LỜI MỞ ĐẦU
Sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, Những thành tựu mới
của công nghiệp hóa, cơ giới đã làm thế giới càng văn minh và hiện đại hơn.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy nó kéo theo sự gia tăng các tai nạn mang tính
khách quan nhiều khi nằm ngoài sự chi phối của con người, đe dọa đến tính
mạng, sức khỏe, tài sản… của các chủ thể xã hội. Ó những sự vật như máy
móc, phương tiện, hệ thống điện, dây truyền sản xuất nhà máy… bản than
hoạt động của nó luôn tiềm ản khả năng gây thiệt hại cho moi trường xung
quanh. Mặc dù con người luôn kiểm soát, vận hành một cách an toàn nhưng
thiệt hại vẫn xảy ra nằm ngoài sự kiểm soát đó. để giải quyết các vấn đề này
pháp luật đã đưa ra cách giải quyết là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra được quy định tại Điều 623 BLDS.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.
Khái niệm về nguồn nguy hiểm cao độ.
Theo điều 623 BLDS quy định “ Nguồn nguy hiển cao độ bao gồm phương
tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống điện tải, nhà máy công nghiệp đang
hoạt động, vũ khí, chất nổ, cháy cháy, chất độc, chất phóng xạ, nguồn nguy
hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.”
- Phương tiện giao thông vận tải cơ giới: Theo khản 8 Điều 3 Luật giao
thông đường bộ 2008 ( có hiệu lực từ ngày 1/7/2009) quy định: “ Phương
tiện giao thông cơ giới đường bộ ( sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô, xe
kéo, rơ mooc hoặc sơ mi rơ mooc được kéo bởi xe ô tô, xe kéo, xe mô tô hai
bánh, xe mô tô ba bánh, xe gán máy( kể cả xe máy điện) và các loại xe
tương tự.” Tuy nhiên phương tiện giao thông cơ giới không chỉ giới hạn ở
đường bộ còn có thể có phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường sắt
như đầu máy toa xe, toa động lực…, phương tiện giao thông cơ giới đường
thủy như tàu biển và phương tiện giao thông cơ giới hàng không như máy
bay, trực thăng, tàu lượn…
- Hệ thống điện tải được hiểu là dây truyền dẫn điện, mô tơ, máy phát
điện, cầu dao…; nhà máy công nghiệp như nhà máy công nghiệp nặng, nhà
Thiệt hại được hiểu là sự giảm bớt những lợi ích vật chất của con người,
tài sản xác định trên thực tế và những thiệt hại chắc chắn xảy ra. Theo Hiến
pháp năm 1992 đã ghi nhận tất cả các quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể,
mọi công dân được pháp luật bảo hộ. Có thiệt hại xảy ra: Cũng giống như
trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại
trong những trường hợp riêng biệt nói riêng, thiệt hại được coi là điều kiện
tiền đề, điều kiện cơ sở để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Nếu
không có thiệt hại thì không bao giờ phát sinh trách nhiệm bồi thường.
II.
Thiệt hại liên quan quan đến các loại nguồn nguy hiểm rất đa dạng và do
nhiều nguyên nhân khác nhau. Tuy nhiên chỉ áp dụng trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra phải thỏa mản 2 dấu
hiệu:
Thứ nhất: Những sự vật được coi là nguồn nguy hiểm cao độ phải đang
trong tình trạng vận hành, hoạt động như: phương tiện giao thông, vận tải
đang tham gia giao thông bên đường; cháy, chập hệ thống tải điện; máy
công nghiệp đang hoạt động…
Trường hợp thiệt hại xảy ra khi nguồn cao độ đang ở trạng thái tĩnh
-không hoạt động thì không thể coi là thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra. Ví dụ: Xe ô tô đang dừng trên đỉnh dốc gât thiệt hại, cột điện bị đổ
trong lúc thi công chưa có điện…
Thứ hai: Thiệt hại phải do chính bản thân nguồn nguy hiểm cao độ hoạt
động nội tại của nguồn nguy hiểm gây ra.
Tuy nhiên không phải mọi thiệt hại do vật gây ra đều có sự tác động của
con người. Nhiều trường hợp hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ nằm
ngoài sự kiểm soát chế ngự của con người và tự thân nguồn nguy hiểm gây
ra. Thiệt hại phải do chính nguồn nguy hiểm cao độ gây ra: Điều 623 liệt kê
Sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật không phải là hành vi trái pháp luật hay
xử sự rái pháp luật của con người có hành vi mà sự gây thiệt hại không cho
phép làm cho người khác bị thương, gây thiệt hại cho tài sản cho người
khác.
Pháp luật bảo vệ những quyền và lợi ích chính đáng của chủ thể trong
quan hệ pháp luật. Việc gây thiệt hại trái pháp luật là những thiệt hại do hoạt
động của nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, pháp luật không cho phép. Những
thiệt hại về tài sản của tổ chức, của nhà nước, cá nhân; những thiệt hại về
quyền lợi, sức khỏe, tính mạng của cá nhân là nhóm khách thể được pháp
luật bảo vệ bất khả xâm phạm. Những thiệt hại về những quyền lợi, lợi ích
chính đáng của chủ thể trong xã hội do chính sự hoạt động của nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ
sở hữu nguồn cao độ.
Có những trường hợp do đặc tính của nguồn nguy hiểm cao độ mà việc
gây thiệt hại của nhưng phương tiện không bị coi là trái pháp luật. Ví dụ: Để
đảm bảo an toàn giao thông đường sắt những thiệt hại trên đường sắt do tàu
hỏa gây ra cho các chủ thể khác không bị coi là trái pháp luật và ngành
đường sắt không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là
một loại trách nhiệm pháp lý đặc biệt không cần điều kiện lỗi. Bởi vì, những
phương tiện cơ giới và những hoạt động của phương tiện đó theo tính chất
đã luôn luôn chứa đựng những yếu tố là những nguy cơ có thể gây thiệt hại
bất ngờ và đột ngột cho con người, do vậy pháp luật đã quy định cho những
sự kiện bất ngờ và đột ngột đó những hậu quả pháp lý và biện pháp giải
quyết hậu quả, nhằm bảo đảm các quyền, lợi ích chính đáng cho các chủ thể
và nâng cao trách nhiệm của chủ sở hữu hoặc người sử dụng hợp pháp tài
sản được xã định là nguồn nguy hiểm cao độ.
3.
Nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại do người xung quanh.
bất ngờ tấn công người đến xem, người tham quan… Như vậy, mối quan hệ
nhân quả giữa sự hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ và thiệt hại là căn
cứ để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu nguồn nguy
hiểm cao độ. Việc xác định này có ý nghĩa quan trọng vì nó là bằng chứng
để xác định có hay không có trách nhiệm dân sự của chủ sở hữu nguồn nguy
hiểm cao độ . Trong trường hợp chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ mà có
lỗi trong việc sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ mà có lỗi trong việc sử dụng
nguồn nguy hiểm cao độ đã gây ra cho người khác, thì trách nhiệm bồi
thường thiệt hại về dân sự, người chủ sở hữu của nguồn nguy hiểm cao độ
hoặc người có lỗi trong việc sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ mà gây thiệt
hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm hình sự.
Như vậy, thiệt hại xảy ra thì phát sinh trách nhiệm bồi thường, tuy nhiên
để có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra thì thiệt hại xảy ra phải trực tiếp do bản thân nguồn nguy hiểm cao
độ gây thiệt hại. Điều kiện hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là
nguyên nhân tất yếu, nguyên nhân có ý nghĩa quyết định dẫn đến thiệt hại và
thiệt hại xảy ra là kết quả hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Khi
xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại điểm mấu chốt và quan trọng là
việc xã định do nguyên nhân nào gây ra. Nếu thiệt hại do hành vi trái pháp
luật của con người gây ra mà có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ thì
không áp dụng Điều 623 để giải quyết mà đây là trường hợp bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng thông thường do hành vi trái pháp luật của con người
gây ra.
Ví dụ: Vợ chồng A và B đều đi là từ 6h30 sáng đến 17h mới về. Sợ bị mất
trộm ông A đã dẫn dòng điện dương vào ổ khóa để ngăn trộm cắt khóa vào
nhà. Ông C là hàng xóm đã vô ý đụng tay vào ổ khóa đã bị chết do điện giật.
Trong trường hợp này ông C chết là do dòng điện cao thế gây ra là nguồn
nguy hiểm cao độ theo điều 623 BLDS, nhưng cái chết của ông C lại do
gây ra phải được xác định rõ những phương tiện giao thông vận tải…được
quy định thuộc nguồn nguy hiểm cao độ để xác định trách nhiệm bồi thường
cụ thể khi có thiệt hại xảy ra. Nếu thiệt hại liên quan đến nguồn nguy hiểm
cao độ mà không phải do tự thân nguồn nguy hiểm cao độ thì áp dụng trách
nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh thông thường. Nói cách khác, thiệt hại
phải do nguồn nguy hiểm gây ra, chứ không phải do hành vi của con người.
Như vậy, bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra được
hiểu là trách nhiệm của chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu, sử dụng nguồn
nguy hiểm cao độ và do hoạt động tự bản than nguồ nguồn nguy hiểm cao
độ gây thiệt hại cho người khác, phải bồi thường thiệt hại kể cả trong trường
hợp chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu không có lỗi.
2. Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra.
a) Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ đang chiếm hữu, sử dụng nguồn
nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra.Chủ sở hữu đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ là đang
thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, quản lý nguồn nguy
hiểm cao độ, nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội; khai thác
công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ nguồn nguy hiểm cao độ.
Theo quy định của pháp luật, chủ sở hữu có quyền định đoạt, sử dụng,
chiếm hữu tài sản theo ý chí của mình. Việc thực hiện quyền sở hữu của chủ
sở hữu không được gây tổn hại tới lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp
pháp của người khác. Vì vậy nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại cho
người khác trong trường hợp chủ sở hữu đang trực tiếp chiếm hữu sử dụng
nguồn nguy hiểm cao độ thì phải bồi thường, kể cả trong trường hợp chủ sở
hữu không có lỗi.
b) Người được chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao chiếm hữu,
sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật phải bồi
nguy hiểm cao độ theo nhiệm vụ do công ty B giao cho. Công ty B đang
nắm giữ, quản lý, khai thác công dụng hưởng hoa lợi, lợi tức từ nguồn nguy
hiểm cao độ. Vì vậy không phải A là người được chuyển giao, chiếm hữu,
sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ để khai thác để hưởng lợi nên công ty B là
chủ chiếc xe phải bồi thường thiệt hại.
Ví dụ: Các thoả thuận sau đây là không trái pháp luật, đạo đức xã hội hoặc
không nhằm trốn tránh việc bồi thường:
- Thoả thuận cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại;
- Thoả thuận chủ sở hữu bồi thường thiệt hại trước, sau đó người được
giao chiếm hữu, sử dụng sẽ hoàn trả cho chủ sở hữu khoản tiền đã bồi
thường;
- Ai có điều kiện về kinh tế hơn thì người đó thực hiện việc bồi
thường thiệt hại trước.
Trong trường hợp chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao cho
ngườikhác chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ không theo đúng
quy định của pháp luật mà gây thiệt hại, thì chủ sở hữu phải bồi thường thiệt
hại.
Ví dụ:Chủ sở hữu biết người đó không có bằng lái xe ô tô, nhưng vẫn
giao quyền chiếm hữu, sử dụng cho họ mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải
bồi thường thiệt hại.
c. Về nguyên tắc chung chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm
hữu, sử dụng hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau
đây:
- Thiệt hại xảy ra là hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;
Ví dụ: Xe ô tô đang tham gia giao thông theo đúng quy định của pháp
luật,thì bất ngờ có người lao vào xe để tự tử và hậu quả là người này bị
thương nặng hoặc bị chết. Trong trường hợp này chủ sở hữu, người được
quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định
của pháp luật) thì phải liên đới cùng với người chiếm hữu, sử dụng trái pháp
luật bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gâ y ra. Theo đạo cuối
của khoản 4 Điều 623 “ Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm
hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy
hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải chịu liên đới bồi
thường thiệt hại. Trường hợp này rất phổ biến trong xã hội, chủ sở hữu
nguồn nguy hiểm cao độ tuy đã biết hoặc trong hoàn cảnh có thể biết được
một người không có quyền sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ nhưng vẫn
giao, sử dụng nguồn nguy hiểm nguồn nguy hiểm cao độ và người này đã
gây thiệt hại cho người thứ ba thì chủ sở hữu và người chiếm hữu, sử dụng
nguồn nguy hiểm cao độ phải liên đới bồi thường thiệt hại.
Ví dụ: Vào ngày 20/10/2009 Thiện mượn xe moto của anh Trung để đi đám
cưới người bạn. Trong trường hợp này anh Trung biết Thiện chua có bằng
lái xe, nhưng anh Trung vẫn cho Thiện mượn. Và trong khi đi đám cưới về
thì xe đứt phanh đân vào chị Quyên đang cùng tham gia giao thông, gây thiệ
hại về sức khỏe cho chị Quyên chi phí điều trị là 5.000.000 đồng.
Trong trường hợp này anh Trung là người có lỗi khi biết là Thiện không
được phép sử dụng xe moto vì chua có bằng lái xe, nhưng vẫn giao cho
Thiện quản lý, sử dụng xe moto. Theo tình huống này, thì anh Trung và
Thiện phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho chị Quyên.
đ) Nếu chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ đã giao nguồn nguy hiểm
cao độ cho người khác mà gây thiệt hại thì phải xác định trong trường hợp
cụ thể đó người được giao nguồn nguy hiểm cao độ có phải là người chiếm
hữu,sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ hay không để xác định ai có trách
nhiệm bồi thường thiệt hại.
Ví dụ: A là chủ sở hữu xe ô tô đã giao xe ô tô đó cho B. B lái xe ô tô
tham gia giao thông đã gây ra tai nạn và gây thiệt hại thì cần phải phân biệt:
Tuấn Anh đang điều khiển. Nhưng xe gây tai nạn không thuộc sở hữu của
Tuấn Anh, anh chỉ là người lái thuê, mà theo điểm D, mục 2, Phần III NQ
03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006: “ Nếu chủ sở hữu nguồn nguy hieerm
cao độ cho người khác mà gây thiệt hại thì phải xác định trong trường hợp
cụ thể người đó được giao nguồn nguy hiểm cao độ hay không để xác định
ai có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.” Theo tòa sơ thẩm thì chiếc xe mang
biển số 47V-1154 do anh Lê Minh Tuấn điều khiển gây tai nạn là thuộc tài
sản của xí nghiệp Thành Công. Nhưng tòa không buộc xí nghiệp Thành
Công phải bồi thường thiệt hại mà yêu cầu ông Trần Kim An, bà Lê Thị Hòa
có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Bởi vì chiếc xe ôtô này có nguồn gốc là
của vợ chồng ông Trần Kim Anh và bà Lê Thị Hòa đua vào xí nghiệp và xí
nghiệp giao cho vợ chồng ông Anh, bà Hòa chiếm hữu, sử dụng, mọi chi
phí, sửa chữa, thay thế… đối với chiếc xe ôtô này đều do ông bà chịu trách
nhiệm. Cũng theo Điều 623 BLDS, thì vợ chồng ông Anh và bà Hoa là chủ
thể chịu bồi thường thiệt hại. Trong vụ án này, chủ sở hữu đã chuyển giao
trách nhiệm cho người khác người này cũng không trực tiếp điều khiển
phương tiện gây thiệt hại.
Do vậy, quyết định buộc ông Trần Kim Anh và bà Lê Thị Hòa phải bồi
thường là hợp lý.
V.
Bình luận các quy định của BLDS về nguồn nguy hiểm cao độ.
Ngoài những trường hợp pháp luật quy định, trên thực tế có trường hợp
chủ sở hữu bắt buộc phải chuyển giao nguồn nguy hiểm cao độ cho người
khác theo quy định của pháp luật. Ví dụ: người có thẩm quyền nhà nước
trưng thu tài sản của các cá nhân, tổ chức khi cần thiết để bảo vệ lợi ích
chung,hoặc tạm thu giữ theo quy định của nhà nước có thẩm quyền… Trong
Babetta, hay máy thi công, máy ủi…có thể coi là những loại xe tương tự
theo sự liệt kê tại khoản 18 Điều 3, Luật giao thông đường bộ 2008.
- Thứ hai: Về điều kiện áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra. Hiện nay chưa có qui định nào phân định cụ thể:
Khi nào áp dụng bồi thường thiệt hại nói chung và trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra dẩn đến những cách hiểu và áp
dụng không thông nhất trên thực tế. Thực tiễn cho thấy khi xét xử, nhiều
trường hợp cứ thấy thiệt hại có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ là áp
dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra,
bất kê nguyên nhân do con người hay nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Cần
có quy định rõ rang về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra chỉ pháp sinh khi thiệt hại là do sự tác động bản thân nguồn
nguy hiểm gây ra.
- Thứ ba: Cần phân định rõ ràng, cụ thể trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao dộ gây ra trong trường hợp chủ sở hữu đã chuyển giao
nguồn nguy hiểm cao độ cho người khác chiếm hữu, sử dụng, cụ thể là trong
chuyển giao theo quan hệ lao động và chuyển giao các quan hệ dân sự.
+ Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ được chuyển giao cho người
khác theo nghĩa vụ lao động: Nếu thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra trong quá trình người lao động quản lý, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ
theo trách nhiệm được giao thì thì trách nhiệm bồi thường thuộc về chủ sở
hữu nguồn nguy hiểm cao độ. Nếu người được giao quản lý nguồn nguy
hiểm cao độ theo nghĩa vụ lao động nhưng lại sử dụng nguồn nguy hiểm
cao độ vào mục đích khác không theo nhiệm vụ mà gây thiệt hại thì họ phải
chịu trách nhiệm bồi thường.
+ Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ được chuyển giao cho
người khác chiếm hữu sử dụng một giao dịch dân sự. Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trước tiên phải căn cứ sự
4. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, sức khoẻ và tính mạng –
TS Phùng Trung Tập, NXB Hà Nội.
5. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng từ quy định của pháp
luật đến thực tiễn.
6. Nghị Quyết số 03 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
03/2006/NQ- HĐTP ngày 8/7/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định
của Bộ luật dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
MỤC LỤC
Lời Nói Đầu
Giải Quyết Vấn Đề
I.
Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ
II.
Điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra.
1. Có thiệt hại xảy ra.
2. Có việc gây thiệt hại trái pháp luật.
3. Nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại cho người xung quanh.
4. Có mối quan hệ nhân quả giữa họat động gây thiệt hại trái pháp luật
của nguồn nguy hiểm cao độ và thiệt hại xảy ra.
DANH MỤC TÀI LIỆU THẢO KHẢO
7. Giáo trình luật dân sự, tập 2 - Trường đâị học luật Hà Nội, NXB Công
an Nhân Dân.
8. Giáo trình luật dân sự, tập 2 - Lê Đình Nghị (chủ biên), NXB Giáo dục
Hà Nội 2009.