Lai, nguồn
/>1.2.1.2. Các tiểu vùng sử thi Tây Nguyên
Vào những năm đầu thập kỷ 90, khi nghiên cứu về các vùng văn hóa ở Việt
Nam, bên cạnh việc coi Tây Nguyên là một trong bảy vùng văn hóa của Việt Nam,
thì cũng xuất hiện việc đề xuất về các Vùng thể loại văn hóa, trong đó coi sử thi Tây
Nguyên là một trong các vùng thể loại văn hóa của Việt Nam. Đặc biệt, trong Hội
thảo khoa học về Sử thi Tây Nguyên, tổ chức ở Buôn Ma Thuột, năm 1997, với việc
công bố báo cáo khoa học với đầu đề Vùng sử thi Tây Nguyên (một số quan điểm
cơ bản), đã bước đầu làm rõ khái niệm này: Vùng sử thi là vùng thể loại văn hóa, ở
đó trong một không gian lãnh thổ nhất định, các tộc người đã sáng tạo và lưu truyền
sử thi, mà các tác phẩm sử thi đó thể hiện sự thống nhất, tương đồng về nội dung,
kết cấu cốt truyện, các đặc trưng nghệ thuật, phương thức diễn xướng, lưu truyền,

- Tiểu vùng sử thi Mnông - Xtiêng ở Nam Tây Nguyên, trên địa bàn các tỉnh
Đắc Nông, Lâm Đồng, Bình Phước. Đây là các tộc nói ngôn ngữ Môn - Khơ me,
trong đó sử thi Xtiêng phát hiện được ở nhóm Xtiêng Bulơ (Xtiêng cao) giống với
sử thi Ot Nđrông của người Mnông. Từ xa xưa hai tộc Mnông và Xtiêng cùng một
gốc, sau này mới phân hoá thành hai dân tộc như ngày nay. Số lượng các tác phẩm
sử thi Ot‟Nđrông sưu tầm được chiếm số lượng lớn nhất 281 tác phẩm, thường các
tác phẩm này có độ dài vào loại nhất, thường là từ 700 - trên 1000 trang (diễn
xướng 30-40 giờ). Đặc biệt, phần lớn các tác phẩm sử thi này dưới dạng liên hoàn
(phổ hệ), tạo nên tác phẩm đồ sộ, dài vào loại nhất ở nước ta và trên thế giới.
- Tiểu vùng sử thi Ra Glai, Chăm trên địa bàn Khánh Hòa, Ninh thuận, Bình
Thuận. Đây là địa bàn chưa điều tra và sưu tầm kỹ, nên số lượng tác phẩm thu được
chưa nhiều, khoảng trên 30 tác phẩm, nhưng nếu kể các tác phẩm thu được thì có độ
dài rất lớn, diễn xướng trong nhiều giờ (từ 50-60 giờ), tiêu biểu như các tác phẩm:

22


Udai`-Ujac, Che Tili, Dăm Mutui Ama, Dăm Chi Lăng... Sử thi akhat` jucar của người
Ra Glai phản ánh những nội dung lịch sử và xã hội liên quan nhiều đến người Chăm,
quốc gia Chămpa và xa hơn là với Ấn Độ. Điều này hoàn toàn có thể giải thích được từ
mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử giữa người Chăm và Ra Glai trong quá khứ.
Bên cạh đó, với những phát hiện mới về sử thi Tây Nguyên từ sau thập niên
70 của thế kỷ trước của các nhà sưu tầm và nghiên cứu Việt Nam, chúng ta biết đến
hai loại tác phẩm sử thi ở Tây Nguyên. Đó là loại tác phẩm sử thi “độc lập” và loại
tác phẩm sử thi “liên hoàn”. Tác phẩm sử thi độc lập là các tác phẩm riêng rẽ, trong
đó các nhân vật anh hùng có tên tuổi riêng, sự nghiệp, hành động riêng, khiến nó có
thể đứng độc lập trong các tác phẩm cùng loại. Như đã giới thiệu ở trên, loại tác
phẩm này thấy phổ biến ở sử thi của người Êđê, Gia rai, Ra Glai, phân biệt với loại
tác phẩm sử thi ―: liên hoàn‖ (còn gọi là ―xâu chuỗi‖, ―phổ hệ‖) thường thấy ở các tộc
Mnông, Ba na, Xơ đăng. Loại sử thi ―liên hoàn‖ này, một mặt, mỗi tác phẩm có vị trí

cho rằng, do trước đây các đảo Đông Nam Á đều ―dính‖ với đất liền, nên các dân
tộc Đông Nam Á đều ở đất liền. Qua quá trình tạo sơn, các hải đảo ―tách‖ ra, trôi xa
dần đất liền. Một bộ phận dân cư ―trôi‖ theo, trở thành các cư dân hải đảo ngày nay.
Tóm lại, lịch sử quá trình tộc người của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo Polinésienở Việt Nam (Chăm, Ra Glai, Chu Ru, Ê đê, Giarai) vẫn mới chỉ dừng lại
ở một vài giả thuyết. Nhưng rõ ràng, các dân tộc trong một nhóm ngôn ngữ (có thể
không phải cùng một nguồn gốc chủng tộc) này chắc chắn phải có mối quan hệ gắn
bó mật thiết với nhau trong lịch sử tồn tại và phát triển. Điều đó nói lên mối quan hệ
giữa người Ra Glai với người Chăm, người Churu, Rai, Giarai, Ê đê.
Về văn hóa Ra Glai, hiện nay đang tồn tại hai cách phân vùng như sau:
Cách phân vùng thứ nhất chủ yếu dựa theo địa giới hành chính: Nhóm Ra
Glai Bắc có nhiều nét khác biệt là nhóm Ra Glai ở hai huyện Khánh Sơn và Khánh
Vĩnh ở tỉnh Khánh Hòa, nhóm Ra Glai Nam là nhóm Ra Glai còn lại ở các tỉnh
Ninh Thuận, Lâm Đồng và Bình Thuận. Đây là cách phân vùng của một số tác giả
nghiên cứu về tộc người Ra Glai như J. Shrock, V. Cobbey, L. Lee. Mở đầu là cuốn
sách viết về các dân tộc ít người ở miền nam của Bộ Quốc phòng Mỹ, xuất bản năm
1966. Trong cuốn sách này, các tác giả đã chia tộc người Ra Glai làm hai nhóm: Ra

24


Glai Bắc và Ra Glai Nam, nhưng sự phân biệt ấy chỉ có ý nghĩa về mặt địa lý đơn
thuần.
Cách phân vùng thứ hai là cách phân vùng theo độ đậm nhạt của văn hóa
truyền thống. Cách phân vùng này lấy Quốc lộ 27 làm ranh giới. Từ phía bắc quốc
lộ 27 trở ra Khánh Hòa là nhóm Ra Glai Bắc bao gồm bà con Ra Glai ở 2 huyện
Khánh Sơn, Khánh Vĩnh thuộc tỉnh Khánh Hòa và các huyện Thuận Bắc, Bác Ái ở
Ninh Thuận. Từ phía nam Quốc Lộ 27 trở vào đến Bình Thuận là nhóm Ra Glai
Nam bao gồm bà con Ra Glai ở các huyện Ninh Sơn, Ninh Phước của tỉnh Ninh Thuận,
ở huyện Bắc Bình và Hàm Thuận Bắc của tỉnh Bình Thuận, một số làng Ra Glai ở Đơn
Dương tỉnh Lâm Đồng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status