CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ KINH NGHIỆM
VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU
CỦA DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG
1.1. Bản chất và vai trò của đấu thầu xây dựng
Có nhiều quan niệm khác nhau của đấu thầu xây dựng.
Đứng trên góc độ nhà thầu, đấu thầu là một trong những phương thức
chủ yếu để có được dự án giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Thực chất
của đấu thầu là quá trình cạnh tranh với các nhà thầu khác về khả năng đáp
ứng các yêu cầu về chất lượng, tiến độ, chi phí xây dựng do bên mời thầu đặt
ra.
Đối với chủ đầu tư, đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu có khả năng
đáp ứng tốt nhất các yêu cầu về chất lượng, tiến độ và chi phí xây dựng công
trình. Theo Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định 88/2003/NĐ-CP
ngày 01/9/2003 của Chính phủ, đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp
ứng các yêu cầu của bên mời thầu. Mục tiêu của đấu thầu là tạo nên sự cạnh
tranh công bằng và minh bạch trong quá trình lựa chọn nhà thầu phù hợp, bảo
đảm hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư.
Đối với Nhà nước, đấu thầu là phương thức quản lý các hoạt động xây
dựng thông qua việc uỷ quyền cho chủ đầu tư (bên mời thầu) theo chế độ
công khai tuyển chọn nhà thầu.
Theo đó, trong quá trình đấu thầu có sự tham dự của 3 chủ thể có liên
quan đến dự án (gói thầu):
- Chủ đầu tư là bên mời thầu để thực hiện có hiệu quả dự án đầu tư của
mình.
- Các nhà thầu là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có khẳnng thực hiện
nhiệm vụ của dự án đầu tư.
Đấu thầu xây dựng (xây lắp) được thực hiện qua các hình thức sau đây:
1
- Đấu thầu rộng rãi: việc tổ chức đấu thầu không hạn chế số lượng các
nhà thầu tham gia.
nhiên, để bảo đảm hiệu quả thiết thực của đấu thầu, chủ đầu tư phải am hiểu
sâu sắc quy chế đấu thầu và có được đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên môn
tốt, có đạo đức nghề nghiệp để lập hồ sơ mời thầu có chất lượng, đánh giá
đúng các hồ sơ dự thầu và lựa chọn đúng nhà thầu có đủ năng lực thực hiện
yêu cầu công trình.
Đối với nhà thầu, việc thực hiện chế độ đấu thầu sẽ phát huy được tính
chủ động, sáng tạo và linh hoạt tìm kiếm việc làm thông qua việc nắm bắt
thông tin về dự án, về đối thủ cạnh tranh, thiết lập quan hệ với các chủ thể
kinh tế khác. Đấu thầu cũng tạo nên sức ép với các nhà thầu trong việc đổi
mới công nghệ, nâng cao trình độ cán bộ và công nhân viên, qua đó nâng cao
khả năng cạnh tranh để tăng xác suất trúng thầu. Thông qua đấu thầu, các nhà
thầu cũng sẽ tích luỹ được thêm kinh nghiệm thi công, kinh nghiệm lập hồ sơ
dự thầu và xác định chiến lược phát triển dài hạn của mình.
Đối với Nhà nước, thông qua đấu thầu, các cơ quan quản lý Nhà nước có
đủ thông tin thực tế và cơ sở khoa học để đánh giá đúng thực lực của các chủ
đầu tư và các nhà thầu. Những điều đó giúp Nhà nước phát huy đúng được vai
trò của mình trong nền kinh tế thị trường: tổ chức thị trường xây dựng, tạo sự
cạnh tranh lành mạnh và tăng cường trật tự, kỷ cương trong thựuc hiện quá
trình đầu tư.
1.2. Cạnh tranh và khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của các doanh
nghiệp xây dựng
Theo C.Marx, cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh giữa các nhà tư
bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng
hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch. Ông cũng coi cạnh tranh là một trong
những quy luật của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.
P.A.Samuelson cho rằng, cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh
nghiệp để giành khách hàng hoặc thị trường.
3
Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) định nghĩa: canh tranh trong kinh
doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các
chỉ bó hẹp ở khâu đấu thầu mà chưa chỉ ra được sự cạnh tranh của các doanh
nghiệp trong suốt quá trình sản xuất - kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp đều
tham gia đấu thầu rất nhiều công trình khác nhau với những đối thủ khác nhau
trong những khoảng thời gian, địa điểm khác nhau, do đó quan niệm theo
nghĩa hẹp này sẽ khó xác định được toàn diện các vấn đề cạnh tranh trong đấu
thầu
Theo nghĩa rộng: cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là sự đấu tranh gay
gắt giữa các doanh nghiệp xây dựng kể từ khi bắt đầu tìm kiếm thông tin, đưa
ra các giải pháp tham gia đấu thầu, bảo đảm trúng thầu và thực hiện hợp đồng
cho tới khi hoàn thành công trình và bàn giao theo yêu cầu của chủ đầu tư. Có
thể hiểu cạnh tranh theo nghĩa rộng trong đấu thầu xây dựng theo sơ đồ dưới
đây:
Sơ đồ 1: Quá trình cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
Doanh nghiệp phải chủ động tìm kiếm thông tin về các cuộc đấu thầu để
có sự chuẩn bị tham gia đấu thầu.
Khi doanh nghiệp tham gia đấu thầu, có hai trường hợp xảy ra là trượt
thầu hoặc trúng thầu. Trong trường hợp nào thì doanh nghiệp cũng luôn luôn
5
phải tìm kiếm các thông tin để tiếp cận các cuộc đấu thầu. Phân tích và đánh
giá thông tin để đưa ra các quyết sách đúng đắn trong việc tham gia đấu thầu.
1.2.1.2. Phân loại cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
Cạnh tranh trong đấu thầu có nhiều loại, trong đó chủ yếu là:
- Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Người mua dịch vụ xây dựng
(chủ đầu tư- bên mời thầu) và người bán dịch vụ xây dựng công trình (doanh
nghiệp xây dựng - nhà thầu) với những mục tiêu khác nhau, tạo ra sự sôi động
của thị trường xây dựng. Mục tiêu của chủ đầu tư là các công trình có chất
lượng cao, thời gian xây dựng ngắn và chi phí xây dựng (giá cả hợp lý). Còn
mục tiêu của nhà thầu là đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả
nhất và ít rủi ro nhất.
- Cạnh tranh giữa người mua dịch vụ xây dựng với nhau: Chỉ xảy ra khi
và tiết kiệm nhất. Để thi công xây dựng công trình đúng tiến độ, đạt hiệu quả
kinh tế mong muốn thì d xây dựng phải có bộ máy quản lý đủ năng lực để
điều hành sản xuất. Nếu hoạt động đấu thầu xây dựng được xem là hoạt động
đầu tiên trong quan hệ giữa doanh nghiệp xây dựng với chủ đầu tư, thì hoạt
động bàn giao công trình hoàn thành có thể xem là hoạt động cuối cùng.
Những công trình bàn giao cho chủ đầu tư được xem là những sản phẩm đã
được thị trường chấp nhận. Hoạt động này có quan hệ tích cực hoặc tiêu cực
tới hoạt động thầu xây dựng của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp bàn giao
công trình đảm bảo kỹ thuật, mỹ thuật, thời gian xây dựng thì uy tín cua
doanh nghiệp trên thị trường xây dựng được đề cao. Ngược lại, nếu doanh
nghiệp bàn giao những công trình xây dựng không đảm bảo như cam kết hợp
đồng thì uy tín của doanh nghiệp sẽ bị giảm sút.
1.2.2. Khả năng và phương thức cạnh tranh trong đấu thầu của doanh
nghiệp xây dựng
1.2.2.1. Khái quát về khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của doanh
nghiệp xây dựng
7
Khi nói đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là nói đến nội lực
(bên trong) của doanh nghiệp, trong dó có các năng lực về tài chính, kỹ thuật
công nghệ, marketing, tổ chức quản lý, đội ngũ lao động của doanh nghiệp.
Có nội lực là điều kiện cần, còn điều kiện đủ là doanh nghiệp phải biết sử
dụng, phát huy tất cả các nội lực đó để phục vụ cho các cuộc cạnh tranh khác
nhau tạo ra lợi thế hơn hẳn so với các doanh nghiệp khác. Như vậy, khả nưng
cạnh tranh của doanh nghiệp là toàn bộ năng lực và việc sử dụng các năng lực
đó để tạo ra lợi thế của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh khác nhằm
thoả mãn đến mức tối đa các đòi hỏi của thị trường.
Khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là toàn bộ những năng lực
về tài chính, thiết bị, công nghệ, marketing, tổ chức quản lý mà doanh nghiệp
có thể sử dụng để tạo ra các lợi thế của mình so với các doanh nghiệp khác.
Khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của doanh nghiệp không cỉ
yếu tố nó thể hiện tổng hợp các phẩm chất của doanh nghiệp xây dựng như:
- Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp;
- Kỹ thuật thi công, khả năng áp dụng công nghệ tiên tiến;
- Phẩm chất kinh doanh của doanh nghiệp.
Để giá bỏ thầu của doanh nghiệp có ưu thế cạnh tranh đòi hỏi phải có
chính sách về giá một cách linh hoạt dựa trên cơ sở: Năng lực thực sự của
doanh nghiệp; mục tiêu tham gia đấu thầu; quy mô, đặc điểm của dự án, địa
điểm của dự án, phong tục tập quán của địa phương có dự án được thi công.
Việc xây dựng giá bỏ thầu phụ thuộc lớn vào mục tiêu đấu thầu của nhà
thầu như để kiếm lợi nhuận, công ăn việc làm hay mở ra thị trường mới. Một
nhà thầu thường xây dựng các mức giá khác nhau với những mục tiêu đạt
được khác nhau. Tuỳ theo từng công trình cụ thể, tiềm lực nguồn lao động,
khả năng về vốn, thiết bị máy móc v.v.. mục tiêu tham gia đấu thầu có chính
sách định giá khác nhau trong việc quyết định giá bỏ thầu.
Phương thức 2: Cạnh tranh bằng chất lượng công trình
9
Chất lượng công trình là tập hợp các thuộc tính của công trình trong điều
kiện nhất định về kinh tế kĩ thuật. Chất lượng là một chỉ tiêu tổng hợp thể
hiện ở nhiều mặt khác nhau về tính cơ, lý, hoá của công trình mà chủ đầu tư
đặt ra.
Doanh nghiệp phải luôn luôn giữ vững và không ngừng nâng cao chất
lượng công trình. Đó là điều kiện không thể thiếu nếu doanh nghiệp muốn
giành được thắng lợi trong cạnh tranh. Do vậy, chất lượng công trình là vấn
đề sống còn đối với doanh nghiệp xây dựng. Nâng cao chất lượng công trình
có ý nghĩa hết sức quan trọng thể hiện trên các giác độ:
- Chất lượng công trình tăng lên sẽ góp phần tăng uy tín của doanh
nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng được thị trường.
- Nâng cao chất lượng công trình góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất
-kinh doanh, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, đảm bảo hoàn thành các mục
tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra.
Tính theo giá trị dự án (hoặc gói thầu)
T2 = x 100 (%) (1)
Trong đó: Là tỷ lệ trúng thầu theo giá trị dự án (gói thầu)
Gtt: Là giá trị của các dự án (gói thầu) trúng thầu
Gdt: Là giá trị của các dự án (gói thầu) dự thầu
1.2.3.2. Các tiêu thức đánh giá khả năng trúng thầu trong đấu thầu của
doanh nghiệp xây dựng
Về năng lực và kinh nghiệm
Đây là chỉ tiêu xác định điều kiện đầu tiên đảm bảo nhà thầu được tham
gia cạnh tranh đấu thầu trong mỗi dự án (gói thầu). Chỉ tiêu này thể hiện khả
năng hiện có của mỗi một nhà thầu về tổng thể khả năng trên các mặt: Kinh
nghiệm, trình độ nhân lực, khả năng về tài chính với những tiêu chuẩn nhất
định tuỳ theo quy mô, yêu cầu kỹ thuật, tiến độ của từng dự án (gói thầu).
Tiêu chuẩn này được thể hiện qua bảng 2:
Bảng 2: Năng lực và kinh nghiệm của các nhà thầu
11
Tiêu chuẩn
Nhà thầu
Kinh nghiệm (K) Nhân lực (N) Tài chính (T)
NT1 K1 N1 T1
NT2 K2 N2 T2
… … … …
NTn Kn Nhà nước Tn
Trong đó:
- K là tiêu chuẩn kinh nghiệm của nhà thầu: Được đánh giá bằng số năm
kinh nghiệm hoạt động hoặc số lượng các hợp đồng quy mô tương tự đã thực
hiện trong vòng 3 đến 5 năm gần đây với các điều kiện tương tự.
- N là tiêu chuẩn nhân lực của nhà thầu được đánh giá bằng số lượng,
trình độ của cán bộ và công nhân kỹ thuật.
- T là tiêu chuẩn năng lực tài chính của nhà thầu được đánh giá bằng chỉ
thời gian thi công công trình ngắn nhất. Mức độ đảm bảo tổng tiến độ quy
định và sự hợp lý về tiến độ hoàn thành giữa các hạng mục, phân việc công
trình có liên quan.
Về mặt giá:
Chỉ tiêu về giá là một chỉ tiêu kinh tế, có vai trò quan trọng nhất trong
việc quyết định nhà thầu trúng thầu hay không và ảnh hưởng lớn đến hiệu quả
hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.
Các nhà thầu khi xây dựng giá bỏ thầu đều dựa trên cơ sở của định mức
dự toán, đơn giá ca máy, giá vật liệu, chi phí nhân công và các chi phí khác.
Nếu tất cả các nhà thầu đều tính đúng, tính đủ theo chế độ quy định thì sẽ có
giá dự thầu giống nhau (có sai khác phần nào là do phương pháp kỹ năng tính
toán) và điều này sẽ làm mất đi tính cạnh tranh trong đấu thầu. Vấn đề đặt ra
là nhà thầu phải định ra được giá dự thầu thấp hơn, đây chính là khả năng
cạnh tranh về giá của các nhà thầu.
13
Khả năng cạnh tranh về giá của các nhà thầu có thể xác định qua công
thức sau:
KG = (3)
Trong đó:
KG: Là hệ số cạnh tranh về giá của nhà thầu.
GA: Là giá gói thầu (giá dự toán được duyệt)
Gi: Là giá dự thầu của nhà thầu thứ i [(i = n ÷ (n-1)]
Với quy chế đấu thầu hiện nay, nhà thầu thứ j muốn thắng trong cuộc
cạnh tranh về giá phải có:
KGj ≤ KG và KGj < KGi ∀ i [i = 1÷ (n-1)] n: là số nhà thầu dự thầu
điều này cũng đồng nghĩa với:
KGj ≤ KA và KGj < KGi ∀ i [i = 1÷ (n-1)]
Trong thực tế việc xây dựng giá dự thầu để có thể trúng thầu là cực kỳ
quan trọng và phức tạp vì nó liên quan đến nhiều yếu tố bao gồm:
- Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của khu vực thực hiện dự án như
Năng lực tài chính mang tác dụng tích cực đến quá trình đấu thầu. Nó
được xét trên hai phương diện:
- Với những công trình đã thắng thầu, năng lực tài chính mạnh giúp cho
doanh nghiệp hoàn thành nhiệm vụ thi công, đảm bảo công trình có kỹ thuật,
chất lượng tốt, tiến độ thi công đảm bảo tạo uy tín và niềm tin cho chủ đầu tư.
- Trong đấu thầu, khả năng tài chính là một trong những tiêu chuẩn để
đánh giá nhà thầu. Điều quan trọng hơn là một doanh nghiệp với khả năng tài
chính mạnh, cho phép đưa ra quyết định giá bỏ thầu một cách sáng suốt và
hợp lý hơn.
Trong đấu thầu quốc tế, nếu xét trên phương tiện tài chính, các doanh
nghiệp trong nước thường mất ưu thế so với các doanh nghiệp nước ngoài. Vì
vậy, các nhà thầu trong nước thường phải liên doanh với nhà thầu nước ngoài
và kết cục nếu trúng thầu thường là những nhà thầu phụ.
15
1.3.1.2. Máy móc, thiết bị, công nghệ thi công
Máy móc thiết bị là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất trong tài sản cố
định của doanh nghiệp. Nó là thước đo cho trình độ kỹ thuật là thể hiện năng
lực sản xuất hiện có, là nhân tố quan trọng góp phần tăng khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp trong đấu thầu.
Năng lực về máy móc thiết bị được chủ đầu tư đánh giá cao, bởi nó liên
quan nhiều đến chất lượng và tiến độ thi công. Để đánh giá về năng lực máy
móc thiết bị và công nghệ có thể dựa vào các đặc tính sau:
- Tính hiện đại của thiết bị, công nghệ: Biểu hiện ở các thông số như
hãng sản xuất, năm sản xuất, công suất, giá trị còn lại của thiết bị.
- Tính đồng bộ: Thiết bị đồng bộ là điều kiện để đảm bảo sự phù hợp
giữa thiết bị, công nghệ với phương pháp sản xuất; giữa chất lượng, độ phức
tạp của sản phẩm do công nghệ đó sản xuất ra.
- Tính hiệu quả: Thể hiện trình độ sử dụng máy móc thiết bị của doanh
nghiệp, từ đó nó có tác dụng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng
huy động tối đa nguồn lực về máy móc thiết bị sẵn có phục vụ cho mục đích
nghiệm công tác, tác phong làm việc, sự am hiểu về kinh doanh và luật pháp
của từng thành viên trong ê kíp quản lý và hai là, cơ cấu về các chuyên ngành
đào tạo phân theo trình độ sẽ cho biết khả năng chuyên môn hoá cũng như
khả năng đa dạng hoá của doanh nghiệp.
- Cán bộ quản trị cấp cơ sở, công nhân. Đây là đội ngũ các nhà quản trị
ở cấp bậc cuối cùng trong hệ thống cấp bậc của các nhà quản trị của một
doanh nghiệp. Thông thường họ được gọi là đốc công, tổ trưởng, trưởng ca.
Nhiệm vụ của họ là hướng dẫn, đốc thúc, điều khiển công nhân trong các
công việc cụ thể hàng ngày để đưa đến hoàn thành mục tiêu chung của cả
doanh nghiệp. Đội ngũ quản trị này lãnh đạo lực lượng lao động trực tiếp, tạo
nên sức mạnh tổng hợp của doanh nghiệp trên các khía cạnh như chất lượng,
tiến độ thi công công trình.
17
Người phụ trách đơn vị phải có trình độ quản trị (tổ chức điều phối lao
động và thiết bị hợp lý, tránh lãng phí nhằm hạ thấp giá thành, tăng lợi nhuận
nhưng đảm bảo chất lượng), am hiểu sâu về công việc mà đơn vị đang thực
hiện, biết chăm lo quyền lợi người lao động, mới tạo ra được sự ủng hộ, lòng
nhiệt thành từ phía người lao động, mới tạo ra được sự ủng hộ. Tuy nhiên,
lãnh đạo đơ vị giỏi cũng chưa đủ, mà còn cần có đội ngũ lao động với trình độ
tay nghề chuyên sâu, có khả năng sáng tạo, trung thực trong công việc. Họ
chính là những người trực tiếp thực hiện những ý tưởng, chiến lược và chiến
thuật kinh doanh của đội ngũ lãnh đạo cấp trên, những người tạo nên chất
lượng công trình và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.3.1.4. Hoạt động marketing
Chiến lược marketing là một chiến lược bộ phận đóng vai trò quan
trọng trong việc giành ưu thế trong cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp. Sử dụng những chiến lược marketing thích hợp sẽ giúp cho
doanh nghiệp chiếm giữ được vị trí trên thị trường so với các đối thủ cạnh
tranh.
Với mục đích và yêu cầu đã được đề ra, hệ thống marketing phải đảm
đẳng, cùng có lợi.
- Liên kết:
Liên kết có thể thực hiện theo chiều ngang tức là khả năng liên kết của
doanh nghiệp với các doanh nghiệp cùng ngành để đảm nhận các dự án lớn;
liên kết theo chiều dọc tức là liên kết của doanh nghiệp xây dựng với các
doanh nghiệp sản xuất nguyên nhiên vật liệu hoặc trang thiết bị (nhờ đó làm
giảm được giá thành xây dựng ở mức tối đa).
- Liên danh tham gia dự thầu:
Là hình thức các nhà thầu liên kết với nhau thành một nhà thầu để tham
dự thầu. Năng lực của nhà thầu này là năng lực tổng hợp của tất cả các nhà
19
thầu độc lập. Điều này sẽ tăng sức mạnh về tài chính, nhân lực, kỹ thuật đáp
ứng yêu cầu của chủ đầu tư.
- Tập đoàn xây dựng:
Là hình thức liên kết giữa các chủ thể kinh tế, thúc đẩy nâng cao trình
độ tập trung vốn trong ngành xây dựng.
Tập đoàn xây dựng có thể hoạt động trên tất cả các lĩnh vực xây dựng.
Với tiềm năng mạnh mẽ về kinh tế và kỹ thuật, tập đoàn xây dựng có vị trí và
khả năng cạnh tranh lớn trên thị trường xây dựng.
Như vậy, việc mở rộng hình thức liên danh liên kết là một giải pháp
quan trọng nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của các doanh
nghiệp xây dựng. Liên kết kinh tế tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển
chuyên môn hoá một cách có hiệu quả, khai thác được thế mạnh, khắc phục
mặt yếu trong quá trình thực hiện dự án đầu tư.
1.3.1.6. Trình độ tổ chức lập hồ sơ dự thầu
Khả năng cạnh tranh trong đấu thầu phụ thuộc trực tiếp vào trình độ lập
hồ sơ dự thầu. Một nhà thầu có thể bị loại ngay từ vòng đầu do hồ sơ dự thầu
không đảm bảo các yêu cầu của tổ chức mời thầu.
Tổ chức lập hồ sơ dự thầu đòi hỏi phải qua các bước nghiên cứu hồ sơ
mời thầu (công việc này đòi hỏi phải tỷ mỷ, nghiêm túc, hiểu rõ đầy đủ nội
1.3.2.1. Cơ chế chính sách của Nhà nước
Cơ chế chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng ngày càng lớn đến hoạt
động của doanh nghiệp. Tác động trực tiếp đến các vấn đề tín dụng, về chống
độc quyền; về thuế; các chế độ đãi ngộ, hỗ trợ; bảo vệ môi trường v.v.. Các
tác động này có thể tạo ra cơ hội hoặc nguy cơ cho mỗi doanh nghiệp.
Sự ổn định chính trị cũng là một nhân tố thuận lợi làm tăng khả năng
cạnh tranh quốc gia nói chung và của doanh nghiệp nói riêng.
Một trong những bộ phận của yếu tố chính trị ảnh hưởng đến hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp là hệ thống luật pháp. Mức độ ổn định của hành
lang pháp lý tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Ngược lại, doanh
21
nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn khi phải đối diện liên tục với những thay đổi
của pháp luật, làm suy yếu khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.3.2.2. Chủ đầu tư
Chủ đầu tư là cơ quan chịu trách nhiệm toàn diện về các vấn đề liên
quan đến dự án trước pháp luật. Do vậy, chủ đầu tư có ảnh hưởng rất lớn tới
các doanh nghiệp tham gia đấu thầu xây dựng công trình.
Với chủ đầu tư có tinh thần trách nhiệm cao, trình độ chuyên môn
nghiệp vụ tốt tạo nên việc cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu và từ đó chọn
ra nhà thầu trúng thầu là thoả đáng, chính xác, ngược lại dễ tạo nên sự quan
liêu trong đấu thầu.
1.3.2.3. Cơ quan tư vấn
Công tác tư vấn gồm các khâu: Tư vấn thiết kế; tư cấn đấu thầu; tư vấn
giám sát. Các khâu này có thể do một hoặc nhiều tổ chức tư vấn thực hiện.
- Tư vấn thiết kế là tổ chức tư vấn chịu trách nhiệm thiết kế, xác định
giá trị dự toán của công trình. Khi hồ sơ thiết kế thiếu chính xác dẫn đến việc
lập dự toán thiếu chính xác và từ đó dẫn đến khó khăn trong phê duyệt giá gói
thầu công trình.
- Tư vấn đấu thầu giúp chủ đầu tư làm công tác đấu thầu bao gồm các
công việc: Chuẩn bị các tài liệu pháp lý, soạn thảo hồ sơ mời thầu, tiếp nhận
Hiện nay, các doanh nghiệp xây dựng trong nước phải cạnh tranh với
các đối thủ mạnh là các công ty nước ngoài có trình độ phát triển cao. Việc
thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nhằm mục tiêu tăng nguồn vốn,
tranh thủ công nghệ tiên tiến, thâm nhập thị trường và kỹ năng quản lý. Việc
này, một mặt tạo ra sức phát triển mới cho các doanh nghiệp trong nước, mặt
khác làm cho mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng thêm quyết liệt,
phần yếu thế trước mặt thường nghiêng về các doanh nghiệp trong nước, làm
23
giảm cơ hội trúng thấu và giảm mức lợi nhuận của các doanh nghiệp trong
nước.
1.3.2.5. Các nhà cung cấp
Các nhà cung cấp có ảnh hưởng lớn đến việc cung ứng các yếu tố đầu
vào cho quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp. Các tổ chức cung
cấp vật tư, thiết bị có ưu thế có thể gây áp lực với các khách hàng để thu lợi
nhuận bằng cách tăng giá, giảm chất lượng sản phẩm hoặc giảm mức độ dịch
vụ đi kèm.
Các yếu tố làm tăng thế mạnh của người bán - nhà cung cấp như trường
hợp số lượng người cung cấp ít; không có hàng thay thế khác và không có
các nhà cung cấp nào chào bán các sản phẩm có tính khác biệt thì lúc này các
doanh nghiệp mua hàng bị sức ép đáng kể từ nhà cung cấp làm ảnh hưởng đến
khả năng cạnh tranh nếu không có phương án giải quyết tốt.
Giữa các nhà cung cấp và doanh nghiệp thường diễn ra các cuộc thương
lượng về giá cả, chất lượng và thời gian giao hàng. Khả năng thương lượng về
giá cả của các nhà cung cấp tuỳ thuộc vào mức lãi và chất lượng hàng hoá
(hay dịch vụ) mà họ dự định cung ứng cho doanh nghiệp.
Nhà cung cấp có nhiều cách để tác động vào khả năng thu lợi nhuận
của các doanh nghiệp như nâng giá, giảm chất lượng những loại vật tư kỹ
thuật mà họ cung ứng, không đảm bảo đúng tiến độ cung cấp theo yêu cầu
của doanh nghiệp, hoặc gây ra sự khan hiếm giả tạo. Các nhà cung cấp có thể
gây áp lực mạnh khi có những điều kiện sau:
bao gồm các nhà thầu đến từ Châu Âu, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Trung
Quốc… Trong số đó, một số nhà thầu đã chiếm lĩnh và đứng vững tại thị
trường xây dựng Việt Nam như: Taisei, Sumitomo của Nhật Bản; BEC của
HongKong; HIG. Công ty cầu đường Thượng Hải, Trung Quốc…
Các nhà thầu này đã chiến thắng và thực hiện khá tốt, có hiệu quả nhiều
gói thầu có giá trị lớn thuộc các lĩnh vực giao thông, thuỷ lợi, thủy điện.
Trong khi đó các doanh nghiệp Việt Nam do năng lực về tài chính, kinh
25