CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CÁC GIẢI PHÁP Y TẾ PHÒNG CHỐNG LÂY NHIỄM HIV/AIDS Ở VIỆT NAM NĂM 2012 - Pdf 34

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y THÁI BÌNH

-------------******------------

CHUYÊN ĐỀ CHƯƠNG TRÌNH Y TẾ QUỐC GIA

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CÁC GIẢI PHÁP Y TẾ
PHÒNG CHỐNG LÂY NHIỄM HIV/AIDS Ở VIỆT
NAM NĂM 2012

Sinh viên: Đoàn Quang Diện
Tổ 1, Lớp YHDPK6B

Thái Bình – 2012


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y THÁI BÌNH

-------------******------------

CHUYÊN ĐỀ CHƯƠNG TRÌNH Y TẾ QUỐC GIA

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CÁC GIẢI PHÁP Y TẾ
PHÒNG CHỐNG LÂY NHIỄM HIV/AIDS NĂM 2012

Sinh viên: Đoàn Quang Diện
Tổ 1, Lớp YHDPK6B

Thái Bình – 2012


Bệnh lây truyền qua đường tình dục

GĐLS

Giai đoạn lâm sàng

LTMC

Lây truyền HIV từ mẹ sang con

NTCH

Nhiễm trùng cơ hội

Tiếng Anh:
AIDS

Acquired Immune Deficiency Syndrome: Hội chứng
suy giảm miễn dịch mắc phải

HIV

(Human immuno deficiecy virus): virus gây suy giảm
miễn dịch ở người

UNAIDS

United Nations Programme on HIV/AIDS


huyện và xã phường, tính đến 30/06/2012, toàn quốc đã phát hiện người
nhiễm HIV tại 78% xã/phường , gần 98% quận/huyện và 63/63 tỉnh/thành phố,
[2].

5


Kể từ trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện tại Việt Nam vào
năm 1990, qua hơn 20 năm, có thể khẳng định rằng công tác phòng, chống
HIV/AIDS tại Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Với việc mở
rộng độ bao phủ từ công tác dự phòng tới công tác chăm sóc và điều trị bệnh
nhân HIV/AIDS, về cơ bản Việt Nam đã kiềm chế được tốc độ gia tăng của đại
dịch, khống chế tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng dưới 0,3%, [3]. Bên cạnh
những thành công đáng kể trong thời gian qua, công tác phòng chống AIDS tại
Việt Nam vẫn đang đối mặt với những diễn biến phức tạp trong thời gian tới.
Mặc dù đã có những dấu hiệu chững lại, những ca nhiễm HIV mới vẫn tiếp tục
xuất hiện trong những nhóm quần thể có nguy cơ cao như người nghiện chích ma
túy, phụ nữ bán dâm và khách hàng của họ, nam quan hệ tình dục đồng giới. Đặc
biệt, lây truyền HIV do lây truyền qua đường tình dục sẽ là nguyên nhân chính
làm lây truyền HIV ở Việt Nam trong những năm tiếp theo và khả năng khống
chế lây nhiễm HIV qua đường tình dục sẽ khó khăn hơn nhiều lần so với khống
chế lây truyền qua đường tiêm chích qua nhóm nghiện chích ma túy như những
năm trước đây. Một số ban ngành địa phương vẫn chưa nhận thức được đầy đủ
tác hại của đại dịch HIV/AIDS đến sự phát triển kinh tế xã hội, việc tổ chức thực
hiện và kiểm tra giám sát phòng chống HIV/AIDS chưa được quan tâm đúng
mức.
Để góp phần cho công tác phòng chống HIV/AIDS, em thực hiện chủ đề:
“ Cở sở khoa học và các giải pháp y tế phòng chống lây nhiễm
HIV/AIDS ở Việt Nam năm 1012”, với 2 mục tiêu:
1.

HIV thuộc họ Retro virus, là một ARN virus có men sao mã ngược nên
có thể tổng hợp thành provirus được coi như gien của tế bào bị nhiễm, truyền
sang thế hệ sau khi có phân bào. Do đó, người đã bị nhiễm HIV sẽ mang
virut suốt đời. Virus HIV phát triển rất chậm trong cơ thể người : từ vài năm
đến 12 năm.. Do đó, khi có một bệnh nhân AIDS thì thực tế đã có hàng trăm
người nhiễm HIV. Đây được gọi là hiện tượng tảng băng nổi. Virus HIV tấn
công chủ yếu vào tế bào lymphô của hệ thống miễn dịch nên làm suy giảm
chức năng miễn dịch của các tế bào này. Virus HIV có tính biến dị rất lớn,
luôn luôn có sự thay đổi hình dạng kháng nguyên, do đó rất khó tìm được vắc
xin đặc hiệu. Virus HIV bị tiêu diệt ở nhiệt độ sôi trong 20 phút, có thể sống
trong xác chết 24 giờ, trên giọt máu khô từ 2 đến 7 ngày, nhiệt độ dưới O 0C,
sự khô ráo, tia cực tím, tia Gamma, tia X không giết được HIV.

7


3. Các phương thức lây truyền HIV/AIDS
Bệnh nhân AIDS và người nhiễm HIV là nguồn truyền nhiễm duy nhất
của HIV. Không có ổ nhiễm trùng tự nhiên ở động vật. Tất cả mọi người đều
có khả năng cảm nhiễm HIV.
HIV được phân lập từ máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo, nước bọt, nước
mắt, sữa mẹ, nước tiểu và các dịch khác của cơ thể. Mặc dù có sự phân bố
HIV như vậy trong cơ thể nhưng nhiều nghiên cứu dịch tễ học cho thấy rằng
chỉ có máu, tinh dịch và dịch tiết âm đạo đóng vai trò quan trọng trong việc
làm lây truyền HIV. Do đó chỉ có 3 phương thức lây truyền HIV, [4], [5]
3.1. Lây truyền qua đường máu
HIV lây truyền qua máu hay các sản phẩm của máu có nhiễm HIV.
Nguy cơ lây truyền HIV qua đường máu có tỷ lệ rất cao, trên 90%. HIV cũng
có thể truyền qua việc sử dụng bơm kim tiêm (BKT) bị nhiễm HIV mà
không được tiệt trùng cẩn thận, đặc biệt ở những người TCMT. Việc sử dụng

sang con cao hơn phụ nữ có thai nhiễm HIV không triệu chứng.
- Trẻ đẻ non trên 18 tuần có nguy cơ lây nhiễm từ mẹ cao hơn.
- Phụ nữ có thai nhiễm HIV khi mang thai có nguy cơ truyền chi con
cao hơn.
- HIV có thể dễ dàng qua bánh rau khi phụ nữ bị nhiễm HIV.

9


Bảng 1. Nguy cơ lây nhiễm HIV theo hình thức phơi nhiễm và phân bố
trên toàn cầu [7].
Hình thức phơi nhiễm

Truyền máu
Từ mẹ sang con

Tỷ lệ truyền bệnh mỗi lần

Tỷ

phơi nhiễm

trùng

lệ

nhiễm

toàn cầu
>90%

nhiễm với máu
4. Các yếu tố nguy cơ
4.1. Các hành vi nguy cơ làm tăng lây truyền HIV/AIDS
Xếp theo thứ tự nguy cơ lây truyền giảm dần như sau:
- Nhận máu bị nhiễm HIV.
- Trẻ sinh ra từ người mẹ nhiễm HIV.
- Sinh hoạt tình dục theo đường hậu môn với bạn tình bị nhiễm HIV.
- Sinh hoạt tình dục theo âm đạo với bạn tình bị nhiễm HIV.
- Sinh hoạt tình dục theo đường miệng - bộ phận sinh dục với bạn
tình bị
nhiễm HIV.
- Dùng chung (BKT) với người bị nhiễm HIV.
- Tiếp xúc với các vật phẩm bị nhiễm HIV ở nhân viên y tế [8].

10


4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lây truyền HIV
Gồm 4 nhóm chính:
- Các yếu tố sinh học như mắc các BLTQĐTD, hẹp bao quy
đầu và giai đoạn của quá trình nhiễm HIV, những người nhiễm HIV giai
đoạn cấp tính, giai đoạn hội chứng liên quan tới AIDS.
- Các yếu tố hành vi như vai trò của nam và nữ đặc biệt trong
QHTD, sự chấp nhận của xã hội về lối sống có nhiều bạn tình, phương
thức sinh hoạt tình dục hay các phong tục xăm, xâu lỗ tai.
- Các yếu tố về dân số học như lứa tuổi có tỷ lệ nhiễm HIV cao là 15
- 45 tuổi, sự phát triển của đô thị hóa, hệ thống xe tải đường dài vận
chuyển hàng hóa.
- Các yếu tố về kinh tế, chính trị như thái độ của xã hội đối với
nhóm có hành vi nguy cơ cao, thái độ đối với giáo dục tình dục, thái độ đối

+ Ho dai dẳng kéo dài hơn một tháng.
+ Viêm da ngứa toàn thân.
+ Những vết đỏ, bầm tím trên da và niêm mạc miệng, mũi, trực
tràng...
+ Sưng hạch, đặc biệt là ở cổ và nách không có nguyên nhân rõ
ràng và kéo dài hơn 2 tuần.
+ Những đốm trắng hay những vết bất thường ở miệng.
+ Những dấu hiệu trên xảy ra mà không có nguyên nhân của sự
suy giảm miễn dịch như ung thư, suy dinh dưỡng hoặc các nguyên nhân
khác.
Trong 3 giai đoạn trên thì giai đoạn nhiễm HIV không có triệu
chứng là rất phổ biến. Những người nhiễm HIV không có triệu chứng
chiếm một tỷ lệ rất cao, gấp hàng trăm lần số bệnh nhân AIDS mà
chúng ta không thể kiểm soát được họ. Họ vẫn sống và sinh hoạt bình
thường và có thể làm lây truyền HIV sang cho người khác. Nhiễm HIV
là nhiễm suốt đời cho đến khi phát triển thành bệnh AIDS [9], [10],
[11].

12


6. Đặc điểm dịch tễ học nhiễm HIV/AIDS
6.1. Những đặc điểm riêng của đại dịch HIV/AIDS
- Hiện tượng tảng băng nổi: Khi có một bệnh nhân AIDS thì thực tế là
có hàng trăm người nhiễm HIV không triệu chứng trong cộng đồng.
Đây chính là hiện tượng “Tảng băng nổi”, phần rất nhỏ nổi trên mặt
nước là số bệnh nhân AIDS, còn phần nặng rất lớn chìm dưới nước là số
người nhiễm HIV không triệu chứng và những bệnh nhân ở giai đoạn
xuất hiện liên quan đến AIDS
- Nhiễm HIV là nhiễm suốt đời: Khi HIV xâm nhập vào cơ thể nó sẽ

6.2. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới
Trong 30 năm kể từ khi những trường hợp nhiễm bệnh AIDS đầu
tiên được biết đến tại Hoa Kỳ, theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới,
trên toàn cầu hiện nay có khoảng 33 triệu người sống chung với
HIV/AIDS, và trung bình mỗi ngày, có gần 7.500 ca bị nhiễm mới.
Theo báo cáo này, Sahara là nơi có số người nhiễm HIV cao nhất trên
thế giới với gần 2/3 dân số, tiếp đến là châu Á Thái Bình Dương với 8,3
triệu người nhiễm HIV. Tuy nhiên, Đông Âu và Trung Á lại là khu vực
có tốc độ lây nhiễm khủng khiếp nhất thế giới. Quốc gia bị ảnh hưởng
nhất là nước Swaziland bé nhỏ nơi một phần ba người lớn bị nhiễm vi
rút HIV. Tuy nhiên Kenya và Zimbabwe được báo cáo là con số nhiễm
HIV tại đây đã có giảm bớt. Nam Phi vẫn là nước có số người nhiễm
HIV cao nhất tại Châu Phi: 5,5 triệu người lớn mang virus HIV. Ấn Độ
đã vượt qua Nam Phi để trở thành quốc gia có nhiều người sống chung
với HIV nhất thế giới. Số ca có HIV ở quốc gia đông dân thứ nhì hành
tinh hiện chiếm 2/3 tổng số ca nhiễm loại virus chết người này trên toàn
Châu Á.
Ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đại dịch HIV/AIDS vẫn
tiếp tục gia tăng và tàn phá nặng nề. Theo dự báo mỗi năm sẽ có thêm
khoảng 500.000 trường hợp mới nhiễm HIV nếu các quốc gia không
tăng cường các hoạt động nhằm ngăn chặn sự lây lan của loại vi rút
này. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng HIV/AIDS tại khu vực:
Nạn đói nghèo trình độ dân trí thấp, di dân tự do, sự gia tăng tệ nạn xã
hội làm HIV tăng cao [13].

14


6.3. Tình hình nhiễm HIV ở Việt Nam
Theo báo cáo của Bộ Y tế, tính đến hết ngày 30/T6 năm 2012 ở Việt


6.593

5

Sơn La

6.294

6

Nghệ An

5.182

7

Đồng Nai

5.139

8

Điện Biên

5.024

9

Thanh Hóa

45%), tỷ lệ này tăng hơn 3% so với cùng kỳ năm 2011, tiếp đến là tỷ lệ
người nhiễm HIV lây truyền qua đường máu chiếm 42% giảm khoảng
4,5% so với cùng kỳ năm 2011, tỷ lệ người nhiễm HIV lây truyền từ mẹ
sang con chiếm 2,4%, có 10,6% tỷ lệ người nhiễm HIV không rõ đường
lây truyền. Báo cáo số liệu 6 tháng đầu năm 2012 ghi nhận đây là lần
đầu tiên các trường hợp nhiễm HIV mới phát hiện lây truyền qua đường
tình dục nhiều hơn lây truyền qua đường máu. Tỷ lệ người nhiễm HIV
chủ yếu là người nghiện chích ma tuý chiếm 37,3%. Trong 4 năm trở
lại đây tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tình dục khác giới tăng nhanh từ
8% năm 2007 thì đến hết năm 2011 tỷ lệ này đã là 24,2% và trong 6
tháng đầu năm 2012 tỷ lệ này đạt 24,4%.
7. Ảnh hưởng của HIV/AIDS đến cá nhân và xã hội
Ảnh hưởng cá nhân và xã hội của người nhiễm HIV/AIDS là cực kì to
lớn và không thể lường trước được.
- Ảnh hưởng về kinh tế: Số người nhiễm HIV chủ yếu ở lứa tuổi lao
động. Khi nhiều người bị nhiễm HIV và bị chết vì AIDS sẽ ảnh hưởng
đến sự phát triển kinh tế của từng gia đình, cộng đồng và của đất nước.
Chi phí cho công tác phòng chống AIDS là rất tốn kém.
- Ảnh hưởng về tâm lý xã hội: Mọi người sợ hãi dễ dẫn đến tình trạng
phân biệt đối xử. Cuộc sống của gia đình người nhiễm HIV/AIDS trở
nên căng thẳng, xuất hiện nhiều mâu thuẫn và dần tiến tới sự mất ổn
định trong cuộc sống.
- Ảnh hưởng nặng nề cho hệ thống Y tế: Hệ thống y tế bị quá tải, phát
sinh các nguy cơ lây nhiễm HIV trong môi trường y tế. Thuốc đặc trị
không có nhưng vẫn phải tiến hành việc điều trị cho các bệnh nhân bị

16


nhiễm HIV/AIDS dẫn đến chi phí điều trị lớn nhưng không đạt hiệu



- Sử dụng các hình thức tiếp cận phù hợp với từng đối tượng cụ thể,
chú trọng truyền thông trực tiếp, truyền thông theo nhóm nhỏ, giáo dục
đồng đẳng.
- Tăng cường công tác giáo dục dự phòng lây nhiễm HIV cho thanh
thiếu niên dựa vào cộng đồng, gia đình và hệ thống giáo dục.
2. Tăng cường chất lượng và mở rộng các dịch vụ can thiệp giảm tác
hại dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS cho nhóm người dễ bị cảm nhiễm
HIV
- Mở rộng độ bao phủ và nâng cao chất lượng chương trình can thiệp
giảm thiểu tác hại bao gồm chương trình trao đổi bơm kim tiêm sạch và
chương trình phân phát và tiếp thị xã hội bao cao su, chương trình điều
trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, đặc biệt ưu tiên đối
với các địa bàn có nhiều người nghiện chích ma túy, mại dâm và tỷ lệ
nhiễm HIV/AIDS cao. Các biện pháp triển khai phải phù hợp với đặc
điểm kinh tế, xã hội và đặc thù văn hóa của địa phương và có các biện
pháp hạn chế tối đa mặt trái nảy sinh.
- Tập trung các can thiệp vào nhóm dễ bị cảm nhiễm HIV/AIDS, nhóm
có hành vi nguy cơ cao trong đó chú trọng nhóm nghiện chích ma túy,
phụ nữ bán dâm, nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới, nhóm dân di
biến động và thanh thiếu niên.
- Đầu tư mở rộng Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc
phiện bằng thuốc thay thế cho người nghiện các chất dạng thuốc phiện.
3. Tăng cường chất lượng và mở rộng dịch vụ chẩn đoán, điều trị
các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục
- Tiếp tục tăng cường đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ
chẩn đoán và điều trị các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục tại
cộng đồng góp phần làm hạn chế lây nhiễm HIV/AIDS qua đường tình
dục.

nguyện như cung cấp dịch vụ tư vấn, xét nghiệm trong các cơ sở y tế,
mô hình tư vấn xét nghiệm tự nguyện tại cộng đồng, mô hình tư vấn xét
nghiệm tự nguyện lưu động.
- Triển khai đa dạng hình thức tư vấn, xét nghiệm HIV tư nguyện như
tư vấn theo nhóm, tư vấn cặp, tư vấn cá nhân.
- Tăng cường phối hợp các hoạt động phân phát bao cao su, trao đổi
bơm kim tiêm, các loại câu lạc bộ giới thiệu những người có nguy cơ bị

19


lây nhiễm HIV đến với dịch vụ tư vấn xét nghiệm tự nguyện để phát
hiện sớm người nhiễm HIV.
- Tăng cường các hoạt động tư vấn xét nghiệm HIV trong các trung tâm
chữa bệnh, giáo dục, lao động xã hội, trong các trại giam và trại tạm
giam.
5. Công tác dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con
- Nâng cao chất lượng và mở rộng các dịch vụ dự phòng lây truyền
HIV từ mẹ sang con.
- Nâng cao năng lực cho nhân viên y tế ở cơ sở y tế các cấp để thực
hiện công tác dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con để đảm bảo thực
hiện tư vấn và xét nghiệm HIV cho phụ nữ mang thai.
- Cung cấp đủ trang thiết bị và thuốc cho các bệnh viện sản phụ khoa
tuyến trung ương, tuyến tỉnh và bệnh viện hoặc trung tâm y tế tuyến
huyện để có khả năng chẩn đoán HIV và điều trị dự phòng lây truyền
HIV từ mẹ sang con.
- Tăng cường các biện pháp dự phòng sớm để phòng tránh lây nhiễm
HIV từ mẹ sang con. Thực hiện chiến lược truyền thông phù hợp nhằm
tăng cường nhận thức của cộng đồng về dự phòng lây truyền HIV từ mẹ
sang con.

cách thích hợp thông qua hoạt động xét nghiệm phát hiện nhiễm HIV
cho trẻ dưới 18 tháng tuổi
- Tăng cường và củng cố hệ thống xét nghiệm, đảm bảo cung cấp sinh
phẩm xét nghiệm chẩn đoán sớm tình trạng nhiễm HIV ở trẻ dưới 18
tháng tuổi
- Cung cấp sữa đến 6 tháng tuổi cho trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV.
- Cung cấp đủ thuốc cho trẻ sinh ra từ bà mẹ nhiễm HIV để điều trị dự
phòng phơi nhiễm HIV.
- Thiết lập cơ chế chuyển tuyến, chuyển tiếp và liên kết hiệu quả giữa
các cơ sở sản khoa với cơ sở điều trị HIV/AIDS, chăm sóc sức khỏe bà
mẹ trẻ em với các cơ sở xã hội đảm bảo bà mẹ nhiễm HIV và con của
họ được hỗ trợ, theo dõi, chăm sóc và điều trị thích hợp
- Xây dựng phác đồ và ưu tiên sử dụng thuốc kháng vi rút có hiệu quả
cao cho dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con.

21


6. Các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm
HIV: Đẩy mạnh sản xuất các thuốc giá rẻ ở Việt Nam. Chương trình
bao cao su, bơm kim tiêm sạch, thuốc metadon thay thế.
- Triển khai đồng bộ chương trình can thiệp giảm thiểu tác hại dự
phòng lây nhiễm HIV/AIDS (tập trung vào nhóm có hành vi nguy cơ
cao, nhóm dễ có khả năng bị lây nhiễm HIV).
- Tiến hành mạnh mẽ và rộng rãi các biện pháp an toàn như phát bao
cao su và kim tiêm sạch cho những người bị nhiễm bệnh. Coi đây là
những biện pháp xã hội cần thiết, cần được triển khai song hành với các
biện pháp thông tin, giáo dục, truyền thông nhằm thay đổi hành vi của
người nhiễm HIV.
- Không nên khoanh vùng đối tượng can thiệp, liên tục tuyên truyền giáo dục, tránh việc bị hiểu nhầm là đang khuyến khích cho việc lây lan

trước khi truyền, lựa chọn sinh phẩm xét nghiệm HIV có chất lượng và
thực hiện nghiêm túc các quy định cho công tác sàng lọc máu, đảm bảo
100% các đơn vị máu và chế phẩm của máu được sàng lọc HIV trước
khi truyền.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát các công tác an toàn truyền máu, cấy
mô, ghép tạng trong các cơ sở y tế.
8. Tăng cường công tác dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS qua các dịch
vụ xã hội và dịch vụ y tế
- Tăng cường công tác kiểm tra về việc thực hiện các quy định, các
hướng dẫn về dự phòng lây nhiễm HIV qua các dịch vụ y tế và các dịch
vụ xã hội.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho nhân dân về cách dự phòng lây
nhiễm HIV qua dịch vụ y tế và dịch vụ xã hội. Đảm bảo người dân có
quyền yêu cầu được cung cấp các dịch vụ vô trùng, yêu cầu các nhân
viên y tế về tiệt trùng dụng cụ y tế.
- Cung cấp các trang thiết bị vô trùng, tiệt trùng cho các cơ sở y tế đặc
biệt là y tế quận, huyện, xã, phường, thị trấn. Bảo đảm các cơ sở y tế có
đầy đủ các trang thiết bị tối thiểu phục vụ công tác vô trùng trong các
dịch vụ y tế.
- Tăng cường sự giám sát việc dự phòng lây nhiễm HIV qua các dịch
vụ y tế tại tất cả các cơ sở y tế tư nhân. Đảm bảo các cơ sở y tế tư nhân
phải có đầy đủ trang thiết bị vô trùng và các vật tư tiêu hao phục vụ
công tác vô trùng trong các bệnh viện. Cán bộ y tế công tác tại các cơ sở

23


y tế tư nhân phải có đủ hiểu biết, kiến thức về phòng lây nhiễm HIV qua
các dịch vụ y tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status