ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
--------------
Lê Tiến Công
TỔ CHỨC PHÒNG THỦ VÀ HOẠT ĐỘNG
BẢO VỆ VÙNG BIỂN MIỀN TRUNG
DƯỚI TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802 - 1885
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 62 22 03 13
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Đỗ Bang
2. PGS.TS. Nguyễn Văn Đăng
HUẾ, NĂM 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Huế, ngày 07 tháng 03 năm 2015
Tác giả
Tác giả
Lê Tiến Công
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
DÙNG TRONG LUẬN ÁN
BAVH
Bulletin des Amis du Vieux Hué
(Những người bạn Cố đô Huế)
Châu bản
Châu bản triều Nguyễn
ĐHKH
Đại học Khoa học
ĐHTH
Đại học Tổng hợp
ĐHSP
Đại học Sư phạm
GS.
Tg.
Tác giả
Thực lục
Đại Nam thực lục chính biên
Ths.
Thạc sĩ
Toát yếu
Quốc triều chính biên toát yếu
Toàn thư
Đại Việt sử ký toàn thư
TP HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
Tr.
Trang
TS.
DƯỚI TRIỀU NGUYỄN ............................................................................................. 32
* Tiểu kết chương 1 ...................................................................................................... 39
Chương 2: TỔ CHỨC PHÒNG THỦ VÙNG BIỂN MIỀN TRUNG DƯỚI TRIỀU
NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802-1885 ............................................................................ 40
2.1. HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH PHÒNG THỦ VÙNG BIỂN MIỀN TRUNG ........ 40
2.1.1. Các công trình phòng thủ vùng biển tại Kinh sư: .............................................. 40
2.1.1.1. Các công trình phòng thủ vùng biển tại cửa biển Thuận An .......................... 40
2.1.1.2. Các công trình phòng thủ phía nam Kinh sư .................................................. 47
2.1.2. Các công trình phòng thủ ở cửa biển Đà Nẵng .................................................. 51
2.1.2.1. Các tấn biển Đà Nẵng, Cu Đê ........................................................................ 52
2.1.2.2. Các thành, pháo đài, bảo ................................................................................ 53
2.1.3. Các công trình phòng thủ vùng biển các tỉnh khác ............................................ 58
2.1.3.1. Các công trình phòng thủ vùng biển các tỉnh Tả trực .................................... 58
2.1.3.2. Các công trình phòng thủ vùng biển các tỉnh Hữu trực ................................ .61
2.1.3.3. Các công trình phòng thủ vùng biển các tỉnh Tả kỳ ...................................... 63
2.1.3.4. Các công trình phòng thủ vùng biển các tỉnh Hữu kỳ .................................... 69
2.2. TỔ CHỨC, HUẤN LUYỆN THỦY QUÂN ........................................................ 73
2.2.1. Tổ chức thủy quân .............................................................................................. 73
2.2.2. Huấn luyện thủy quân ........................................................................................ 78
2.3. THUYỀN CHIẾN, VŨ KHÍ VÀ THÔNG TIN LIÊN LẠC ................................ 80
2.3.1. Thuyền chiến của thủy quân .............................................................................. 80
2.3.2. Vũ khí của thủy quân ......................................................................................... 86
2.3.3. Thông tin liên lạc trong bảo vệ vùng biển ......................................................... 89
2.3.3.1. Đài hỏa phong, ngựa trạm, vọng lâu, kỳ lâu .................................................. 89
2.3.3.2. Hiệu cờ, hiệu súng và kính thiên lý ................................................................. 91
* Tiểu kết chương 2...................................................................................................... 96
Chương 3: HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ VÀ THỰC THI CHỦ QUYỀN VÙNG BIỂN
MIỀN TRUNG DƯỚI TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802-1885 .......................... 98
Vùng biển Việt Nam dài rộng, có vị trí đặc biệt quan trọng đối với kinh kế xã
hội và an ninh quốc phòng. Hiện nay, trong điều kiện hội nhập quốc tế, vùng biển
và hải đảo được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm. Đó là, kết hợp chặt chẽ quốc
phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội trên từng địa bàn lãnh thổ, nhằm bảo
đảm vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, trong
đó có vùng biển và hải đảo [68], [69].
Từ trong lịch sử, các triều đại quân chủ Việt Nam luôn coi trọng vị trí chiến
lược của biển đảo. Vào đầu thế kỷ XIX, để đối phó với âm mưu xâm lược từ bên
ngoài, triều Nguyễn vừa phải quan tâm bảo vệ biên giới trên đất liền, vừa phải quan
tâm đến công tác phòng thủ quốc gia từ phía biển. Hệ thống thành đồn pháo đài, tấn
sở ven biển được xây dựng nhằm mục đích đó. Bên cạnh đó, nhà Nguyễn quan tâm
phát triển thủy quân, trang bị thuyền chiến, vũ khí theo hướng thủy quân biển. Kết
hợp quân triều đình với quân địa phương, dân binh, dân phu trong hoạt động thực
thi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Các hoạt động khác như tuần tra,
kiểm soát vùng biển, chống cướp biển, cứu hộ cứu nạn… được thực hiện thường
xuyên thể hiện ý chí bảo vệ biển của triều đại này.
Mặc dù triều Nguyễn không thành công trong công cuộc chống ngoại xâm vào
nửa sau thế kỷ XIX nhưng những nỗ lực trong bảo vệ đất nước mà triều đại này đã
làm vẫn là bài học kinh nghiệm quý cho hậu thế trong xây dựng và bảo vệ vùng
biển, bảo vệ đất nước. Đặc biệt, nó còn có ý nghĩa lớn hơn trong giai đoạn hiện nay,
khi Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn dần trên Biển Đông, không
phải từ các nước xa lạ mà chính từ nước láng giềng. Điển hình nhất là từ đầu tháng
5.2014, Trung Quốc đã mang giàn khoan HD 981 cùng nhiều tàu, máy bay hộ tống
vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng đối với chủ quyền và
toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, xâm phạm trắng trợn vùng đặc quyền kinh tế của
Việt Nam theo Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
Vùng biển luôn có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ
quốc. Bảo vệ vững chắc và xây dựng vùng biển đảo giàu mạnh, kết hợp chặt chẽ
1
Giai đoạn từ 1945-1975, có những nghiên cứu đáng chú ý như tác phẩm Les
archipels de Hoang Sa et de Truong Sa selon les anciens ouvrages Vietnamiens
2
d'histoire et de ge'ographie của Võ Long Tê năm 1974. Năm 1975, nhóm nghiên
cứu Sử Địa (Sài Gòn) công bố số 29, Đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa. (Đầu
năm 2015 đặc khảo này đã được tái bản với nhan đề “Đặc khảo về Hoàng Sa Trường Sa, biển Đông và chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam” do
Nguyễn Nhã chủ biên). Đặc khảo này có nhiều bài viết giá trị của các tác giả Hoàng
Xuân Hãn, Sơn Hồng Đức, Trần Thế Đức, Nguyễn Nhã, Lam Giang, Lãng Hồ…
cung cấp nhiều tư liệu và luận cứ khoa học khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa được
người Việt xác lập chủ quyền từ nhiều thế kỷ trước.
2.1.2. Giai đoạn từ 1975 đến nay
Sau 1975, việc nghiên cứu chú trọng nhiều về chủ quyền của Việt Nam tại
Hoàng Sa, Trường Sa, lịch sử thủy quân và lịch sử chống ngoại xâm. Năm 1979 có
tác phẩm Hoàng Sa - quần đảo Việt Nam của Văn Trọng. Quần đảo Hoàng Sa và
quần đảo Trường Sa, bộ phận lãnh thổ Việt Nam, NXB Sự thật, 1981. Năm 1982
Bộ Ngoại giao Việt Nam ấn hành cuốn Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường
Sa: Lãnh thổ Việt Nam. Điểm nổi bật của các công trình này là công bố những tài
liệu về Hoàng Sa – một bộ phận không thể tách rời của Việt Nam. Năm 1983, các
tác giả Nguyễn Việt, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hùng có tác phẩm Quân thủy
trong lịch sử chống ngoại xâm với rất nhiều đóng góp về lĩnh vực thủy quân trong
lịch sử dân tộc, tuy vậy cuốn sách này chỉ nghiên cứu đến thời Tây Sơn [191]. Năm
1988, tác giả Vũ Phi Hoàng có cuốn Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa- lãnh
thổ Việt Nam (NXB Quân đội Nhân dân) [87]. Ra đời ngay sau thời điểm sự kiện
Gạc Ma bị Trung Quốc đánh chiếm có sách Huyện đảo Trường Sa của NXB Tổng
hợp Phú Khánh, 1988 [91]. Cũng trong năm 1988, Nguyễn Q. Thắng có cuốn
Hoàng Sa, Trường Sa (nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 1988, năm 2002 được bổ
sung và tái bản với tên “Hoàng Sa, Trường Sa – lãnh thổ Việt Nam nhìn từ công
pháp quốc tế”) [182]. Năm 1995, Lưu Văn Lợi có công trình Cuộc tranh chấp Việt
Anh Sơn tiếp tục nghiên cứu và công bố nhiều bài viết về chủ quyền của Việt Nam
trên quần đảo Hoàng Sa trong đó đáng chú ý là những bài viết liên quan đến những
bản đồ cổ. Tháng 9.2014, Trần Đức Anh Sơn công bố 3 cuốn sách về Hoàng Sa –
Trường Sa và tàu thuyền thời Nguyễn gồm: Tàu thuyền và ngành đóng thuyền ở
Việt Nam thời Nguyễn [164], Tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo
Hoàng Sa [165], Hoàng Sa - Trường Sa, tư liệu và quan điểm của học giả quốc tế
[166]. Các công trình trên có đóng góp đáng kể trong tiến trình nghiên cứu về biển
đảo Việt Nam nói chung đặc biệt ở mảng tư liệu và bản đồ cổ.
4
Từ đầu năm 2012 đến cuối năm 2014, Hội Khoa học Lịch sử Thừa Thiên Huế
chủ trì thực hiện đề tài khoa học “Tổ chức và hoạt động bảo vệ biển đảo Việt Nam
dưới triều Nguyễn thời kỳ 1802-1885”. Đề tài do Đỗ Bang làm chủ nhiệm, mã số
IV4-2011.10 (02/2012/IV/HĐ-KHXH) thuộc Quỹ Phát triển khoa học và Công
nghệ Quốc gia (Nafosted). Ở đề tài trên chúng tôi thực hiện các nội dung: “Hệ
thống các công trình phòng thủ ở các cửa biển miền Trung dưới triều Nguyễn”,
“Chống ngoại xâm, bảo vệ chủ quyền biển đảo”, “Cứu hộ, cứu nạn”. Bên cạnh đó,
chúng tôi nghiên cứu các phần chống cướp biển (phần miền Trung), vẽ bản đồ, vận
tải biển, kiểm soát tàu thuyền.
Những năm gần đây có nhiều cuốn sách liên quan đến Biển Đông nói chung
được xuất bản như Đinh Kim Phúc, Hoàng Sa – Trường Sa, luận cứ và sự kiện
[129]. Nguyễn Văn Kim (chủ biên), Người Việt với biển [96]. Trần Công Trục, Dấu
ấn Việt trên Biển Đông [187]. Vũ Hữu San, Địa lý Biển Đông với Hoàng Sa,
Trường Sa [160]. Nguyễn Đình Đầu, Chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông và
Hoàng Sa, Trường Sa [74]. Nguyễn Ngọc Trường, Về vấn đề Biển Đông [188].
Điểm nổi bật của các công trình trên là tiếp tục công bố những tài liệu, bản đồ và
phân tích cơ sở pháp lý của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa.
Trong đó, cuốn Người Việt với biển là tập hợp những nghiên cứu về biển trong lịch
Hoàng Sa và Trường Sa diễn ra tại Hà Nội năm 1996. Năm 2009, tại TPHCM có
tọa đàm Biển Đông và hải đảo Việt Nam. Cũng trong năm 2009, tại Hà Nội có hội
thảo quốc tế Biển Đông: hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực. Tháng 11
năm 2011, Hội Luật gia Việt Nam, Học viện Ngoại giao đồng phối hợp tổ chức Hội
thảo khoa học quốc tế lần thứ ba về Biển Đông với chủ đề Biển Đông: Hợp tác vì
an ninh và phát triển ở khu vực tại Hà Nội. Tháng 12.2012, tại Đà Nẵng có hội thảo
quốc gia: Hợp tác Biển Đông – lịch sử và triển vọng. Tháng 11.2013, tại Hà Nội
tiếp tục tổ chức hội thảo Biển Đông lần thứ 5 có cùng chủ đề với hội thảo năm 2009
là Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và phát triển trong khu vực. Tháng 12.2013, hội
Khoa học Lịch sử Thừa Thiên Huế tổ chức hội thảo Triều Nguyễn với công cuộc
bảo vệ biển đảo tổ quốc vào thế kỷ XIX (đã xuất bản [9]). Tháng 6.2014, hội thảo
khoa học quốc tế Hoàng Sa – Trường Sa: sự thật lịch sử được tổ chức tại Đà
Nẵng... Tại các cuộc hội thảo, tọa đàm quốc gia, quốc tế nói trên đã có nhiều tham
luận, bài viết về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa,
nhiều tư liệu lịch sử, các bản đồ giá trị được công bố…
Gần đây chủ đề Biển Đông trở thành mối quan tâm của nhiều người, từ giới
chính trị, quân sự đến những người nghiên cứu. Vì vậy việc nghiên cứu và công bố
6
tài liệu lịch sử về vùng biển Việt Nam rất được quan tâm. Nhiều bài báo và tư liệu
được công bố, các đề tài khoa học được triển khai đã đem đến nhiều thông tin quý
giá về một phần lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc. Nhiều cơ quan thông tấn báo chí
đã đăng tải các bài viết liên quan đến chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa,
Trường Sa. Đáng chú ý như: Tạp chí Khoa học của Đại học Quốc gia Hà Nội số 3.
1998, công bố những nghiên cứu về Hoàng Sa – Trường Sa từ kết quả của đề tài cấp
nhà nước. Tạp chí Nghiên cứu & Phát Triển (Sở KHCN Thừa Thiên Huế) cho đăng
chuyên san về Biển Đông (số 4 (75) 2009) và gần đây là chuyên đề sử liệu về Thiên
Nam tứ chí lộ đồ thư và Giáp Ngọ niên bình Nam đồ (số 2 (109), 2014) [168].
Trong những năm qua tạp chí này đã công bố nhiều các bài viết liên quan đến Biển
chung, và công tác bảo vệ đất nước dưới triều Nguyễn nói riêng được quan tâm khá
nhiều với nhiều thành tựu quan trọng, góp phần nhận diện về những nỗ lực xây dựng
và bảo vệ đất nước của các triều đại phong kiến Việt Nam, trong đó có nhà Nguyễn.
2.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài
Những ghi chép, nghiên cứu rời rạc có liên quan tới vùng biển Việt Nam trước
năm 1945 trước tiên phải kể đến những người nước ngoài qua lại trên vùng Biển
Đông và tới buôn bán tại Việt Nam. Các ghi chép, báo cáo, nhật ký của các giáo sĩ,
thương nhân, quân nhân của các nước khác đến nước ta trước đây như: Xứ Đàng
Trong của C. Borri [11], Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán (1695) [161], Một
chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792 - 1793) của John Barrow [10]... Nhìn chung,
các tài liệu trên đã đề cập tới vùng biển miền Trung với nhiều góc độ khác nhau
như: địa lí - địa hình, kinh tế, chính trị, xã hội và hoạt động quân sự, ngoại giao…
Cuốn sách đầu tiên đề cập đến việc thực dân phương Tây xâm lược Việt Nam
là công trình của Lé Opold Pallo được in tại Pháp năm 1864 với nhan đề “Lịch sử
cuộc viễn chinh Nam Kỳ năm 1861 [126]. Tác giả Lé Opold Pallo cũng là người
trực tiếp tham chiến nên đã cung cấp nhiều tư liệu thực tế về cuộc chiến tại miền
Trung và Nam kỳ. Tuy vậy, cuốn sách không tránh khỏi những cái nhìn thiên lệch
của những kẻ xâm lược.
Nhiều công trình nghiên cứu của các học giả người Việt ở nước ngoài như Từ
Đặng Minh Thu, Vũ Quang Việt, Nguyễn Duy Chính, các công trình dịch thuật của
Ngô Bắc về các tư liệu của người nước ngoài có liên quan đến lịch sử thăm dò và
xâm chiếm Việt Nam.
Liên quan đến quá trình ứng phó của các vua đầu triều Nguyễn đối với âm
mưu xâm lược của phương Tây phải kể đến các luận án tiến sĩ của Trương Bá Cần
bảo vệ năm 1963, Hoạt động ngoại giao của nước Pháp nhằm củng cố cơ sở tại
8
Nam Kỳ [24]. Luận án của Cao Huy Thuần, Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc
địa của Pháp tại Việt Nam 1857-1914 [184]. Luận án của Y. Tsuboi (Nhật Bản),
vùng nằm ngoài sự cai quản của đế chế, là hải đạo chung trong con đường hàng hải
giao thương quốc tế [131] – [136].
Bên cạnh các công trình, bài viết thì trong những năm qua, trên thế giới có rất
nhiều cuộc hội thảo về Biển Đông đã được tổ chức tại nhiều quốc gia như Mỹ, Nga,
Úc, Nhật, Hàn Quốc, Campuchia, Myanmar như... Tháng 4.2012, tại Nga đã tổ chức
Hội thảo khoa học quốc tế Những vấn đề thực tiễn của an ninh khu vực Đông Á và
an ninh Biển Đông. Tháng 10.2012, hội thảo quốc tế về Thực trạng vấn đề chủ
quyền Biển Đông và giải pháp do Đại học Chosun và Đại học Quốc gia Hà Nội phối
hợp tổ chức đã diễn ra tại Đại học Chosun, Gwangju, Hàn Quốc. Tháng 3.2013, Hội
Châu Á - trụ sở tại New York - phối hợp với trường Chính sách công Lý Quang
Diệu của Singapore đồng tổ chức tại Mỹ hội thảo về Tranh chấp ở Biển Đông.
Tháng 9.2013, Hội thảo quốc tế Biển Đông: thành tựu, thách thức và hướng tương
lai tổ chức tại Campuchia. Tháng 11.2013, Hội thảo quốc tế về Biển Đông diễn ra
tại Đại học New South Wales, Australia. Tháng 2.2014, Hội thảo quốc tế về Biển
Đông và biển Hoa Đông tổ chức tại Đại học Công nghiệp Kyoto, Nhật Bản. Tháng
4.2014, Hội thảo Thách thức an ninh hàng hải đối với ASEAN và triển vọng giải
quyết tranh chấp Biển Đông được tổ chức tại Myanmar… Nhìn chung, chủ đề hội
thảo đã nói lên tính chất thời sự của những tranh chấp trên Biển Đông. Bên cạnh đó,
vấn đề Biển Đông không còn là mối quan tâm trong khu vực mà còn là mối quan
tâm của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Nhiều đại biểu quốc tế,
trong đó có nhiều nhà khoa học Việt Nam đã tham dự với nhiều tham luận khoa học
về lịch sử chủ quyền của quốc gia trên vùng Biển Đông.
Như vậy cho đến nay nghiên cứu về lịch sử biển đảo Việt Nam nói chung và
những nội dung liên quan đến đề tài nói riêng đã có khá nhiều công trình. Các công
trình đã đề cập đến nhiều lĩnh vực liên quan đến đề tài, có thể chỉ ra một số đặc
điểm của các nghiên cứu trên như sau:
- Các công trình nghiên cứu trong những năm qua tập trung khai thác và công
bố nhiều tư liệu, bản đồ cổ (trong nước và các bài báo, bản đổ nước ngoài) liên quan
đến quá trình khai thác, thực thi chủ quyền của Việt Nam trên vùng biển, trong đó
Trên cơ sở kế thừa, phát triển từ kết quả nghiên cứu luận văn thạc sĩ bảo vệ
năm 2006 cùng các nghiên cứu có hệ thống của mình [34] - [49], chúng tôi mở rộng
về thời gian nghiên cứu đến năm 1885, hệ thống và cập nhật những tư liệu, kết quả
nghiên cứu mới nhất để thực hiện luận án tiến sĩ. Quá trình nghiên cứu luận án cũng
là quá trình tác giả tham gia thực hiện đề tài khoa học mã số IV4-2011.10
11
(02/2012/IV/HĐ-KHXH). Tác giả là người tham gia viết các phần liên quan trực
tiếp đến hệ thống phòng thủ và hoạt động bảo vệ vùng biển miền Trung. Luận án
cũng là sản phẩn đào tạo thuộc đề tài khoa học nói trên. Điểm mới trong luận án là
chúng tôi bổ sung nhiều tư liệu điền dã là các văn bản Hán Nôm, bằng sắc thủy
quân, các văn bia, đặc biệt là các Châu bản triều Nguyễn chưa từng được công bố
để nghiên cứu nhằm bổ sung, góp phần nghiên cứu về lịch sử bảo vệ biển đảo dưới
triều Nguyễn.
3. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Đề tài có những mục tiêu sau:
- Nghiên cứu đầy đủ, khách quan và hệ thống về công cuộc tổ chức, những
hoạt động và hiệu quả bảo vệ vùng biển miền Trung dưới triều Nguyễn.
- Nghiên cứu về việc tổ chức và các hoạt động bảo vệ vùng biển, bao gồm cả
cửa biển, mặt biển và hải đảo miền Trung của triều Nguyễn nhằm thấy được một
cách cụ thể và khái quát về công cuộc bảo vệ vùng biển cũng là bảo vệ quốc gia
đương thời. Từ đó, luận án đánh giá những thành công và những hạn chế của triều
Nguyễn trong công cuộc phòng thủ và bảo vệ vùng biển cũng như những kinh
nghiệm lịch sử góp phần làm cơ sở tham khảo cho công cuộc xây dựng và bảo vệ
đất nước ngày nay.
- Nghiên cứu về bảo vệ chủ quyền vùng biển cũng là nghiên cứu một phần
quan trọng của lịch sử quân sự Việt Nam. Bối cảnh lịch sử xưa nay có khác nhau
nhưng những thách thức trong công cuộc bảo vệ đất nước là không hề thay đổi,
thậm chí còn phức tạp hơn rất nhiều và bài học mất nước vẫn còn nguyên giá trị.
Đề tài giới hạn trong phạm vi không gian vùng biển các tỉnh miền Trung Việt
Nam đương thời (tương đương với các tỉnh Thanh Hóa tới Bình Thuận ngày nay),
bao gồm tất cả vùng biển, bờ biển, cửa biển, hải đảo, chú trọng đến hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa.
Thời gian nghiên cứu trong đề tài từ năm 1802 đến năm 1885. Đây là giai đoạn
từ khi triều Nguyễn thành lập đến sự kiện Kinh đô thất thủ, đất nước rơi vào tay thực
dân Pháp. Đây cũng là giai đoạn mà việc tổ chức phòng thủ và hoạt động bảo vệ vùng
biển được thể hiện liên tục và có hệ thống dưới sự chủ trì của nhà Nguyễn độc lập.
5. NGUỒN TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau. Trong
đó, nguồn tư liệu quan trọng nhất là các tư liệu gốc liên quan trực tiếp đến triều
Nguyễn như Đại Nam thực lục chính biên, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ,
13
Minh Mạng chính yếu, Quốc triều chính biên toát yếu, Đại Nam nhất thống chí…
Đặc biệt nguồn tư liệu quan trọng được chúng tôi khai thác là Châu bản triều
Nguyễn. Châu bản triều Nguyễn là tập hợp các văn bản hành chính của triều
Nguyễn, bao gồm các tập tấu, sớ, phụng thượng dụ, chiếu, chỉ dụ, tư trình, bẩm,
truyền, sai, phó, khiển... được đích thân vua ngự lãm hoặc ngự phê bằng mực màu
son, truyền đạt ý chỉ hoặc giải quyết các vấn đề chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh
tế, văn hóa, xã hội. Đây là những tư liệu gốc, có giá trị đặc biệt trong nghiên cứu.
Ngày 14.5.2014, Châu bản triều Nguyễn đã được UNESCO công nhận là Di sản tư
liệu Chương trình Ký ức thế giới Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương điều đó càng
khẳng định giá trị nguồn tư liệu này.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tham khảo một số công trình nghiên cứu của các
tác giả đi trước gồm các nhóm tài liệu như: các báo cáo kết quả công trình nghiên
cứu khoa học, sách chuyên khảo, các luận án, luận văn, các bài báo khoa học được
công bố trên các tạp chí chuyên ngành, các tham luận hội thảo quốc gia và quốc tế.
Nguồn tài liệu quan trọng khác là các tư liệu điền dã của tác giả tại miền Trung.
cao. Tác giả tiến hành sưu tầm các tư liệu liên quan đến đề tài, đặc biệt chú trọng
đến tài liệu gốc như Châu bản triều Nguyễn, các tài liệu Hán Nôm sưu tầm được.
Bên cạnh đó, tác giả nghiên cứu thông tin từ các nguồn tài liệu thư tịch như Đại
Nam thực lục chính biên, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Quốc triều chính biên
toát yếu, Đại Nam nhất thống chí,… đây là những công trình được biên soạn dưới
triều Nguyễn và được tổ chức dịch thuật bởi các cơ quan chuyên môn có uy tín. Tuy
nhiên có nhiều lý do khách quan, tác giả không thể tiếp cận tư liệu gốc mà phải trích
dẫn lại, trong những trường hợp như vậy, tác giả đều ghi rõ nguồn.
7. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
Luận án là kết quả của một quá trình nghiên cứu có tính hệ thống của tác giả,
được hoàn thiện và bổ sung bằng các tư liệu mới phát hiện. Đó là các tư liệu điền
dã, bao gồm các văn bia, văn bản Hán Nôm như: sắc phong, bằng, chế, báo cáo…
liên quan đến thủy binh triều Nguyễn. Bên cạnh tư liệu điền dã, tác giả đã khai thác
các bản gốc tư liệu Châu bản triều Nguyễn liên quan đến đề tài. Nhiều tài liệu Châu
bản triều Nguyễn sử dụng trong luận án chưa được công bố. Đóng góp của luận án
là cung cấp những tư liệu mới, có hệ thống, khách quan liên quan đến chủ đề bảo vệ
đất nước và vùng biển miền Trung dưới triều Nguyễn.
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu đầy đủ và toàn diện công cuộc tổ
chức và hoạt động bảo vệ vùng biển miền Trung dưới triều Nguyễn. Trên cơ sở
những tư liệu đáng tin cậy, tác giả đã nghiên cứu và làm rõ những nỗ lực bảo vệ chủ
15
quyền, an ninh vùng biển của nhà Nguyễn. Việc thiết lập hệ thống phòng thủ vùng
biển và các hoạt động phòng thủ tại đây hoàn toàn nằm trong ý thức về chủ quyền
dân tộc của nhà Nguyễn khi phải đối phó và đối đầu với một kẻ thù hoàn toàn mới
đến từ phía biển với trang bị kỹ thuật và phương tiện vượt trội. Đối với các hoạt
động bảo vệ và thực thi chủ quyền vùng biển, đặc biệt là trên hai quần đảo Hoàng
Sa - Trường Sa, triều Nguyễn đã tiếp tục quản lý và thực thi chủ quyền thường
xuyên, liên tục. Các vua đầu triều Nguyễn có công lao rất lớn đối với lịch sử thực
biển miền Trung có vị trí quan trọng trong tổng thể biển đảo Việt Nam, trong đó có
2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với nhiều đảo lớn, nhỏ, gần và xa bờ, hợp thành
phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển. Vùng biển Việt Nam nói
chung, miền Trung nói riêng có vị trí chiến lược quan trọng: nối liền Thái Bình
Dương với Ấn Độ Dương, châu Á với châu Âu, châu Úc với Trung Đông. Giao lưu
quốc tế thuận lợi, phát triển ngành biển. Vùng biển và hải đảo nước ta có vị trí chiến
lược hết sức to lớn, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ nền
độc lập dân tộc, có liên quan trực tiếp đến sự phồn vinh của đất nước và hạnh phúc
của nhân dân.
Quốc phòng, an ninh: biển nước ta nằm trên đường giao thông quốc tế từ Đông
sang Tây, từ Bắc xuống Nam vì vậy có vị trí quân sự hết sức quan trọng. Đứng trên
vùng biển đảo của nước ta có thể quan sát khống chế đường giao thông huyết mạch
ở Đông Nam Á. Biển đảo nước ta có tầm quan trọng hết sức lớn lao đối với sự phát
triển; trường tồn của đất nước.
Đảo và quần đảo: vùng biển nước ta có trên 4000 hòn đảo lớn nhỏ trong đó:
Vùng biển Đông Bắc có trên 3.000 đảo. Bắc Trung bộ trên 40 đảo. Còn lại ở vùng
biển nam Trung bộ, vùng biển Tây Nam và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Căn cứ vào vị trí chiến lược và các điều kiện địa lý kinh tế, dân cư, thường người ta
chia các đảo, quần đảo thành các nhóm:
+ Hệ thống đảo tiền tiêu có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Trên các đảo có thể lập những căn cứ kiểm soát vùng biển, vùng trời
17
nước ta, kiểm tra hoạt động của tàu, thuyền, bảo đảm an ninh quốc phòng, xây dựng
kinh tế, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước ta. Đó là các đảo, quần
đảo như: Hoàng Sa, Trường Sa, Chàng Tây, Thổ Chu, Phú Quốc, Côn Đảo, Phú
Quý, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Cô Tô, Bạch Long Vĩ...
+ Các đảo lớn có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triên kinh tế-xã hội. Đó là
các đảo như: Cô Tô, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc.