Biến đổi không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau 1975 đến nay - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
-----------*---------

Đặng Hoài Giang

BIẾN ĐỔI KHÔNG GIAN VĂN HÓA BUÔN LÀNG Ê ĐÊ
Ở BUÔN MA THUỘT TỪ SAU 1975 ĐẾN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

Hà Nội - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
-----------*---------

Đặng Hoài Giang

BIẾN ĐỔI KHÔNG GIAN VĂN HÓA BUÔN LÀNG Ê ĐÊ
Ở BUÔN MA THUỘT TỪ SAU 1975 ĐẾN NAY

Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số: 62 31 06 40

MỞ ĐẦU ....................................................................................................................5
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHÔNG GIAN
VĂN HÓA BUÔN LÀNG .......................................................................................22

1.1. Không gian văn hóa .............................................................................. 22
1.2. Không gian văn hóa buôn làng ............................................................. 26
1.4. Khái quát về các buôn được lựa chọn nghiên cứu................................ 46
Chƣơng 2. SỰ VẬN ĐỘNG CỦA CÁC THÀNH TỐ CẤU THÀNH
KHÔNG GIAN VĂN HÓA BUÔN LÀNG Ê ĐÊ .................................................51

2.1. Bối cảnh tác động đến không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở
Buôn Ma Thuột từ sau 1975 đến nay .......................................................... 51
2.2. Biến đổi không gian sản xuất ............................................................... 56
2.3. Biến đổi không gian cư trú ................................................................... 74
2.4. Biến đổi không gian sinh hoạt cộng đồng ............................................ 85
2.5. Biến đổi không gian sinh hoạt tín ngưỡng............................................ 93
Chƣơng 3. XU HƢỚNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ QUÁ TRÌNH
BIẾN ĐỔI KHÔNG GIAN VĂN HÓA BUÔN LÀNG Ê ĐÊ ...........................108

3.1. Các xu hướng biến đổi không gian văn hóa buôn làng ...................... 108
3.2. Những vấn đề đặt ra từ sự biến đổi không gian văn hóa buôn làng Ê Đê .. 124
3.3. Một số đề xuất nhằm qui hoạch, bảo tồn không gian văn hóa
buôn làng Ê Đê theo hướng bền vững ....................................................... 131
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ ...........................................139
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................140
PHỤ LỤC ...............................................................................................................150


3


Tp

: Thành phố

Tr

: Trang

TS

: Tiến sĩ

UBND

: Ủy ban nhân dân
: The United Nations Educational,
Scientific and Cultural Organization (Tổ

UNESCO

chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa
của Liên hiệp quốc)


4

DANH MỤC BẢN ĐỒ VÀ CÁC BẢNG
Bản đồ 1. Vị trí của các buôn được nghiên cứu ........................................................49
Bảng 2.1. Diễn biến diện tích một số cây công nghiệp ở Tây Nguyên.....................52
Bảng 2.3. Bình quân đất sản xuất nông nghiệp ở các điểm điều tra .........................60

bảo tính liên tục văn hóa cho cá nhân và cộng đồng. Bởi lẽ văn hóa ra đời trên nền
tảng của không gian sinh tồn, cho nên, đối với một cộng đồng, không gian sinh tồn
cũng đồng thời là không gian văn hóa. Không phải ngẫu nhiên mà Clyde Kluckhohn
- nhà văn hóa học nổi tiếng người Mỹ cho rằng: văn hóa của một cộng đồng được
phản chiếu qua không gian sống của họ [102]. Còn theo Francoise P. Lévy và
Marion Segaud thì “tất cả mọi xã hội, đều có mối quan hệ với không gian của họ;...
chúng đều được thể hiện bởi tổ chức không gian của chính mình” [52, tr.140-141].
1.2. Trong các loại hình không gian văn hóa mà con người đã sáng tạo nên, có
lẽ, làng là loại hình không gian lâu đời và phổ biến hơn cả. Dường như ở đâu có nông
thôn, nông nghiệp, nông dân thì ở đó có làng và không gian làng. Với một đất nước
có truyền thống “trọng nông” như Việt Nam, dấu ấn của làng trong đời sống xã hội
càng đậm nét. Nghiên cứu văn hóa Việt Nam, các học giả trong và ngoài nước, dù
đứng từ góc độ tiếp cận nào, đều có chung một nhận định: làng là không gian văn hóa
cơ bản và đặc trưng nhất của quốc gia đa dân tộc Việt Nam. Thật vậy, tuy khác nhau
về nguồn gốc, ngôn ngữ, địa bàn cư trú và lối sống, nhưng giá trị văn hóa của từng
nhóm tộc người trên lãnh thổ Việt Nam đều được phản chiếu trong không gian làng
của họ. Vì thế, theo cách diễn đạt của nhà dân tộc học Từ Chi, nghiên cứu không gian
văn hóa làng cho phép chúng ta tìm hiểu người Việt nói riêng và các tộc người ở Việt
Nam nói chung “trong sức năng động lịch sử của nó, trong ứng xử cộng đồng và tâm
lý tập thể của nó, trong các biểu hiện văn hóa của nó, cả trong những phản ứng của nó
trước tình huống mà lịch sử đương đại đặt nó vào”[8, tr.226].
1.3. Tây Nguyên là một vùng đất độc đáo trong hệ thống lãnh thổ sinh thái nhân văn của Việt Nam. Sau 1975, dưới tác động của hàng loạt nhân tố mới, Tây
Nguyên đã trở thành một vùng đất hoàn toàn khác về điều kiện tự nhiên, kinh tế,
dân số, cơ cấu dân tộc, cơ cấu tôn giáo so với trước 1975... Sự chuyển động của


6

vùng đã tác động sâu sắc lên không gian buôn làng của các dân tộc tại chỗ, dẫn đến
nhiều hệ quả phức tạp: sự xáo trộn không gian sinh tồn của nhóm dân tộc tại chỗ;



7

phía Đông, nhóm Dliê và Ruê ở phía Đông Nam. Trong các nhóm này, nhóm Kpă
không chỉ là nhóm “thuần chủng” nhất mà còn là nhóm tiếp xúc sớm và liên tục
nhất với các chủ thể văn hóa bên ngoài. Bởi vậy, trong xu thế chuyển động chung
của vùng Tây Nguyên từ sau 1975, sự biến đổi không gian buôn làng của cộng đồng
Ê Đê ở Buôn Ma Thuột mang ý nghĩa điển hình, là đối tượng lí tưởng cho các
nghiên cứu theo hướng Văn hóa học. Trên bình diện lý thuyết, việc nghiên cứu đối
tượng này cho phép chúng ta nhận ra mối liên hệ giữa biến đổi không gian buôn
làng với biến đổi văn hóa tộc người, các xu hướng biến đổi khác nhau giữa các cộng
đồng, cũng như các vấn đề đặt ra từ quá trình biến đổi ấy. Trên bình diện thực tiễn,
quá trình khảo sát, phân tích đối tượng nghiên cứu có thể gợi ra một số ý tưởng thiết
thực nhằm qui hoạch, bảo tồn không gian văn hóa buôn làng ở Buôn Ma Thuột nói
riêng và ở Tây Nguyên nói chung theo hướng bền vững.
Vì các lí do lí thuyết và thực tiễn như vậy, nghiên cứu sinh quyết định chọn
Biến đổi không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau 1975 đến
nay làm đề tài nghiên cứu của luận án tiến sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu
Với nội dung trọng tâm là quá trình biến đổi không gian buôn làng của người
Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau 1975 đến nay, luận án có mối liên hệ gần gũi với các
công trình nghiên cứu sự chuyển đổi của cộng đồng làng nói chung, đặc biệt là làng
của các tộc người vùng cao trong bối cảnh hiện đại hóa và toàn cầu hóa. Do đó,
trong phần tổng quan vấn đề, đối với các nghiên cứu quốc tế, nghiên cứu sinh sẽ
dành ưu tiên cho các công trình nghiên cứu sự biến đổi của các cộng đồng vùng cao
ở Đông Nam Á. Đối với các nghiên cứu trong nước, nghiên cứu sinh sẽ điểm qua
các công trình nghiên cứu làng ở đồng bằng và làng vùng cao nói chung, trước khi
tập trung giới thiệu các công trình nghiên cứu buôn làng của các dân tộc tại chỗ Tây
Nguyên và người Ê Đê, đặc biệt trong vòng 4 thập niên trở lại đây.

đến từ bỏ nhiều thực hành tín ngưỡng truyền thống [100, tr.413-436].
Sự thay đổi mô hình sinh kế của các cộng đồng vùng cao cũng là một chủ đề
được nhiều tác giả quan tâm. Các nghiên cứu của Rob Cramb ở Sarawak (Malaysia)
và của Gregory M.Thailer ở Borneo (Indonesia) cho thấy, việc từ bỏ kiểu canh tác
hưu canh luân khoảnh truyền thống sang phát triển các loại cây trồng vì mục đích
thương mại, ngoài khía cạnh kinh tế, đã tạo nên những biến đổi to lớn trong cảnh
quan, lối sống, quan hệ xã hội của các cộng đồng liên đới. Rob Cram đã khái quát
hóa những biến đổi ấy trong cụm từ cảnh quan hậu nương rẫy luân canh (postswidden landscape) [101, tr.770-793], [105].


9

Tóm lại, các nghiên cứu quốc tế giúp nghiên cứu sinh có được cái nhìn so
sánh (comparative vision) trong nghiên cứu không gian văn hóa buôn làng giữa các
khu vực trên thế giới, tiếp nhận các lý thuyết và các phương pháp nghiên cứu hiện
đại để phục vụ cho đề tài nghiên cứu.
2.2. Các nghiên cứu về sự chuyển đổi của làng đồng bằng và làng vùng
cao ở Việt Nam
Trong bản đồ tộc người của Việt Nam, người Việt là tộc người chủ thể, quần
cư ở vùng đồng bằng trung tâm. Trong các thập niên qua, không gian làng xã của
người Việt đã trải qua một quá trình biến đổi sâu sắc. Vì thế, đề tài “làng Việt trong
chuyển đổi” được nhiều chuyên ngành khoa học quan tâm và đạt nhiều thành tựu
quan trọng. Ở đây, chúng tôi cố gắng lược qua các công trình có ảnh hưởng hoặc có
mối liên hệ trực tiếp với đề tài của luận án.
Công trình Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: vấn đề còn bỏ ngỏ do Philippe
Papin và Olivier Tessier đồng chủ biên, với sự tham gia của nhiều học giả trong
nước và quốc tế, “nghiên cứu những chuyển động, biến đổi và bất ổn” trong không
gian làng xã Bắc Bộ đương đại: tổ chức không gian, quan hệ gia đình - dòng họ, tôn
giáo, cơ cấu xã hội, đời sống kinh tế, di dân... [52].
Công trình Góp phần nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam của Nguyễn

cách tiếp cận khác nhau trong nghiên cứu không gian làng và có được cái nhìn tổng
thể về bức tranh chuyển đổi của các cộng đồng vùng cao ở Việt Nam mà người Ê
Đê ở Buôn Ma Thuột là một bộ phận trong số đó.
2.3. Các nghiên cứu về không gian buôn làng Tây Nguyên
Quá trình tìm kiếm và khai thác thuộc địa đã khiến người Pháp trở thành
những người đầu tiên nghiên cứu vùng đất Tây Nguyên. Sau sự mở đường của các
nhà truyền giáo, lần lượt có mặt ở Tây Nguyên các phái bộ khảo sát và các nhà cai
trị. Nhờ được đào tạo bài bản về nhân học, ngôn ngữ học và địa chất học, họ đã tổ
chức điền dã khắp Tây Nguyên, nghiên cứu hoặc trên chiều cạnh tổng thể đặc điểm
tự nhiên và con người của toàn vùng, hoặc trên chiều cạnh cụ thể của từng tộc
người hay từng vùng riêng biệt. Đáng chú ý là những học giả bán chuyên: Henri
Maitre, Antomarchi, Bernard Y. Jouin… Trong đó, công trình của Henri Maitre Rừng người Thượng (Les jungles Mois), cho đến nay vẫn được xem là công trình
nghiên cứu cơ bản nhất về Tây Nguyên.
Những người Pháp tiếp theo đến Tây Nguyên là thế hệ các nhà khoa học
chuyên nghiệp: G.Condominas, Anna De Hautecloque-howe, Boulbet, Maurice, J.
Dournes. Họ đã đến, tiến hành điền dã lâu dài và hoàn thành nhiều tác phẩm quan
trọng về các tộc người Tây Nguyên. Công trình Chúng tôi ăn rừng của Condominas
là một bút ký dân tộc học mô tả toàn bộ đời sống của làng Sar Luk thuộc bộ lạc
M’Nông Gar trong chu kỳ một năm nông nghiệp - từ lúc hạ cây, đốt rẫy cho đến khi


11

thu hoạch: tìm đất làm rẫy, thử đất, đám cưới, đám tang, các lễ hội... Đây là một
nghiên cứu mẫu mực về một “không gian xã hội” điển hình của vùng Tây Nguyên
vào thời điểm mà ngọn lửa chiến tranh Đông Dương chuẩn bị loang đến và tàn phá
không gian sống của người dân Sar Luk [10].
Trong các nghiên cứu của người Pháp về Tây Nguyên, chuyên khảo Người Ê
Đê – một xã hội mẫu quyền của Anne De Hautecloque-howe có mối liên hệ rất gần
gũi với luận án của nghiên cứu sinh. Chuyên khảo này là kết quả của hơn 1 năm

Sang thập niên 1980, công trình Tây Nguyên trên đường phát triển - tập hợp các kết
quả nghiên cứu về kinh tế - xã hội thuộc Chương trình Tây Nguyên II đã phân tích
tường tận các vấn đề nổi cộm của thực tiễn Tây Nguyên tính đến thời điểm đó, đặc
biệt nhấn mạnh một số hạn chế trong công tác quy hoạch, sử dụng đất đai ở Tây
Nguyên mà hệ quả lớn nhất, như Đặng Nghiêm Vạn đã phân tích, là không đảm bảo
quyền khai thác tài nguyên cho người dân tộc tại chỗ, trong khi tài nguyên đất rừng
ở Tây Nguyên thì bị tàn phá nghiêm trọng [85, tr.92-98]. Đến thập niên 1990, Lưu
Hùng xuất bản công trình Buôn làng cổ truyền xứ Thượng, xác định buôn làng như
một cộng đồng sở hữu, cộng đồng sản xuất, cộng đồng xã hội và cộng đồng văn hóa
[29]. Cuối thập niên 1990, qua công trình Sở hữu và sử dụng đất đai ở các tỉnh Tây
Nguyên, nhóm tác giả Vũ Đình Lợi, Bùi Minh Đạo, Vũ Thị Hồng thuộc Viện Dân
tộc học Việt Nam đã phân tích toàn diện và chi tiết quá trình chuyển đổi chế độ sở
hữu và sử dụng đất đai ở các làng Tây Nguyên từ trong chiều dài lịch sử đến thời
điểm nghiên cứu [38].
Sang thập niên 2000, công trình Một số vấn đề phát triển kinh tế - xã hội
buôn làng các dân tộc Tây Nguyên tập hợp nhiều bài viết phân tích các phương diện
kinh tế - văn hóa - xã hội cơ bản của các buôn làng Tây Nguyên từ sau 1975 đến
nay [80]. Trong công trình này, Đặng Nghiêm Vạn tiếp tục trở lại vấn đề đất đai của
các tỉnh Tây Nguyên và đề xuất nhiều luận điểm quan trọng. Theo tác giả, dựa trên
nguyên tắc đảm bảo quyền làm chủ của người dân, cần tôn trọng quyền làm chủ
tập thể của buôn, coi buôn như một đơn vị xã hội, lại là đơn vị xã hội cơ sở và cơ
bản nhất. Đồng thời, luật đất đai của nhà nước cần công nhận quyền chiếm hữu
hay quyền sử dụng tập thể của buôn như một đơn vị tổ chức kinh tế hay xã hội
[80, tr.345-350]. Ngô Đức Thịnh xem buôn làng cổ truyền Tây Nguyên như một
cấu trúc hoàn chỉnh với 4 đặc điểm nổi bật: (i) Buôn làng là một cộng đồng cư trú;
(ii) Buôn làng là một cộng đồng sở hữu và lợi ích; (iii) Buôn làng là một cộng
đồng tâm linh và (iv) Buôn làng là một cộng đồng văn hóa [80, tr.60]. Trong khi
đó, từ góc nhìn dân tộc học, Lưu Hùng phân tích những biến đổi của các làng
Thượng qua 3 phương diện căn bản: (i) sự thay đổi về tổ chức hành chính; (ii) sự


vững chắc, các hướng tiếp cận phù hợp và các phương pháp nghiên cứu hiện đại, đã
phân tích quá trình biến đổi văn hóa và lối sống của các tộc người ở Tây Nguyên,
cũng như xem xét các hệ quả của sự biến đổi đối với đời sống kinh tế, văn hóa và xã
hội của các tộc người này từ quan điểm phát triển bền vững [91]. Công trình Hướng


14

tới phát triển bền vững Tây Nguyên của Viện Tư vấn phát triển phân tích hiện trạng
vốn văn hóa của cộng đồng dân tộc tại chỗ trong toàn cảnh chuyển động của Tây
Nguyên từ sau 1975 đến nay để làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng
các chính sách đặc thù đối với các dân tộc Tây Nguyên [95].
Ngoài ra, còn có thể kể đến một số công trình khác đề cập đến tình trạng biến
đổi kiến trúc, tín ngưỡng và hệ giá trị của cộng đồng dân tộc tại chỗ Tây Nguyên
trong bối cảnh đô thị hóa, toàn cầu hóa:
- Nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Quý Đức, Nguyễn Duy Bắc phân tích
sự biến đổi những giá trị xã hội truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở
Tây Nguyên hiện nay trong công trình cùng tên [26].
- Luận án Tiến sỹ Triết học của tác giả Lê Hồng Phong phân tích ảnh hưởng
của đạo Tin Lành đối với đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây
Nguyên hiện nay [53].
- Luận án Tiến sỹ kiến trúc của tác giả Nguyễn Hồng Hà tập trung vào vấn
đề bảo tồn và phát huy giá trị buôn làng truyền thống trong quá trình phát triển các
đô thị ở Tây Nguyên [21]...
Như vậy, khi nghiên cứu văn hóa Tây Nguyên, hầu hết các tác giả cùng
chung quan điểm rằng buôn làng là một không gian phức hợp. Cách nhìn này cần
được tiếp tục thúc đẩy bằng cách đặt ra và trả lời các câu hỏi cụ thể hơn: nếu xem
buôn làng là một không gian chỉnh thể, thì khi không gian ấy mất đi tính nhất thể
vốn có, văn hóa tộc người đã biến đổi ra sao? Các cộng đồng đã làm gì để thích
nghi với quá trình biến đổi ấy?... Tóm lại, các nghiên cứu văn hóa tộc người ở Tây

lựa chọn điều tra, nghiên cứu. Sự trùng hợp ngẫu nhiên này đã giúp nghiên cứu sinh
kế thừa được nhiều thông tin và tư liệu quý giá khi phân tích quá trình chuyển đổi
không gian buôn làng ở Alê A [49]. Sau Thu Nhung Mlô Duôn Du, luận án Tiến sỹ
Văn hóa Ê Đê - truyền thống và biến đổi của Nguyễn Ngọc Hòa trình bày quá trình
biến đổi văn hóa Ê Đê từ truyền thống đến hiện đại và đề xuất các giải pháp nhằm
bảo tồn, làm giàu và phát huy giá trị của văn hóa Ê Đê trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa [25]. Cũng theo hướng tiếp cận tương tự, luận án Tiến sỹ Văn hóa
người Bih ở Tây Nguyên và vấn đề giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của
Lương Thanh Sơn phân tích các giá trị văn hóa nổi bật của người Bih ở Đắk Lắk
(một nhánh của dân tộc Ê Đê), từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm duy trì bản sắc văn
hóa của cộng đồng này [59].
Gần đây, bắt đầu xuất hiện các nghiên cứu chuyên sâu vào từng thành tố cụ
thể của văn hóa Ê Đê. Công trình Văn hóa ẩm thực của người Ê Đê do Tuyết
Nhung Buôn Krông chủ biên miêu tả các món ăn truyền thống cũng như các ứng xử


16

quen thuộc mà người Ê Đê vẫn thể hiện trong ăn uống. Đáng chú ý, trong phần tổng
quan về người Ê Đê ở Đắk Lắk, tác giả lập luận rằng, xã hội truyền thống hay buôn
làng truyền thống của người Ê Đê tồn tại dựa trên 5 thành tố: làng (khu cư trú), bến
nước, rừng đầu nguồn, khu mộ địa và đất sản xuất. “Các thành tố gắn kết không thể
tách rời, tạo thành một tổng thể hoàn chỉnh và hoạt động với hệ thống pháp luật
dưới hình thức luật tục truyền thống”. Tác giả cũng lưu ý rằng, cấu trúc ấy tuy đã
từng tồn tại lâu dài trong lịch sử nhưng cũng rất mong manh, dễ bị phá vỡ nếu
chúng ta không hiểu rõ, hiểu sâu để có hướng đi phù hợp cho phát triển cộng đồng
tại địa phương [50, tr.24-26]. Công trình Nghi lễ - lễ hội Ê Đê của tác giả Trương Bi
giới thiệu những nội dung cơ bản của hai hệ thống nghi lễ - lễ hội trong xã hội Ê Đê
cổ truyền: nghi lễ - lễ hội vòng đời người và nghi lễ - lễ hội nông nghiệp. Đồng
thời, tác giả cũng đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn

3. Mục đích nghiên cứu
3.1. Mục đích tổng quát
Áp dụng các lý thuyết, khái niệm nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu phù hợp
để đánh giá tác động của sự biến đổi không gian buôn làng (vốn là không gian thực
hành và nuôi dưỡng các giá trị văn hóa tộc người) đối với quá trình biến đổi văn hóa
tộc người của dân tộc Ê Đê nói riêng và các dân tộc Tây Nguyên nói chung. Từ đó,
luận án cung cấp những luận cứ khoa học và những đề xuất khả thi nhằm góp phần qui
hoạch, bảo tồn không gian văn hóa buôn làng Tây Nguyên theo hướng bền vững.
3.2. Mục đích cụ thể
- Nhận diện quá trình biến đổi không gian văn hóa buôn làng của cộng đồng Ê
Đê vùng Buôn Ma Thuột từ 1975 đến nay và các hệ quả văn hóa của sự thay đổi này.
- Nhận diện các yếu tố tác động và các xu hướng biến đổi không gian văn
hóa buôn làng của cộng đồng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ 1975 đến nay.
- Đề xuất các giải pháp nhằm qui hoạch, bảo tồn không gian văn hóa buôn
làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột theo hướng bền vững.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là không gian văn hóa buôn làng của cộng
đồng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột. Không gian buôn làng của người Ê Đê là một chỉnh
thể thống nhất, hữu cơ, được cấu thành bởi 4 yếu tố: không gian sản xuất, không
gian cư trú, không gian sinh hoạt cộng đồng và không gian sinh hoạt tín ngưỡng. Vì
vậy, trong luận án này, nghiên cứu sinh sẽ lần lượt phân tích quá trình thay đổi của
từng yếu tố cũng như mối quan hệ giữa các yếu tố trong tổng thể không gian ấy.


18

4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian, luận án nghiên cứu các buôn Ê Đê ở thành phố Buôn Ma
Thuột - thủ phủ của tỉnh Đắk Lắk, cũng là đô thị lớn nhất vùng Tây Nguyên. Trong


19

- Phương pháp tiếp cận của Sử học: tiếp cận đối tượng nghiên cứu theo chiều
lịch đại để đánh giá, phân tích sự vận động của chủ thể qua các giai đoạn lịch sử
quan trọng và những hệ quả mà quá trình đó tạo ra đối với cuộc sống đương đại của
con người.
- Phương pháp tiếp cận của Xã hội học: nghiên cứu các khuôn mẫu xã hội
trong hoạt động sản xuất, trong sinh hoạt gia đình, trong sinh hoạt tín ngưỡng, trong
sự tổ chức đời sống tập thể để xác định “trạng thái xã hội hiện thực” của cộng đồng
trong bối cảnh hiện tại.
- Phương pháp tiếp cận của Nhân học văn hóa: thông qua các trải nghiệm thực
địa, thâm nhập vào đời sống của cộng đồng và diễn giải ý nghĩa của các khuôn mẫu, các
lựa chọn, các thực hành văn hóa theo quan điểm của người dân địa phương.
Trong 3 phương pháp nói trên, luận án lấy phương pháp tiếp cận của nhân
học văn hóa làm phương pháp chủ đạo.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu sinh tiếp cận, phân tích, sử
dụng các nhóm tài liệu sau: (i) nhóm tài liệu trình bày các khái niệm không gian văn
hóa, vùng văn hóa, không gian xã hội và các quan điểm lý thuyết về biến đổi văn hóa,
sinh thái học văn hóa, chức năng luận; (ii) các nghiên cứu quốc tế và trong nước đề
cập đến sự chuyển đổi của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở vùng cao trên thế giới và
Đông Nam Á, các nghiên cứu đề cập đến sự chuyển đổi của làng Việt đồng bằng và
làng vùng cao ở Việt Nam, đặc biệt chú trọng các nghiên cứu về không gian buôn
làng Tây Nguyên nói chung và Ê Đê nói riêng; (iii) các báo cáo kinh tế - xã hội hàng
năm của địa phương (cấp tỉnh, thành phố, xã/phường) và các chính sách phát triển
kinh tế - xã hội, chính sách dân tộc của nhà nước trung ương, địa phương.
- Phương pháp nghiên cứu định tính: Tiến hành điền dã dân tộc học nhiều
đợt ở các địa bàn nghiên cứu, sử dụng các phương pháp phỏng vấn sâu, quan sát
tham dự, thảo luận nhóm để thu thập thông tin. Đối tượng để tiến hành nghiên cứu

lòng là H’Nguôn Buôn Yă, hai vợ chồng H’Riêt Buôn Yă và Ylơ Arul được người
trong buôn gọi là Amĩ Nguôn (mẹ của Nguôn) và Ama Nguôn (bố của Nguôn).
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Nghiên cứu sinh sử dụng phiếu điều
tra xã hội học để phỏng vấn người dân ở các điểm nghiên cứu. Mục đích của phiếu
điều tra là thông qua các câu hỏi cho trước để thu thập các thông tin phản ánh sự
thay đổi trong quan niệm, trong lối sống của người dân ở 3 làng được nghiên cứu
trong bối cảnh chuyển đổi cấu trúc không gian buôn làng từ sau 1975 đến nay. Tổng
số phiếu điều tra ở 3 làng là 360 phiếu, sau khi làm sạch còn 324 phiếu với cơ cấu
giới tính là 144 nam/180 nữ.


21

6. Đóng góp khoa học và thực tiễn của luận án
- Thứ nhất, luận án không lặp lại lối tiếp cận quen thuộc là nghiên cứu từng
thành tố cụ thể trong kho tàng văn hóa tộc người mà lấy không gian văn hóa buôn
làng làm đối tượng nghiên cứu, từ đó phân tích mối quan hệ mang tính hữu cơ, đa
chiều giữa biến đổi không gian buôn làng với quá trình biến đổi văn hóa tộc người
trong bối cảnh Tây Nguyên đương đại.
- Thứ hai, làm sáng rõ khái niệm không gian văn hóa buôn làng và biến khái
niệm này thành một công cụ hữu dụng để phân tích mối quan hệ đa chiều giữa biến
đổi cấu trúc không gian buôn làng và biến đổi văn hóa tộc người;
- Thứ ba, cung cấp cho giới hoạch định chính sách và giới quản lý văn hóa
địa phương những bằng chứng thực tiễn, những luận điểm khoa học, những đề xuất
thiết thực nhằm qui hoạch, bảo tồn không gian văn hóa buôn làng Tây Nguyên theo
hướng bền vững, phù hợp với bối cảnh phát triển hiện tại.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu (17 trang), kết luận (3 trang), tài liệu tham khảo (10
trang), phụ lục (25 trang), nội dung của luận án được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về không gian văn hóa buôn làng (29

quan hệ láng giềng, các hoạt động tôn giáo, đời sống sinh hoạt, các mạng lưới tổ
chức/thiết chế xã hội như trường học, bệnh viện... Các nhân tố vừa nêu kết hợp với
nhau để hình thành nên các ranh giới văn hóa vô hình (invisible boundaries) khuôn
định nên bản sắc (identity) của từng cá nhân tồn tại trong đó. Khi một cá nhân di
chuyển ra khỏi khí quyển này để chuyển sang một không gian khác thì anh ta có thể
đối diện với những cú sốc văn hóa (cultural shock) và phải tìm cách thích nghi với
văn hóa mới. Như vậy, theo quan niệm này, không gian văn hóa được nhận thức
như là môi trường xác định bản sắc văn hóa của mỗi cá nhân [103].
Quan điểm của giới học giả Việt Nam về khái niệm không gian văn hóa có
nhiều điểm khác so với các học giả phương Tây.
Theo Ngô Đức Thịnh, có thể hiểu không gian văn hóa trên 2 cấp độ: cụ thể
và trừu tượng. Trong ý nghĩa cụ thể, không gian văn hóa là một không gian địa lý
xác định, mà ở đó một hiện tượng hay một tổ hợp hiện tượng văn hóa nảy sinh, tồn
tại, biến đổi và liên kết với nhau như một hệ thống. Trong ý nghĩa trừu tượng,
không gian văn hóa là một “trường” (mượn khái niệm trường của vật lý) bao chứa
một hiện tượng hay tổ hợp các hiện tượng (một nền văn hóa tộc người, quốc gia hay


23

khu vực) có khả năng tiếp nhận và lan tỏa (ảnh hưởng), tạo cho nền văn hóa đó một
không gian rộng hay hẹp khác nhau [73, tr.39].
Trong công trình Văn hóa cổ truyền Tây Nguyên trong phát triển bền vững,
khi bàn về không gian văn hóa Tây Nguyên, Đỗ Hồng Kỳ cũng gián tiếp đưa ra một
quan niệm về không gian văn hóa. Tác giả cho rằng, khái niệm không gian văn hóa
hàm chỉ một không gian trong đó tồn tại các hình thức văn hóa, về cơ bản là thống
nhất, tương đồng [34, tr.9-10]...
Như vậy, tuy cách diễn đạt khác nhau, nhưng các định nghĩa về không gian
văn hóa ở Việt Nam vẫn có một số điểm chung. Về đại thể, khái niệm không gian
văn hóa chứa đựng các ý nghĩa sau đây:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status