Nhãm 5 – KT 3A3
Bài thảo luận
KINH TẾ VĨ MÔ
Phân tích các giải pháp kích cầu
mà Chính phủ Việt Nam áp dụng
trong giai đoạn 2008 – 2009
1. Thực trạng kinh tế Việt Nam trong 2008 - 2009
Năm 2008, VN chứng kiến hai cuộc
khủng hoảng nối tiếp. Nửa đầu năm, VN
chịu ảnh hưởng của tình trạng phát triển quá
nóng do nguồn vốn vào ồ ạt. Kết quả là lạm
phát gia tăng, thâm hụt thương mại, bong
bóng bất động sản và giảm sút chất
lượng đầu tư.
Nửa cuối năm 2008, rủi ro liên quan tới mảng cho vay bất động sản dưới
chuẩn tại Mỹ đã thổi bùng khủng hoảng tài chính toàn cầu với diễn biến khó
lường. KT TG năm 2008 đã tác động rõ nét tới nền KT nước ta. Chúng ta đã
phải đối mặt với những khó khăn về vấn đề thanh khoản của hệ thống tín
dụng, lãi suất ngân hàng cao, những cơn sốt giá lương thực và năng lượng,
thị trường chứng khoán tiếp tục bị sụt giảm…
1. Thực trạng kinh tế Việt Nam trong 2008 – 2009
1.1.Tổng cung
Cuộc khủng hoảng KT tài chính TG mặc dù không trực tiếp tác động tới
nền KT VN thông qua hệ thống tài chính, tuy nhiên tác động gián tiếp tới
cung cầu là khá lớn và nền KT VN đã tăng trưởng thấp nhất trong vòng 10
II
III
IV
I
II
III
IV
TỔNG SỐ
8,48
7,43
6,50
6,52
6,23
3,10
3,90
1,75
2,39
3,05
3,58
-0,50
0,78
1,33
1,32
Lâm nghiệp
1,10
0,20
0,79
1,35
1,74
2,10
4,28
5,52
-2,03
12,79
0,10
10,64
-6,62
11,43
-4,69
11,45
-3,83
10,05
4,50
-0,30
7,30
1,09
8,17
1,69
7,62
2,76
8,74
9,73
11,36
Dịch vụ
8,05
7,60
7,23
7,20
5,40
5,50
5,91
6,63
Thủy sản
Công nghiệp và xây
dựng
CN khai thác mỏ
CN chế biến
Quý I – 2009 sau đó đã hồi phục tương đối
mạnh. Tương tự như vậy mức vận tải hàng
hóa cũng tăng mạnh trong những tháng cuối
năm cho thấy tiêu dùng (và cả đầu tư) đã có
xu hướng hồi phục mạnh về cuối năm. Số liệu
sơ bộ của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy
tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình giảm đến
9,3% trong Quý I/2009 nhưng sang đến Quý
II, III, IV đã tăng trưởng lần lượt là 3,8%, 8,4%
và 9,3%.
1. Thực trạng kinh tế Việt Nam trong 2008 – 2009
1.2.Tổng cầu
Đầu tư
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2009 đạt 704,2 nghìn tỷ đồng, tăng
15,3% so với năm 2008 và chiếm 42,8% GDP. Năm 2009 chứng kiến sự
gia tăng mạnh mẽ của vốn đầu tư từ khu vực nhà nước, tăng tới 40,5% so
với năm 2008, chiếm 35% tổng vốn đầu tư toàn xã hội (cao hơn so với mức
29% năm 2008). Trong khi đó, vốn FDI đã suy giảm, giảm 5,8% so với năm
2008, tỷ trọng trong tổng đầu tư toàn xã hội cũng giảm từ 31% năm 2008
xuống còn 26%. Vốn đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước tăng 13,9%, thấp
hơn so với tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư toàn xã hội và tỷ trọng trong tổng
vốn đầu tư toàn xã hội cũng khá ổn định.
1. Thực trạng kinh tế Việt Nam trong 2008 – 2009
1.2.Tổng cầu
Hình 7. Tỷ trọng các thành phần KT trong tổng đầu tư toàn xã hội, 2005-2009
mức dưới hai con số. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả nước qua 10 tháng đầu
năm chỉ tăng 4,49% so với tháng 12/2008. Đây là mức tăng chỉ số giá tiêu
dùng khá thấp so với những năm gần đây và là mức tăng hợp lý, không gây
ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất của người dân. Nhiều loại hàng
hoá có ảnh hưởng mạnh trong rổ hàng hoá để tính CPI tăng thấp. Chỉ số
CPI lương thực tăng nhẹ trong 6 tháng đầu năm (0,59%) nhưng lại có xu
hướng giảm trong những tháng cuối năm. Như vậy, nếu như lương thực,
thực phẩm luôn là đầu tàu kéo lạm phát đi lên trong những năm 2007 và
2008 thì ở năm 2009 nhân tố này không còn đóng vai trò chính nữa.
1. Thực trạng kinh tế Việt Nam trong 2008 – 2009
1.3. Các cân đối lớn trong nền kinh tế
Diễn biến làm phát hàng tháng năm 2009
1. Thực trạng kinh tế Việt Nam trong 2008 – 2009
1.3. Các cân đối lớn trong nền kinh tế
Cân đối cung cầu lao động
Việt Nam đã tránh được hiện tượng thất nghiệp hàng loạt đang diễn
ra ở rất nhiều nước trên thế giới hiện nay. Tỷ lệ thất nghiệp trong
năm 2009 ở Việt Nam chỉ tăng lên 2,9% từ mức 2,38% năm 2008.
Hiện cả nước có khoảng 1,3 triệu người chưa có việc làm trên tổng
số 55 triệu người trong độ tuổi lao động.
Nếu tính cả con số xấp xỉ một triệu người gia nhập lực lượng lao
động mỗi năm trên cả nước thì tổng số việc làm trong nền kinh tế
trong năm 2009 có thể đã không giảm mà thậm chí còn tăng. Đây là
một nỗ lực rất lớn của các doanh nghiệp trong nước, nhất là các
doanh nghiệp xuất khẩu trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang khủng
hoảng và suy thoái.
Lãi suất được kìm giữ ở mức thấp, đặc biệt là việc hỗ trợ lãi suất,
đã tạo điều kiện cho việc sử dụng đòn bẩy trong đầu tư tài chính
như một phần nguyên nhân khiến giá cả thị trường chứng khoán
tăng mạnh sau khi chạm đáy vào Quý I -2009 và thị trường bất động
sản thăng hoa, ngược lại với xu thế sụt giảm của hầu hết các nước
trên thế giới.
2, Các chính sách kích cầu mà Chính phủ
áp dụng trong giai đoạn 2008 - 2009
Kích cầu là biện pháp đẩy mạnh chi tiêu
ròng của chính phủ hay còn gọi là tiêu dung
công cộng để làm tăng tổng cầu, kích thích
tăng trưởng kinh tế.
Cuối năm 2008, tổng hợp tình hình trong nước cũng như thế giới, Chính
phủ Việt Nam đã đưa ra nhiều biện pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy
giảm kinh tế và thực hiện các kế hoạch kinh tế – xã hội giai đoạn 2008 –
2009. Trong đó, mục tiêu kinh tế của Việt Nam đặt ra trong năm 2009 là
GDP tăng 6,5%, xuất khẩu tăng 13%, đầu tư toàn xã hội đạt 39,5% GDP,
lạm phát dưới 15%, thâm hụt ngân sách nhà nước (NSNN) 4,82% GDP.
2, Các chính sách kích cầu mà Chính phủ
áp dụng trong giai đoạn 2008 - 2009
Tuy nhiên, do tình hình có nhiều biến đổi, đến nửa cuối tháng 6-2009, các
mục tiêu này đã được điều chỉnh. Theo Nghị quyết Quốc hội ngày 19-6-2009,
tốc độ tăng trưởng kinh tế được điều chỉnh giảm xuống còn 5%, xuất khẩu
chỉ tăng 3%, CPI tăng dưới 10%, tổng vốn đầu tư toàn xã hội lại không điều
2, Các chính sách kích cầu mà Chính phủ
áp dụng trong giai đoạn 2008 - 2009
Gói kích thích kinh tế năm 2009 công bố tháng 5-2009
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
Danh mục
Hỗ trợ lãi suất 4%
Tạm hoãn vốn thu hồi ứng trước năm 2009
Các khoản vốn ứng trước
(1) Ứng trước ngân sách một số dự án cấp bách
(2) Ứng trước vốn Chương trình 61 huyện nghèo
(3) Ứng trước khác
Chuyển vốn đầu tư năm 2008 sang năm 2009
(1) Vốn đầu tư thuộc NSNN
(2) Vốn trái phiếu chính phủ
Phát hành bổ sung trái phiếu chính phủ 2009
Thực hiện chính sách miễn, giảm thuế
Các khoản kích cầu khác
hoãn thu thuế thu nhập cá nhân trong năm tháng đầu năm 2009.
+ về thuế khóa, Chính phủ cũng đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm miễn, giảm
và giãn thuế nhằm tháo gỡ bớt các khó khăn cho các DN.
> giảm và hoàn 90% thuế VAT cho DN; trong quý 4/2008 và cả năm 2009,
> giảm 30% thuế thu nhập DN, đồng thời giãn thuế trong thời gian 9 tháng
cho các DN nhỏ và vừa.
> tiếp tục trở lại các dự án đầu tư công đã tạm dừng giữa năm 2008;
> Ngoài ra, Chính phủ đã cho phép mua dự trữ gạo trị giá 1.300 tỉ đồng,
xăng dầu trị giá 1.500 tỉ đồng...
2, Các chính sách kích cầu mà Chính phủ
áp dụng trong giai đoạn 2008 - 2009
Thứ hai, trong chính sách tiền tệ,
+ Thực hiện chính sách bù 4% lãi suất vay ngắn hạn NH. Mục tiêu của
chính sách này là giúp các đơn vị sản xuất – kinh doanh giảm giá thành sp,
duy trì hđ và tạo việc làm.
+ thực hiện giảm LS cơ bản, giảm LS chiết khấu... Theo đó, trần LS cho
vay còn 10,5%/năm, giảm 50% so với trần LS cho vay cách đó hơn sáu
tháng. NH áp dụng cơ chế LS thỏa thuận đối với nhu cầu vay tiêu dùng. LS
vay tiêu dùng không bị khống chế bởi trần LS cho vay. Thực hiện bảo lãnh
tín dụng: từ 10-2, NH Phát triển VN thực hiện bảo lãnh cho các doanh
nghiệp vay vốn. DN được bảo lãnh có vốn tối đa 20 tỉ đồng và sử dụng tối
đa 500 lao động.
2, Các chính sách kích cầu mà Chính phủ
áp dụng trong giai đoạn 2008 - 2009
Thứ ba, trong chính sách thương mại, Chính phủ cũng đã có một số
trong thực tế đối với nền kinh tế Việt Nam
Mặt tích cực
• Thứ nhất, có thể nói, gói kích cầu trước hết có hiệu ứng tâm lý tích cực,
như một chiếc phao cứu sinh làm gia tăng tức thời lòng tin của các DN, các
NH và nhà đầu tư trong nước và quốc tế vào trách nhiệm và quyền năng của
Nhà nước trong giải cứu các DN đang gặp khó khăn, cũng như vào triển vọng
thị trường và MT đầu tư trong nước…
• Thứ hai, gói kích cầu trực tiếp hỗ trợ các DN tiếp cận được các nguồn vốn
NH với chi phí rẻ hơn, từ đó giảm bớt các chi phí kinh doanh, góp phần giảm
giá, tăng cạnh tranh và tăng tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ trên thị trường.
• Thứ ba, gói kích cầu còn trực tiếp góp phần gia tăng các hđ đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng KT và XH, duy trì tốc độ tăng trưởng KT, tạo nền tảng
và động lực của sự phát triển XH cả hiện tại, cũng như tương lai.
3, Hiệu quả của những chính sách này
trong thực tế đối với nền kinh tế Việt Nam
Mặt tích cực
• Thứ tư, giúp các NH cải thiện hoạt động huy động và cho vay tín dụng của
mình, mở rộng đầu ra nhờ không buộc phải nâng LS cho vay. Sự ổn định và
hoạt động lành mạnh của hệ thống NH trong khi gia tăng dòng tiền bơm vào thị
trường là đk tiên quyết cho sự ổn định KTVM và gia tăng các hđ đầu tư XH,
• Thứ năm, ngoài ra, nhiều DN nhận được sự hỗ trợ kịp thời của gói kích cầu
đã có thêm cơ hội giữ vững và mở rộng SX, từ đó góp phần giảm bớt áp lực
thất nghiệp và đảm bảo ổn định XH.
• Thứ sáu, những hoạt động xúc tiến đầu tư và thương mại quốc gia được tài
trợ từ “gói kích cầu” nếu thực hiện có hiệu quả cũng sẽ có tác động tích cực đến
tăng dòng vốn chảy vào và mở rộng thị trường đầu ra cho DN và nền KT, từ đó
trực tiếp góp phần vào phát triển KT-XH đất nước