Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật - Pdf 34

Bài tập học kì modul 2

MỤC LỤC
A- LỜI MỞ ĐẦU
B- NỘI DUNG.
I- Khái quát chung về hợp đồng bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm
dân sự.
1. Hợp đồng bảo hiểm.
2. Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
II- Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
1. Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
2. Hình thức của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự
3. Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
4. Sự kiện bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
5. Giới hạn trách nhiệm bảo hiểm và loại trừ trách nhiệm bảo hiểm.
5.1. Giới hạn trách nhiệm bảo hiểm.
5.2. Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm
6. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
7. Hiệu lực của hợp đồng.
7.1. Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.
7.2. Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm.
III- Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật và một số kiến nghị hoàn
thiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
1. Thực tiễn áp dụng.
2. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.
C- KẾT LUẬN
D- DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

Nguyễn Minh Hải- 341337
21



Nguyễn Minh Hải- 341337
21


Bài tập học kì modul 2

*) Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng song vụ.
*) Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba.
*) Đối tượng bảo hiểm có thể là con người, tài sản, trách nhiệm dân sự hay các đối
tượng khác theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm có thể được phân chia
thành các loại sau: Hợp đồng bảo hiểm con người, hợp đồng bảo hiểm tài sản và
hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
2. Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
*) Khái niệm.
Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là hợp đồng về bảo hiểm trách nhiệm
dân sự hay chính là sự thoả thuận bằng văn bản giữa bên bảo hiểm (doanh nghiệp
bảo hiểm) với bên tham gia bảo hiểm (tổ chức, cá nhân), theo đó doanh nghiệp bảo
hiểm cam kết sẽ thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người thứ ba
thay cho bên được bảo hiểm nếu sự kiện bảo hiểm xảy ra trong thời hạn có hiệu lực
của hợp đồng, còn bên tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự mang những đặc điểm chung của
hợp đồng bảo hiểm, đồng thời có những đặc trưng riêng.
*) Đặc trưng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Thứ nhất, đối tượng trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là trách
nhiệm về bồi thường thiệt hại, là loại bảo hiểm không thể xác định được giá trị đối
tượng bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng. “ Đối tượng của hợp đồng bảo
hiểm trách nhiệm dân sự là trách nhiệm dân sự của người tham gia bảo hiểm đối
với bên thứ ba theo quy định của pháp luật ”. (Điều 52 Luật kinh doanh bảo hiểm).

nhiệm bảo hiểm hoặc không giới hạn trách nhiệm bảo hiểm.
*) Phân loại hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Căn cứ vào tính ý chí của chủ thể tham gia hợp đồng bảo hiểm thì bảo hiểm
trách nhiệm dân sự được chia thành hai loại là hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân
sự bắt buộc và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự tự nguyện.
Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh trách nhiệm, bảo hiểm trách nhiệm dân sự
chia thành hai loại là hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự phát sinh theo hợp
đồng và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự phát sinh ngoài hợp đồng.

Nguyễn Minh Hải- 341337
21


Bài tập học kì modul 2

Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm cụ thể, hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân
sự chia thành các loại là: bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm
trách nhiệm dân sự của chủ tàu, bảo hiểm trách nhiệm của chủ đóng tàu, bảo hiểm
trách nhiệm nghề nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng
không đối với hành khách, bảo hiểm trách nhiệm công cộng, bảo hiểm trách nhiệm
sản phẩm, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ sử dụng lao động đối với người lao
động, bảo hiểm trách nhiệm của chủ nuôi chó, các loại bảo hiểm trách nhiệm khác.
II- Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
1. Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Chủ thể tham gia hợp đồng bảo hiểm gồm: Bên nhận bảo hiểm (bên bán bảo
hiểm) và bên tham gia bảo hiểm (bên mua bảo hiểm).
*) Bên nhận bảo hiểm.
Bên nhận bảo hiểm là bên đã nhận phí bảo hiểm của người tham gia bảo
hiểm và cam kết nhận rủi ro bảo hiểm về phía mình. Theo quy định của pháp luật
về kinh doanh bảo hiểm thì bên nhận bảo hiểm chỉ có thể là một tổ chức có tư cách

đang có hiệu lực. Vì vậy hình thức của hợp đồng bảo hiểm này thường được thiết
kế dưới dạng giấy chứng nhận bảo hiểm.
Ví dụ: Khi điều khiển xe cơ giới nếu không có bằng chứng về hợp đồng bảo hiểm
trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới để xuất trình trước cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thì việc cho xe đó lưu hành là vi phạm.
*) Đơn bảo hiểm.
Đơn bảo hiểm thường là hình thức của hợp đồng bảo hiểm tự nguyện, có thể
có các dạng khác nhau và thường bao gồm nhiều trang. Các thông tin ghi trên đơn
chi tiết, cụ thể tất cả các vấn đề liên quan đến hợp đồng bảo hiểm: tên, địa chỉ của
chủ doanh nghiệp bảo hiểm; bên mua bảo hiểm; đối tượng bảo hiểm; số tiền bảo
hiểm; phạm vi bảo hiểm; điều kiện bảo hiểm; điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo
hiểm; thời hạn bảo hiểm; mức phí và phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi
thường; giải quyết tranh chấp. Đơn bảo hiểm thường kèm theo các phụ lục để chi
tiết hoá các thông tin đặc điểm của từng khách hàng cụ thể, đồng thời giải thích
thuật ngữ trong đơn bảo hiểm. Nội dung đơn bảo hiểm gồm phần mở đầu; phần quy
định về các điều khoản chính; phần quy định về các điều khoản loại trừ; phần quy

Nguyễn Minh Hải- 341337
21


Bài tập học kì modul 2

định về các điều kiện; chữ ký, ghi rõ họ tên của người đại diện cho doanh nghiệp
bảo hiểm.
3. Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự hiểu theo nghĩa chung
nhất là trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người tham gia bảo hiểm. Điều bắt
buộc đối với một người trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại là việc người đó
phải bằng tài sản của mình gánh chịu việc bù đắp những thiệt hại về vật chất và tổn

hiểm là chỉ bảo hiểm rủi ro nên phạm vi bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm chỉ bao
gồm các thiệt hại do hành vi vô ý; do súc vật, cây cối, nhà cửa, công trình xây dựng
gây ra; không bảo hiểm với những thiệt hại do hành vi cố ý gây ra. Vậy đối tượng
của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự chỉ là trách nhiệm về bồi thường thiệt
hại do hành vi vô ý gây ra.
4. Sự kiện bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Các quan hệ bảo hiểm được hình thành từ thời điểm hợp đồng bảo hiểm có
hiệu lực, song bên bảo hiểm chỉ phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm hoặc bồi
thường thiệt hại cho người tham gia bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra. Điều
571BLDS quy định: “ sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thoả
thuận hoặc do pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì bên bảo hiểm phải
trả tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm ”. Theo đó, một sự kiện xảy ra trên thực tế
chỉ được coi là sự kiện bảo hiểm nếu nó là sự kiện khách quan và khi sự kiện đó
xảy ra đã gây thiệt hại, tổn thất thực tế. Mặt khác, bên bảo hiểm chỉ phải trả tiền
bảo hiểm khi tổn thất xảy ra trong phạm vi bảo hiểm đã được các bên thoả thuận
hoặc pháp luật quy định và trong thời hạn có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm đó.
Như vậy, sự kiện xảy ra chỉ được coi là sự kiện bảo hiểm khi có đủ cá yếu tố:
*) Phải là sự kiện khách quan: Yếu tố khách quan đòi hỏi sự kiện bảo hiểm phải là
rủi ro, thiệt hại xảy ra phải là các tai biến bất ngờ mà hoàn toàn không phải do hành
vi cố ý của các bên tham gia cũng không phải là các thiệt hại biết trước xảy ra.
*) Phải trong giới hạn phạm vi bảo hiểm: Theo quy định của luật kinh doanh bảo
hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được tiến hành bảo hiểm với các sản phẩm
bảo hiểm thuộc các dịch vụ bảo hiểm mà doanh nghiệp đó được phép kinh doanh
theo giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn và điều kiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm do

Nguyễn Minh Hải- 341337
21


Bài tập học kì modul 2



Bài tập học kì modul 2

Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm được coi là phần loại trừ trong
hợp đồng bảo hiểm trong đó liệt kê các trường hợp bên bảo hiểm không phải bồi
thường hoặc không phải trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. (Khoản 1
Điều 16 Luật Kinh doanh bảo hiểm). Phần loại trừ này nhằm hạn chế phạm vi
những thiệt hại có thể xảy ra đối với đối tượng được bảo hiểm, đảm bảo hiệu quả
trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Bởi lẽ, nếu bảo hiểm với phạm vi không hạn
chế thì tần suất rủi ro sẽ rất lớn dẫn đến sự kiện bảo hiểm trong một hợp đồng luôn
có thể xảy ra. Thông qua phần loại trừ này, doanh nghiệp bảo hiểm giữ phí bảo
hiểm ở một mức hợp lý vì nếu bảo hiểm với phạm vi không hạn chế mức phí sẽ
phải rất cao, như vậy sẽ hạn chế khả năng tham gia hợp đồng bảo hiểm của những
người có nhu cầu bảo hiểm. Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm thường được
pháp luật quy định tương ứng với từng loại nghiệp vụ bảo hiểm cụ thể, trên cơ sở
đó các doanh nghiệp bảo hiểm cụ thể hoá phần loại trừ trong các hợp đồng bảo
hiểm. Vì vậy nếu trong hợp đồng bảo hiểm mà không xác định điều khoản loại trừ
đã được pháp luật quy định thì bên bảo hiểm vẫn không phải bồi thường đối với các
tổn thất xảy ra trong trường hợp đã được pháp luật loại trừ. Không áp dụng điều
khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong các trường hợp: bên mua bảo hiểm vi
phạm pháp luật do vô ý; bên mua bảo hiểm có lý do chính đáng trong việc chậm
thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm. (Khoản 3
Điều 16 Luật Kinh doanh bảo hiểm).
6. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Quyền của bên bảo hiểm là sự đối lập tương ứng với nghĩa vụ của bên tham
gia bảo hiểm và bên được bảo hiểm và ngược lại.
*) Việc lựa chọn giao kết hợp đồng bảo hiểm.
Bên mua bảo hiểm có quyền lựa chọn mua bảo hiểm ở bất kỳ doanh nghiệp
bảo hiểm nào miễn là doanh nghiệp đó đang tiến hành hoạt động kinh doanh bảo

có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm đầy đủ theo đúng thời hạn và phương thức đã thoả
thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm đầy đủ,
theo đúng thời hạn và phương thức đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm, bởi hợp
đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực kể từ thời điểm người tham gia bảo hiểm đóng phí
bảo hiểm. Tuỳ từng loại sản phẩm bảo hiểm cụ thể mà thời hạn và phương thức nộp

Nguyễn Minh Hải- 341337
21


Bài tập học kì modul 2

phí bảo hiểm được quy định cụ thể hoặc theo thoả thuận của các bên. Bên mua bảo
hiểm phải đóng toàn bộ phí bảo hiểm trong một lần trước khi bên bảo hiểm cấp
giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc hợp đồng bảo hiểm; hoặc phí bảo hiểm được đóng
nhiều lần theo định kỳ thì bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm vào định kỳ
đầu tiên trước khi được cấp giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc hợp đồng bảo hiểm và
phải tiếp tục đóng phí của các kỳ sau theo đúng định kỳ.
Trong hợp đồng bảo hiểm thì phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều
khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm là các yếu tố để xác định phí bảo hiểm và theo
đó xác định số tiền bảo hiểm. Phí bảo hiểm là lợi ích mà các bên tham gia hợp đồng
bảo hiểm hướng tới khi giao kết một hợp đồng bảo hiểm. Phí bảo hiểm được tính
toán dựa trên nhiều yếu tố khác nhau, song nguồn tài chính thu được từ phí bảo
hiểm theo mức đã được tính toán tối thiểu phải có dư sau khi đã chi phí cho các
hoạt động kinh doanh bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm. Phí bảo hiểm là khung
giá định cho một sản phẩm bảo hiểm nhất định. Trong hợp đồng bảo hiểm trách
nhiệm dân sự thì phí bảo hiểm được xác định theo mức trách nhiệm mà pháp luật
quy định. Đối với mỗi loại sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm dân sự khác nhau, phí
bảo hiểm được xác định trên những căn cứ khác nhau xuất phát từ những cơ sở để
xác định trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm. Ví dụ: Phí bảo hiểm trong hợp

định chính xác về thiệt hại để làm cơ sở cho việc xét bồi thường. Nếu doanh nghiệp
bảo hiểm chậm trả tiền bảo hiểm so với thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng hoặc
pháp luật đã quy định thì bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo
hiểm trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định
tại thời điểm trả tiền tương ứng với thời gian chậm trả.
*) Chuyển yêu cầu bồi hoàn.
Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn số tiền bảo
hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thường cho người được bảo hiểm do người
thứ ba gây ra đối với tài sản và trách nhiệm dân sự. Trong hợp đồng bảo hiểm trách
nhiệm dân sự, bên bảo hiểm phải bồi thường cho bên mua bảo hiểm hoặc trực tiếp
trả lời cho người thứ ba theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm thiệt hại mà bên mua
bảo hiểm gây ra cho người thứ ba theo quy định của pháp luật. Người thứ ba trong
trường hợp này không phải là chủ thể của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự

Nguyễn Minh Hải- 341337
21


Bài tập học kì modul 2

nhưng là chủ thể của quan hệ nghĩa vụ bảo hiểm. Khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra
thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm, người thứ ba là bên có quyền được hưởng
việc bồi thường theo mức đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm giữa bên mua
bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm. Trong trường hợp thiệt hại xảy ra không hoàn
toàn do lỗi của bên mua bảo hiểm hoặc thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của chủ thể
khác thì người mua bảo hiểm phải chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn cho doanh
nghiệp bảo hiểm. Trong trường hợp người khác cùng có lỗi gây thiệt hại cho người
thứ ba và doanh nghiệp bảo hiểm đã trả tiền bồi thường cho người tham gia bảo
hiểm thì người tham gia bảo hiểm phải chuyển quyền yêu cầu người đó bồi hoàn
khoản tiền mà mình đã nhận bồi thường cho doanh nghiệp bảo hiểm.

phí bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp
đồng bảo hiểm, nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo
hiểm.
7. Hiệu lực của hợp đồng.
7.1. Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.
Luật kinh doanh bảo hiểm không quy định cụ thể các điều kiện có hiệu lực
của hợp đồng bảo hiểm nói chung cũng như hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự
nói riêng. Song tại Điều 12 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định: Những vấn đề liên
quan đến hợp đồng bảo hiểm mà không được Luật kinh doanh bảo hiểm quy định
thì được áp dụng theo quy định của BLDS và các quy định khác của pháp luật có
liên quan. Nên hợp đồng bảo hiểm được coi là có hiệu lực phải đáp ứng đủ các điều
kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự được quy định tại điều 122 BLDS: người
tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung của giao dịch
không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; người tham gia
giao dịch hoàn toàn tự nguyện; hình thức là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân
sự nếu pháp luật có quy định.
7.2. Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm.
* Thời điểm bắt đầu: Theo Điều 405 BLDS thì thời điểm có hiệu lực của hợp
đồng dân sự là từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp
luật có quy định khác. Hiện chưa có quy định riêng của pháp luật về thời điểm có
hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nên đối với các hợp đồng bảo hiểm mà các bên

Nguyễn Minh Hải- 341337
21


Bài tập học kì modul 2

không có thoả thuận khác về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thì thời điểm có
hiệu lực được xác định theo thời điểm giao kết. Hợp đồng bảo hiểm bắt buộc phải

Bài tập học kì modul 2

được bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thể chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm theo
thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm chỉ
có hiệu lực trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo bằng văn bản cho doanh
nghiệp bảo hiểm về việc chuyển nhượng và doanh nghiệp bảo hiểm có văn bản
chấp thuận việc chuyển nhượng đó, trừ trường hợp việc chuyển nhượng được thực
hiện theo tập quán quốc tế.
Ngoài ra, hợp đồng bảo hiểm chấm dứt khi bị huỷ bỏ.
III- Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật và một số kiến nghị hoàn
thiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
1. Thực tiễn áp dụng.
*) Về hành vi lừa dối trong Luật kinh doanh bảo hiểm:
Hành vi lừa dối trong giao kết hợp đồng là một trong những nguyên nhân
trực tiếp làm ảnh hưởng đến tính hiệu lực của hợp đồng nói chung và hợp đồng bảo
hiểm nói riêng. Luật kinh doanh bảo hiểm khác với BLDS, cùng là hành vi lừa dối
nhưng Luật kinh doanh bảo hiểm lại quy định hai hậu quả pháp lí khác nhau. Cụ
thể, nếu là hành vi cố ý cung cấp thông tin sai sự thật của người mua bảo hiểm thì
sẽ áp dụng khoản 2 Điều 19 Luật kinh doanh bảo hiểm “ Doanh nghiệp bảo hiểm
có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm
đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm”, còn nếu là hành vi lừa dối
khác thì áp dụng Điều 22 Luật kinh doanh bảo hiểm,theo đó, hợp đồng bảo hiểm vô
hiệu hay hợp đồng không có hiệu lực ngay từ thời điểm giao kết và các bên phải
hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Vấn đề đặt ra là đối với hành vi cố ý cung cấp
thông tin sai sự thật để bảo vệ cho bên bị lừa dối thì không thể áp dụng hợp đồng
vô hiệu. Bởi nếu áp dụng quy định này sẽ tạo điều kiện cho người mua bảo hiểm
cung cấp thông tin sai sự thật khi giao kết hợp đồng để được nhận tiền bảo hiểm
hoặc bồi thường thiệt hịa vì trong trường hợp xấu nhất hợp đồng bị tuyên là vô hiệu
nhưng người mua cũng chẳng mất gì.Như vậy, mục đích bảo vệ người bị lừa dối


hiểm chỉ bị phạt từ một đến năm triệu hoặc chỉ phạt từ năm đến mười triệu đối với
những hành vi đồng lõa với đối tượng trục lợi, Bộ luật hình sự chưa có quy định cụ

Nguyễn Minh Hải- 341337
21


Bài tập học kì modul 2

thể về tội trục lợi bảo hiểm...Chính vì hành lang pháp lí chưa đầy đủ nên nhiều vụ
trục lợi bảo hiểm chưa được điều tra và xét xử nghiêm khắc.
*) Đối với bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới: Sự ra đời của nghiệp
vụ bảo hiểm xe cơ giới góp phần khắc phục một phần hậu quả do tai nạn giao thông
gây ra, giúp cho chủ xe cơ giới cũng như người bị tai nạn nhanh chóng ổn định
cuộc sống và hoạt động kinh doanh.Vai trò của bảo hiểm xe cơ giới không chỉ dừng
lại ở việc bồi thường tổn thất, khắc phục hậu quả tai nạn mà còn được thể hiện rất
rõ trong việc đề phòng, hạn chế tổn thất, giảm thiểu tai nạn giao thông. Song số
lượng chủ xe cơ giới tham gia bảo hiểm bắt buộc của chủ xe cơ giới còn thấp, thiếu
tự giác, đa số mua là để đối phó với xử phạt của công an. Một số chủ xe ô tô mua
bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đề đăng kiểm xong rồi đề nghị hủy
hợp đồng, phần lớn các doanh nghiệp hiện nay chỉ cung cấp dịch vụ bảo hiểm của
mình cho các chủ xe mới mua xe vì họ cần bảo hiểm để đăng kí xe, các xe đã lưu
hành thì rất khó cung cấp được dịch vụ bảo hiểm cho họ vì chủ xe không thấy tác
dụng của việc mua bảo hiểm mặc dù bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ
giới đã giúp nhiều người thoát khỏi việc truy cứu trách nhiệm tài chính...
2. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.
*) Đối với hành vi lừa dối: Nhà làm luật cần nhanh chóng đưa ra văn bản hướng
dẫn về việc áp dụng khoản 2 Điều 19 và Điều 22 Luật kinh doanh bảo hiểm. Cụ
thể, cần phải hiểu hành vi lừa dối theo điểm a khoản 2 Điều 19( cố ý cung cấp
thông tin sai sự thật của người mau bảo hiểm) là một hành vi lừa dối cụ thể còn

nhận, xác định tổn thất và giải quyết bồi thường hơn nữa. Các trường hợp trục lợi
bảo hiểm bị phát hiện cần kiên quyết xử lí.
Tại khoản 1 Mục 1.3 và khoản 2 mục 2.2 Điều 9 Quy tắc ban hành kèm theo
Quyết định số 23/ 2007/ QĐ- BTC quy định: “Trường hợp chủ xe cơ giới tham gia
nhiều hợp đồng bảo hiểm cho cúng một xe cơ giới thì mức bồi thường thiệt hại về
người sẽ là tổng mức bồi thường thiệt hại về người của từng hợp đồng bảo hiểm.
Tổng mức bồi thường của các hợp đồng không được vượt quá số tiền thực tế chủ xe
phả bồi thường cho nạn nhân và được chia đều cho các hợp đồng bảo hiểm”. Theo

Nguyễn Minh Hải- 341337
21


Bài tập học kì modul 2

quy định này thì doanh nghiệp bảo hiểm nào có trách nhiệm bồi thường và việc
chia đều như quy định trên có hợp lí không?
“ Trường hợp chủ xe cơ giới tham gia nhiều hợp đồng bảo hiểm cho cùng
một xe cơ giới thì số tiền bồi thường chỉ được tính trên một hợp đồng bảo hiểm.
Doanh nghiệp bảo hiểm cấp hợp đồng bảo hiểm đầu tiên có trách nhiệm giải quyết
bồi thường chia đều cho các doanh nghiêp bảo hiểm”. Quy định này có tính khả thi
không?Bởi doanh nghiệp bảo hiểm đầu tiên sau khi đã giải quyết bồi thường thì căn
cứ vào đâu để “ thu hồi” và vì sao lại “ chia đều” trong khi doanh nghiệp bảo hiểm
thu phí bảo hiểm ở mỗi hợp đồng khác nhau. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi
cho chủ xe cơ giới tham gia bảo hiểm cho xe của mình ở nhiều doanh nghiệp bảo
hiểm để trục lợi bảo hiểm. Để nâng cao trách nhiệm của chủ xe cơ giới nên quy
định doanh nghiệp đầu tiên cấp giấy chứng nhận bảo hiểm phải bồi thường, các
doanh nghiệp khác không phải bồi thường cũng không phải hoàn trả phí.
*) Ngoài ra, cần quy định mở rộng các loại sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm dân sự
đáp ứng xu thế phát triển của xã hội.


Nguyễn Minh Hải- 341337
21


Bài tập học kì modul 2

Nguyễn Minh Hải- 341337
21


Bài tập học kì modul 2

C- KẾT LUẬN.
Hợp đồng bảo hiểm là một loại hợp đồng dân sự thông dụng. Trong điều kiện hiện
nay, khi mà chất lượng cuộc sống tốt hơn thì mỗi chủ thể ngày càng quan tâm tới
những vấn đề về tính mạng, sức khoẻ, tài sản, trách nhiệm dân sự… của mình. Và
để có thể yên tâm hơn, tránh được những rủi ro không ngờ đến thì họ đã chọn cho

Nguyễn Minh Hải- 341337
21


Bài tập học kì modul 2

mình giải pháp là hợp đồng bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm có đối tượng là trách
nhiệm dân sự là một loại bảo hiểm trách nhiệm phổ biến trong đời sống xã hội. Bảo
hiểm trách nhiệm dân sự là một cơ chế bảo đảm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục
kịp thời những tổn thất do bên mua bảo hiểm gây ra cho bên thứ ba. Với ý nghĩa
đó, dù không khắc phục được hoàn toàn tổn thất xảy ra, song bảo hiểm trách nhiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status