Pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng và
giải pháp hoàn thiện.
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP LỚN HỌC KÌ
Môn: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Bài tập: Pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng và giải pháp hoàn thiện.
Họ và tên
1
Pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng và
giải pháp hoàn thiện.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………3
NỘI DUNG …………………………………………………………………….3
A/ Pháp luật hiện hành điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ và chồng ………..3
I/ Quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất …3
II/ Quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản riêng …………………………10
B/ Hạn chế của một số quy định về tài sản giữa vợ chồng của pháp luật …...12
C/ Giải pháp hoàn thiện ………………………………………………………..14
KẾT LUẬN ……………………………………………………………………17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
3
Pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng và
giải pháp hoàn thiện.
2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định
phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả
vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh
chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.”
Và theo điều 219 của Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về Sở hữu chung của vợ
chồng:
1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.
2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi
người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
3. Vợ chồng cùng bàn bạc, thoả thuận hoặc uỷ quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt tài sản chung.
4. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thoả thuận hoặc theo quyết định
của Toà án.
Tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia.
Tính chất của quan hệ hôn nhân là cùng chung ý chí, cùng chung công sức trong việc tạo
nên khối tài sản chung nhằm xây dựng gia đình, bảo đảm cho gia đình thực hiện tốt các
chức năng xã hội của nó như: Phát triển kinh tế gia đình vững mạnh, tạo điều kiện tốt cho
việc nuôi dạy con, do vậy, bình thường chúng ta trong khối tài sản chung hợp nhất, chỉ
khi nào có sự phân chia tài sản chung thì vợ chồng mới xác định được tài sản của từng
người trong khối tài sản chung đó. Tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, do
vợ, chồng tạo ra bằng công sức của mỗi người từ khi họ kết hôn cho đến khi hôn nhân
chấm dứt và những tài sản khác do vợ chồng thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định. Cơ
sở pháp lý để xác định những tài sản phải đăng kí quyền sở hữu là tài sản chung của vợ
chồng chính là giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản có ghi tên của cả vợ và chồng. Một
đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng
nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình.” Vợ, chồng sử dụng tài sản chung của vợ chồng
đương nhiên được coi là có sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng.
5
Pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng và
giải pháp hoàn thiện.
Trường hợp vợ chồng sống các xa nhau vì lý do chính đáng không ảnh hưởng đến các
quyền và nghĩa vụ của họ đối với tài sản chung hợp nhất.
Như vậy, kể từ sau khi kết hôn, những tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập hợp pháp
của vợ chồng, tài sản mà vợ chồng mua sắm được từ những thu nhập hợp pháp đều thuộc
sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng mà không phụ thuộc vào công sức đóng góp của vợ,
chồng nhiều hay ít, có lao động trực tiếp hay không. Pháp luật còn quy định các quyền và
nghĩa vụ của vợ, chồng đối với khối tài sản chung và mục đích của việc sử dụng tài sản
chung là nhằm đáp ứng nhu cầu chung của gia đình, đảm bảo cho vợ chồng cùng nhau
xây dựng gia đình và lao động tạo ra vì lợi ích chung của gia đình.
b. Đăng kí quyền sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng.
Đăng kí quyền sở hữu của vợ chồng liên quan đến các loại tài sản có giá trị lớn là rất
cần thiết nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của vợ chồng đối với các tài sản đó. Thông qua
việc đăng kí, Nhà nước bằng pháp luật công nhận và bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp của
vợ chồng đối với các tài sản trong khối tài sản chung của vợ chồng, mặt khác, điều chỉnh
được các hành vi xử sự của vợ chồng, của những người khác khi kí kết các hợp đồng liên
quan trực tiếp đến tài sản chung của vợ chồng và còn là căn cứ pháp lý để giải quyết các
vấn đề tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng với nhau và liên quan đến quyền và lợi ích
hợp pháp của những chủ thể khác khi quyền lợi của họ được đảm bảo trực tiếp từ tài sản
chung của vợ chồng. Việc đăng kí được quy định tại khoản 2 Điều 27 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2000 quy định: “2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ
chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền
sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.”
không quy định cụ thể phương thức chia tài sản mà chỉ quy định vợ chồng có thể thỏa
thuận chia tài sản chung, nếu thỏa thuận thành công thì được lập thành văn bản và việc
phân chia tài sản được pháp luật công nhận; nếu vợ chồng không thỏa thuận được thì có
quyền yêu cầu tòa án giải quyết. Ngoài ra luật cũng dự liệu trường hợp vợ chồng lạm
dụng quyền của mình trong việc chia tài sản chung có thể gây hậu quả xấu, xâm phạm
đến lợi ích hợp pháp khác được pháp luật bảo vệ (khoản 2 Điều 29 Luật hôn nhân và gia
7
Pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng và
giải pháp hoàn thiện.
đình năm 2000). Chia tài sản trong thời kì hôn nhân là trường hợp đặc biệt. Vợ chồng có
thể thỏa thuận hoặc yêu cầu tòa án chia toàn bộ hoặc chia một phần tài sản chung. Nếu
chia toàn bộ tài sản chung thì phần tài sản của mỗi người sau khi chia hoa lợi, lợi tức phát
sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người. Nếu chia một phần tài sản
trong khối tài sản chung thì chỉ có một phần tài sản được chia và hoa lợi, lợi tức phát sinh
từ số tài sản được chia mới là tài sản riêng của mỗi người; phần tài sản chung còn lại
không chia vẫn thuộc khối tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng trong thời kì hôn
nhân. Việc chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân còn đang tồn tại không phải là
gián tiếp quy định chế định ly thân. Pháp luật chỉ cho phép chia tài sản chung của vợ
chồng khi hôn nhân tồn tại trong trường hợp thật sự cần thiết vì lợi ích của gia đình, của
các đương sự hoặc của người thứ ba. Nếu áp dụng việc chia tài sản khi hôn nhân đang tồn
một cách rộng rãi dễ phá vỡ thể chế gia đình, ảnh hưởng không tốt tới tình cộng đồng
trong quan hệ hôn nhân.
b. Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
Chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn là trường hợp thường gặp, sau khi tòa án giải
quyết cho vợ chồng ly hôn, tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng sẽ được cho phép tự
thỏa thuận với nhau. Trường hợp không thảo thuận được thì Tòa án sẽ điều tra về quan hệ
tài sản của vợ chồng, xác định đâu là tài sản riêng của mỗi bên, những tài sản nào thuộc
khối tài sản chung, xác định nguồn gốc, giá trị, số lượng… sau đó, Toà áp dụng các quy
cần phải chia di sản của người vợ, chồng đã chết theo yêu cầu của những người thừa kế
di sản chung của vợ, chồng sẽ được chia đôi; phần tài sản của người vợ, chồng đã chết
được chia cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế.
II/ Quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản riêng.
1. Căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ, chồng.
Quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản riêng được pháp luật quy định tại Điều 32
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: “
1. Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng.
9
Pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng và
giải pháp hoàn thiện.
Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài
sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia
riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ
dùng, tư trang cá nhân.
2. Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản
chung.”
Vợ chồng có quyền có tài sản riêng và xác định rõ nguồn gốc phát sinh tài sản riêng.
Chỉ những tài sản mà vợ hoặc chồng có từ trước khi kêt hôn, tài sản mà vợ hoặc chồng
được thừa kế, tặng cho riêng trong thời kì hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được chia từ
khối tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân và nhưng hoa lợi, lợi tức phát
sinh từ tài sản đó đồ dùng,tư trang cá nhân mới được coi là tài sản riêng của vợ hoặc
chồng. Quy định vợ chồng có tài sản riêng là phù hợp với chế định quyền sở hữu riêng về
tài sản của công dân đã được hiến pháp thừa nhận; phù hợp với nguyên tắc tự định đoạt
về tài sản của công dân, đồng thời quy định vợ, chồng có quyền có tài sản riêng còn
nhằm bảo đảm cho vợ, chồng có thể thực hiện các nghĩa vụ về tài sản một cách độc lập,
không phụ thuộc vào ý chí của bên kia.
2. Quyền của vợ, chồng đối với tài sản riêng.
tán, phá tán hoặc làm hư hỏng, mất mát di sản; các khoản nợ phát sinh khi thực hiện các
nghĩa vụ về tài sản gắn liền với nhân thân; nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện liên đới với
các thành viên trong gia đình theo quy định của pháp luật; nghĩa vụ bồi thường khoản
tiền cấp dưỡng mà vợ, chồng là người được quản lí nhưng đã làm tiêu tán hoặc sử dụng
không đúng mục đích; nghĩa vụ trả các khoản nợ phát sinh dựa trên cơ sở vợ,chồng đã có
hành vi tự mình tiến hành các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn;
trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hành vi trái pháp luật của vợ chồng.
B/ Hạn chế của một số quy định về tài sản giữa vợ chồng của pháp luật.
Mặc dù pháp luật đã có quy định rất rõ ràng về vấn đề tài sản của vợ chồng tuy
nhiên bên cạnh đó thực tế vẫn xảy ra nhiều các vấn đề gây tranh cãi và là mặt hạn chế
không đáng có.
11
Pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng và
giải pháp hoàn thiện.
Trong xã hội còn xảy ra rất nhiều tình trạng nam nữ sống chung với nhau như vợ
chồng, mới chỉ tổ chức lễ cưới theo tập quán, mà chưa đăng kí kết hôn theo quy định của
pháp luật, nên khi có mâu thuẫn và có tranh chấp về tài sản thì rất khó khăn trong việc
xác định và phân chia tài sản.
Đối với trường hợp vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết mà sau này vì lý do
nào đó họ lại trở về (chưa chết), thì việc xác định tài sản chung của vợ chồng rất phức tạp
vì pháp luật dân sự và HN&GĐ của Nhà nước ta chưa có dự liệu về vấn đề này. Pháp luật
HN&GĐ chỉ mới đề cập về quan hệ nhân thân giữa vợ, chồng khi một bên vợ, chồng bị
tuyên bố chết mà lại trở về, còn quan hệ pháp luật về tài sản thì chưa dự liệu cụ thể. Vấn
đề đặt ra là người vợ hoặc chồng trở về người kia chưa kết hôn, quan hệ hôn nhân của họ
được khôi phục tuy nhiên tài sản chung của vợ, chồng đã được chia, phần tài sản của
người vợ, chồng trong khối tài sản chung đã chia cho những người thừa kế của người đó.
Vậy quan hệ tài sản (gồm khối tài sản chung của vợ chồng) có đương nhiên được khôi
Các tranh chấp giữa vợ chồng về đồ dùng tư trang cá nhân rất phức tạp. Theo luật
quy định các đồ dùng và tư trang cá nhân là tài sản riêng của vợ, chồng nhằm đảm bảo
quyền tự do cá nhân và cuộc sống riêng tư của vợ, chồng. Tuy nhiên, kể từ khi Luật, các
văn bản hướng dẫn áp dụng và thi hành của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa
giải thích và hướng dẫn cụ thể quy định này. Trong học lý và thực tiễn áp dụng có rất
nhiều quan điểm khác nhau. Vậy để hiểu thống nhất ta nên hiểu như thế nào là đồ dùng,
tư trang cá nhân là tài sản riêng của vợ, chồng?
Luật hôn nhân và gia đình đã phát triển cao hơn, đáp ứng được những nhu cầu cần
thiết (chế độ tài sản của vợ chồng là một trong những chế định của Luật hôn nhân gia
đình phản ánh rõ nét nhất vần đề này). Tuy nhiên, trên thực tế chưa đi vào đời sống xã
hội. Nguyên nhân cơ bản nhất không phải do thiếu các quy định pháp luật, hay các quy
định pháp luật chưa cụ thể mà là do còn quá nhiều hạn chế trong công tác tổ chức và áp
dụng luật hôn nhân và gia đình.
Các mặt hạn chế là những tồn tại không đáng có, đòi hỏi các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền nghiên cứu và đưa ra những hướng dẫn, giải pháp cụ thể đề việc áp dụng luật
vào thực tiễn được gần gũi, dễ dàng hơn.
13
Pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng và
giải pháp hoàn thiện.
C/ Giải pháp hoàn thiện.
1. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng.
a. Đối với tài sản chung của vợ chồng.
Xác định tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ, chồng bị Tòa án tuyên
bố chết, mà sau đó lại trở về ( Điều 26 Luật HN&GĐ năm 2000; Điều 83 Bộ luật Dân sự
năm 2005). Theo yêu cầu của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết mà lại trở về, những
người đã được chia di sản thừa kế của người đó phải trả lại những tài sản, giá trị tài sản
hiện có; nếu cố tình giấu giếm nhằm hưởng thừa kế thì người đó phải hoàn trả toàn bộ tài
sản đã nhận, kể cả hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản đó, nếu gây thiệt hại phải bồi
chồng tự thỏa thuận nhưng phải được Tòa án công nhận hoặc được công chứng, chứng
thực theo quy định của pháp luật nhằm hạn chế hành vi của vợ chồng lợi dụng việc phân
chia tài sản để tẩu tán tài sản và trốn tránh nghĩa vụ tài sản với người khác. Sau khi chia
tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân thì chế độ tài sản chung của vợ chồng
phải được coi là chấm dứt. Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân không
làm chấm dứt quan hệ của vợ chồng trước pháp luật. Việc khôi phục lại các tài sản chung
sau khi đã chia tài sản là khôi phục căn cứ pháp lý xác lập tài sản chung của vợ chồng.
Khi khôi phục chế độ tài sản chung cần phải có cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác
nhận, nên được ghi chú bên lề giấy chứng nhận kết hôn và giấy khai sinh của vợ chồng.
Bởi lẽ, vấn đề này liên quan trực tiếp đến quyền lợi của những người khác khi ký kết các
hợp đồng liên quan đến tài sản của vợ chồng và lợi ích của gia đình.
b. Đối với tài sản riêng của vợ, chồng.
Về căn cứ, nguồn gốc xác lập tài sản riêng của vợ, chồng:
Đối với căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ, chồng còn bao gồm những tài sản mà
vợ chồng thỏa thuận là tài sản riêng của một bên; trừ trường hợp sự thỏa thuận có căn cứ
rõ ràng nhằm tẩu tán tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng đối với người
khác. Đối với những tài sản mà vợ, chồng được hưởng do cùng hàng thừa kế theo pháp
luật, về nguyên tắc thuộc tài sản riêng của vợ, chồng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có
thỏa thuận.
Cần quy định cụ thể nguồn gốc tài sản là đồ dùng tư trang cá nhân bao gồm những
gì thuộc tài sản riêng của vợ, chồng. Đề khi có tranh chấp về loại tài sản này theo từng
15
Pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng và
giải pháp hoàn thiện.
trường hợp cụ thể mà xem xét đồ dùng, tư trang cá nhân có nguồn gốc và giá trị như thế
nào so với khối tài sản chung và mức thu nhập thực tế của vợ chồng để xác định chính
xác và hợp lý tài sản riêng của vợ chồng. Với đồ nữ trang mà cha mẹ cho con trong ngày
cưới thì cần phải xác định theo nguyên tắc: nếu cha mẹ tuyên bố cho riêng thì được coi là
Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005.
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
17
Pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng và
giải pháp hoàn thiện.
Trường đại học Luật Hà Nội, giáo trình luật hôn nhân và gia đình Việt Nam,
Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2009.
Ts. Nguyễn văn Cừ, Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và
gia đình Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2008.
18