ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT MÔN LUẬT DÂN SỰ
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
1. Đối tượng điều chỉnh và
2. phương pháp điều chỉnh của luật dân sự
Đối tượng điều chỉnh.
1.1.1 Khái niêm.
Nhà nước quản lý xã hội bằng nhiều cách thức trong đó có việc ban hành pháp luật để điều chỉnh
những hành vi của chủ thể trong xã hội,định hướng những quan hệ đó phát sinh, thay đổi, chấm
dứt theo mục tiêu, định hướng của nhà nước. Những quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh là
đối tượng điều chỉnh của pháp luật. Hệ thống pháp luật của nước ta bao gồm nhiều nghành luật,
mỗi nghành luật lại được phân công điều chỉnh một nhóm quan hệ nhất định. Điều 1 BLDS quy
định luật dân sự điều chỉnh quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân của chủ thể trong giao lưu dân
sự.
1.1.2 Phân loại quan hệ.
- Quan hệ tài sản
Tại Điều 163 BLDS quy định tài sản bao gồm:
Vật, là một bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại một cách khách quan, thoả mãn một nhu cầu
nào đó của con người và con người có thể chiếm hữu được.
Tiền, là một vật ngang giá đặc biệt do nhà nước phát hành, có chức năng thanh toán, cất dữ, lưu
thông…
Giấy tờ trị giá được bằng tiền như cổ phiếu, trái phiếu…
Quyền tài sản, là những quyền trị giá được bằng tiền như quyền đòi nợ, quyền sử dụng đất.
Đặc điểm
- Các quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh mang tích chất hàng hoá, tiền tệ
- Các quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh mang tính đền bù ngang giá trong trao đổi.
Các quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh.
- Quan hệ sở hữu.
- Quan hệ hợp đồng.
- Quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
- Quan hệ thừa kế.
- Quan hệ nhân thân
chế năng lực pháp luật của một hoặc một nhóm cá nhân nhất định.
- Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi sinh ra và chấm dứt khi cá nhân đó chết, sinh
ra với tư cách là một con người, là chủ thể của pháp luật, được pháp luật bảo vệ do đó cá nhân có
các quyền nhân thân và tài sản.
- Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là như nhau, không phân biệt giới tính, thành phần dân
tộc, giàu nghèo, tôn giáo…Mọi cá nhân đều bình đẳng về năng lực pháp luật đều có các quyền
nhân thân và tài sản ( Điều 14 K2 BLDS )
2.1.1.2 Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của cá nhân
do pháp luật quy định trong các văn bản pháp luật, cá nhân có quyền, nghĩa vụ sau đây:
- Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản. Quyền nhân thân
không gắn với tài sản là những quyền thuần tuý về tinh thần gắn liền với chủ thể, không thể bị
định đoạt và không thể chuyển nhượng, những giá trị nhân thân này được đánh giá bởi xã hội, nó
đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người như danh dự, nhân phẩm, uy tín, họ tên … Các quyền
này được quy định từ Điều 26 đến Điều 51 BLDS.
- Quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản. Quyền sở hữu là quyền của cá
nhân đối với tài sản của mình trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt, cá nhân có quyền sở hữu
đối với tài sản có được một cách hợp pháp.
Quyền thừa kế là quyền của cá nhân được hưởng di sản của người khác để lại và quyền để lại tài
sản của mình cho người khác theo di chúc hoặc theo pháp luật. Quyền khác đối với tài sản như
quyền khai thác bất động sản liền kề, quyền tưới tiêu….
- Quyền tham gia vào các quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ đó. Xuất phát
từ nguyên tắc cá nhân có quyền tự do cam kết, thoả thuận bất cứ vấn đề gì vì lợi ích của mình
nhưng không được vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.
2.1.1.3. Tuyên bố cá nhân mất tích, tuyên bố cá nhân chết
- Tuyên bố cá nhân mất tích
Là việc Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố một cá nhân mất tích khi có đủ những điều kiện
luật định.
Điều kiện để tuyên bố cá nhân mất tích bao gồm:
người bị tuyên bố chết có thể kết hôn với người khác mà không phải làm thủ tục ly hôn như
tuyên bố cá nhân mất tích.
2.1.2 Năng lực hành vi dân sự
2.1.2.1 Khái niệm.
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập,
thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự.
Phân loại mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân.
- Người không có năng lực hành vi dân sự
Là người chưa đủ 6 tuổi, Người này không được phép tham gia vào các giao dịch dân sự. Những
giao dịch dân sự liên quan đến người này sẽ do người đại diện xác lập, thực hiện, người đại diện
ở đây có thể là cha, mẹ hoặc người giám hộ, trong phạm vi thẩm quyền của mình người đại diện
xẽ thực hiện các giao dịch vì lợi ích của người được đại diện.
- Năng lực hành vi dân sự của người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi:
Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự phục vụ sinh
hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi, còn những giao dịch khác phải có sự đồng ý của người đại
diện theo pháp luật,
- Cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ:
Người từ đủ 18 tuổi trở lên không bị toà án tuyên bố mất hoặc tuyên bố hạn chế năng lực hành vi
dân sự là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
- Người bị mất năng lực hành vi dân sự (Điều 22 BLDS):
Người bị mất năng lực hành vi dân sự là người bị mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà
không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, bị Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng
lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định, theo yêu cầu của người có quyền,
lợi ích liên quan,
- Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 23 BLDS)
Người bị hạn chế năng lực hành vi là người nghiện ma túy hoặc các chất kích thích khác dẫn đến
phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ
chức hữu quan Tòa án có thể gia quyết định tuyên bố một cá nhân bị hạn chế năng lực hành vi
diện theo uỷ quyền.
- Hành vi của người đại diện phù hợp với quy định của pháp luật làm phát sinh quyền, nghĩa vụ
của pháp nhân.
- Pháp nhân phải chịu trách nhiệm bàng tài sản của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác.
2.3 Hộ gia đình
2.4 Tổ hợp tác
3. Đại diện
3.1 Khái niệm đại diện
Đại diện là việc một người nhân danh một người khác xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự
trong phạm vi thẩm quyền đại diện. (Điều 139 BLDS)
3.2 Phân loại đại diện
- Đại diện theo pháp luật
Là đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết địnhn, người đại
diện theo pháp luật được quy định tại Điều 141 BLDS, bao gồm:
- Đại diện theo ủy quyền
Là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền của người đại diện và người được đại diện.
3.2.1 Phạm vi thẩm quyền và chấm dứt đại diện
3.2.2 Phạm vi thẩm quyền đại diện
Phạm vi thẩm quyền là giới hạn quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ ủy quyền.
Mỗi loại đại diện được xác lập trên các căn cứ pháp lý khác nhau, vì vậy, thẩm quyền của chúng
cũng khác nhau.
- Đại diện theo pháp luật: người đại diện theo pháp luật có thẩm quyền xác lập, thực hiện mọi
giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện được pháp luật thừa nhận, trừ trường hợp
pháp luật hoặc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quy định khác.
- Đại diện theo ủy quyền: Phạm vi ủy quyền trong quan hệ đại diện theo ủy quyền được xác định
cụ thể trong thỏa thuận của các bên.
Người đại diện chỉ được thực hiện các hành vi pháp lý trong khuôn khổ phạm vi, thẩm quyền đã
- Thời hạn do các bên thoả thuận.
- Thời hạn do pháp luật quy định.
4.1.3 Cách tính thời hạn.
Thời hạn dược tính theo dương lịch.
Thời gian bắt đầu, chấm dứt của thời hạn (Điều 153 BLDS)
4.2 Thời hiệu.
4.2.1 Khái niệm.
Là thời hạn do pháp luật quy định mà kết thúc thời hạn đó làm phát sinh một hậu quả pháp lý.
4.2.2 Phân loại thời hạn.
- Thời hiệu hưởng quyền dân sự.
- Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự.
- Thời hiệu mất quyền khởi kiện vụ án dân sự.
- Thời hiệu mất quyền khởi kiện yêu cầu việc dân sự.
CHƯƠNG 2: SỞ HỮU
1. Khái quát về sở hữu
1.1 Một số khái niệm.
1.1.1 Khái niệm sở hữu
Là một phạm trù kinh tế chỉ các quan hệ chiến hữu, sử dụng định đoạt tài sản trong quá trình sản
xuất, phân phối, lưu thông sản phẩm
1.1.2 Khái niệm quyền sở hữu.
Quyền sở hữu là một phạm trù pháp lý chỉ quyền của chủ thể trong quá trình chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt tài sản.
1.1.3 Khái niệm về tài sản.
Tài sản là vật, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền, và quyền tài sản (Điều 163 BLDS)
2. Căn cứ làm phát sinh, chấm dứt quyền sở hữu.
2.1 Căn cứ làm phát sinh quyền sở hữu
( Điều 170 và được cụ thể hoá từ Điều 233 đến Điều 247)
2.2 Căn cứ làm chấm dứt quyền sở hữu
( Điều 171 và được cụ thể hoá từ Điều 248 đến Điều 254)
Là sở hữu của các hợp tác xã hay các tổ chức làm ăn kinh tế tập thể khác, cùng góp vốn, góp sức,
cùng hưởng lợi nhuận cùng chịu rủi ro.
5.3 Sở hữu tư nhân
Là sở hữu của từng cá nhân đối với tài sản.
5.4 Sở hữu chung
Là sở hữu của hai hay nhiều chủ thể đối với một tài sản.
5.5 Các hình thức sở hữu khác
Sở hữu của tổ chức chính trị, chính trị xã hội…
Chương 3: TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
1 Những quy định chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1.1 Khái niệm
Theo nghĩa hẹp trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý,
áp dụng đối với người có hành vi vi phạm, xâm hại tới các lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần của
chủ thể khác, buộc người này phải gánh chịu một hậu quả bất lợi do hành vi trái pháp luật của
mình gây ra.
1.2 Đặc điểm
Thứ nhất: Cơ sở để phát sinh loại trách nhiệm này là những quy định của pháp luật được ghi
nhận trong những văn bản quy phạm pháp luật như Hiến pháp, Bộ luật dân sự, các luật khác và
văn bản dưới luật như nghị quyết, Nghị định...Quy định những hành vi vi phạm và quyền yêu
cầu bồi thường của người bị thiệt hại.
Thứ hai: Các quyền và nghĩa vụ của chủ thể được quy định trong các văn bản quy phạm pháp
luật. Khác với trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng, các bên có thể thoả thuận các biện pháp
chế tài và khi có sự vi phạm thì sử lý theo các biện pháp đó.
Thứ ba: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đặt ra ngay cả khi chủ thể không có lỗi
ví dụ Điều 623,624 Bộ luật dân sự, đây là loại trách nhiệm pháp lý khách quan nhằm bảo vệ lợi
ích nhà nước, lợi ích công cộng, quyên và lợi ích hợp pháp của người khác trong một số trường
hợp cụ thể.
Nguyên tắc khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người
gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức
bồi thường,
1.4 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường và xác định thiệt hai.
1.4.1 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường.
Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ gây thiệt hại phải bồi thường bằng
tài sản của mình. Bởi lẽ người này đủ khả năng nhận thức và tự định đoạt các vấn đề liên quan
đến cá nhân trong lĩnh vực dân sự vì vậy họ phải tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, cha
mẹ không phải chịu trách nhiệm thay.
Người chưa thành niên chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường
toàn bộ thiệt hại bằng tài sản của mình, nếu tài sản của cha, mẹ không đủ mà con chưa thành niên
gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy
định khác.
Người chưa thành niên từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thì lấy tài sản của người này
bồi thường, nếu tài sản không đủ thì lấy tài sản của cha mẹ để bồi thường
Đối với người chưa thành niên mà không còn cha, mẹ hoặc còn cha mẹ mà cha mẹ không đủ
điều kiện để đảm nhận việc đại diện, người mất năng lực hành vi dân sự mà có người giám hộ thì
người giám hộ sẽ lấy tài sản của người được giám hộ để bồi thường cho người bị thiệt hại, nếu
tài sản không đủ để bồi thường thì lấy tài sản của người giám hộ để bồi thường, trừ trường hợp
người giám hộ chứng minh rằng mình không có lỗi.
1.4.2. Xác định thiệt hại.
- Thiệt hại do tài sản bị xâm hại bao gồm những tài sản bị mất mát, bị hư hỏng, bị tiêu huỷ.
Những lợi ích vật chất gắn liền với việc khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút, khi xem xét loại
thiệt hại này cần phải xem xét trong mối liên hệ thực tế khách quan với hành vi gây thiệt hại,
không được suy đoán không có căn cứ, không có cơ sở khoa học. Thiệt hại còn bao gồm cả các
chi phí hợp lý cho việc ngăn chặn, khắc phục thiệt hại và hạn chế thiệt hại.
- Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm những chi phí hợp lý cho việc cứu chữa nạn nhân
như chi phí khám chữa bệnh, … Các thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại,
chính đáng để gây thiệt hại cho chủ thể khác, pháp luật dân sự quy định người gây thiệt hại do
vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
2.2. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết
Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe doạ trực tiếp
lợi ích của nhà nước, của tập thể, của người khác hoặc của bản thân mà không còn cách nào khác
phải có một hành động gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn. Như vậy tình thế cấp
thiêt là tình thế mà chủ thể vào hoàn cảnh đó không còn lựa chọn nào tốt hơn, họ chủ động gây
ra một thiệt hại nhưng thiệt hại này phải nhỏ hơn thiệt hại cần bảo vệ. So với phòng vệ chính
đáng thì chúng ta thấy thiệt hại trong phòng vệ chính đáng có thể bằng hoặc cao hơn so với lợi
ích cần bảo vệ. Người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải bồi thường, hành vi đó
được xem là hành vi hợp pháp,
2.3. Bồi thường thiệt hại do người dung chất kích thích gây ra
Người nào do uống rượu hoặc chất kích thích khác mà lâm vào tình trạng mất khả năng nhận
thức và làm chủ được hành vi của mình, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường.
2.4. Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra
Trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường
cho người bị thiệt hại bởi vì họ cùng có lỗi trong việc gây ra thiệt hại đó. việc xác định mức bồi
thường tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người, nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ
phải bồi thường theo phần bằng nhau. Như vậy trách nhiệm bồi thường liên đới trong trường hợp
này phát sinh khi:
- Các chủ thể cùng gây thiệt hại có sự thống nhất với nhau về ý chí
- Hoặc thiệt hại xảy ra là một thể thống nhất không thể tách rời
2.5. Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân, do cán bộ công chức gây ra
Pháp nhân, cơ quan quản lý cán bộ công chức phải bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân,
của cán bộ công chức của mình gây ra trong khi thực hiện công việc của pháp nhân giao phó
hoặc đang thực hiện cộng vụ, về nguyên tắc khi những người này thực hiện công việc của pháp
nhân của cơ quan nhà nước giao phó là họ nhân danh pháp nhân, nhân danh cơ quan nhà nước,
do đó pháp nhân cơ quan nhà nước phải chịu trách nhiệm về hành vi của những người này.
2.6. Bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền tố tụng gây ra
Cơ quan tiến hành tố tụng là các cơ quan Công an, Viện kiển sát nhân dân, Toà án nhân dân, Thi
nhân, tổ chức thì khác phải bồi thường thiệt hại do súc vật của mình gây ra, việc quy định như
vậy xuất phát từ tư cách chủ thể, chủ sở hữu là người có nghĩa vụ trông giữ và quản lý, vì vậy
khi súc vật gậy thiệt hại cho người khác thì suy đoán rằng chủ sở hữu đã có lỗi trong việc trông
giữ và quản lý đó.
2.11. Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra
chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác
phải bồi thường thiệt hại, nếu để nhà cửa, công trình xây dựng khác đó bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở
gây thiệt hại cho người khác. Trong trường hợp này cũng suy đoán rằng chủ sở hữu, người được
chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà của, công trình khác có lỗi trong việc quản lý, sử dụng. Về
nguyên tắc thiệt hại bao nhiêu bồi thường bấy nhiêu, nhưng trong thực tế việc vướng mắc nhất
trong việc giải quyết tranh chấp là xác định thiệt hại.
2.12. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể
Cá nhân, tổ chức xâm phạm thi thể phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra .Đây là một quy
định mới được ghi nhận trong Bộ luật dân sự nhằm cụ thể hóa hành vi xâm phạm này, trong thực
tế những năm gần đây do mâu thuẫn thù hằn cá nhân mà loại hành vi xâm phạm này khá phổ
biến, không những gây thiệt hại, tổn thương cho những người thân thích của người chết mà còn
trái với thuần phong mỹ tục của người Việt nam.
Chương 4: THỪA KẾ
1. Những quy định chung về thừa kế
1.1 Khái niệm về thừa kế và quyền thừa kế
1.1.1 Khái niệm về thừa kế
Là sự dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống theo di chúc hoặc theo pháp
luật.
1.1.2 Khái niệm quyền thừa kế
Quyền thừa kế là một phạm trù pháp lý, nó chỉ xuất hiện trong xã hội có nhà nước và có pháp
luật. Khi các quan hệ thừa kế được luật pháp điều chỉnh, chi phối lúc này nó không còn là một
quan hệ xã hội thuần tuý mà còn là một quan hệ pháp luật, quan hệ giữ người với người trong
1.5.2. Người không có quyền hưởng di sản
Là những người có hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm thuần phong mỹ tục, có hành vi trái luân
thường đạo lý, xâm phạm nghiêm trọng đến người để lại di sản do đó pháp luật không cho họ
hưởng theo Điều 643 Khoản 1 BLDS.
1.5.3 Thời hiệu khởi kiện về thừa kế
Theo quy định tại Đoạn 1 Điều 645 “ Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản,
xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ
thời điểm mở thừa kế”.
1.6 Thanh toán và phân chia di sản thừa kế
1.6.1 Thanh toán di sản.
Trước khi chia thừa kế những người thừa kế phải xác định di sản thừa kế là bao nhiêu, nghĩa vụ
về tài sản của người chết là gì và thanh toán các nghĩa vụ về tài sản đó. Việc thanh thoán theo
thứ tự ưu tiên được quy định tại Điều 683 BLDS.
1.6.2. Phân chi di sản thừa kế.
Trong trường hợp có di chúc thì phân chi theo ý nguyên của người lập di chúc, nếu di chúc
không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được
chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Nếu không có di chúc, hoặc di chúc
không hợp pháp, người thừa kế theo di chúc từ chối nhận di sản hoặc chế trước hay chết cùng
với người để lại di sản... thì phân chia theo pháp luật.
2. Thừa kế theo di chúc
2.1 Khái niệm di chúc
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho người khác sau
khi chết.
Điều kiện để di chúc hợp pháp
- Chủ thể lập di chú phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ ( Người từ đủ 15 tuổi đến
chưa đủ 18 tuổi có thể lập di chúc nếu có sự đồg ý của người đại diện)
- Người lập di chúc phải tự nguyện, trong tình trạng minh mẫn, sáng suốt.
- Nội dung của di chúc không được vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã
với người chết pháp luật quy định những người trong diên thừa kế ra làm ba hàng thừa kế Điều
676 BLDS.
3.2.3 Thừa kế thế vị
Trong trường hợp con của người hưởng di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để
lại di sản thì cháu được thế vào vị trí của cha hoặc mẹ để hưởng di sản của ông hoặc bà. Nếu
cháu cũng chết trước hoặc chết cùng thời điểm thì chắt được thế vào vị trí của cha hoặc me để
hưởng di sản của cụ.