Bài tập học kỳ môn pháp luật giải phóng mặt bằng
LỜI MỞ ĐẦU
Công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất đang là vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp, ảnh hưởng đến nhiều mặt
của đời sống kinh tế – xã hội. Thực tế công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt
bằng và tái định cư vẫn còn nhiều vướng mắc và tồn tại gây nhiều bức xúc trong
nhân dân. Tuy nhiên trong thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng
trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư. Để nhìn nhận sâu hơn về chính sách này bài viết của em sẽ đi tìm hiểu: cơ sở lý
luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng các quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở nước ta.
NỘI DUNG
I/ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN.
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử
dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất.
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ, tạo điều kiện cho
người có đất bị thu hồi ổn định đời sống sản xuất, vượt qua khó khăn khi bị Nhà
nước thu hồi đất. Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm: Hỗ trợ di
chuyển, hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở; hỗ trợ ổn định đời sống
và sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tạo việc làm đối với trường hợp thu
hồi đất nông nghiệp; hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư; đất
vườn, ao không được công nhận là đất ở; hỗ trợ khác.
(Điều 17 Nghị định 69/2009/NĐ – CP ngày 13/8/2009 quy định bổ sung về quy
hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư).
Bài tập học kỳ môn pháp luật giải phóng mặt bằng
Tái định cư là việc bố trí chỗ ở mới, ổn định cho người bị thu hồi đất mà phải di
những cơ sở lý luận chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, về bản chất Nhà nước ta là Nhà nước do nhân dân lao động thiết lập
lên, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân. Nhà nước theo đuổi
sứ mạng cao cả và mang đầy tính nhân văn là phục vụ và chăm lo cho lợi ích, sự
phồn vinh của người dân. Đặt trong bối cảnh đó, thì khi Nhà nước thu hồi đất của
người dân để sử dụng vào bất kỳ mục đích gì (cho dù là sử dụng vào mục đích
quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế) mà
họ phải di chuyển chỗ ở thì Nhà nước phải có bổn phận và nghĩa vụ phải bồi
thường và thực hiện việc tái định cư nhằm làm cho người sử dụng đất sớm ổn định
cuộc sống, để đi vào sản xuất.
Thứ hai, vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất được
đặt ra dựa trên cơ sở quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ.
Hiến Pháp 1946 đã ghi nhận và bảo hộ quyền sở hữu tư nhân về tài sản: “Quyền sở
hữu về tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm” (Điều 12). Quyền này tiếp
tục được khẳng định trong bản Hiến pháp năm 1992: “Công dân có quyền sở hữu
về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất,
vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp…Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp
và quyền thừa kế của công dân” (Điều 58). Hơn nữa, Hiến pháp năm 1992 còn
long trọng tuyên bố: “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu
hóa. Trong trường hợp thật cần thiết vì lí do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích
Bài tập học kỳ môn pháp luật giải phóng mặt bằng
quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân
hoặc tổ chức theo thời giá thị trường…”. (Điều 23).
Như vậy, quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của mọi cá nhân và tổ chức đã được
Hiến pháp ghi nhận và bảo hộ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích
quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì toàn bội tài sản hợp
pháp găn liền với đất bị thu hồi của người đang sử dụng đất đều phải được bồi
chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài.
Nhìn lại thành tựu 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước có thể nhận
thấy rằng những thành tựu này là kết quả của quá trình đổi mới tư duy mà hạt nhân
cơ bản là đổi mới tư duy về sở hữu tài sản. Giải phóng mọ năng lực sản xuất của
người lao động, tạo ra một động lực mới cho sản xuất nông nghiệp, Đảng ta đã rất
sáng suốt khi lựa chọn và thực hiện việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông
nghiệp làm khâu đột phá cho toàn bộ quá trình cải cách kinh tế với việc từng bước
xác lập địa vị làm chủ của hộ gia đình, cá nhân đối với đất đai thông qua giao đất
cho họ sử dụng ổn định, lâu dài và mở rộng các quyền năng cho người sử dụng đât.
Như vậy, “Kể từ đây quyền sử dụng đất đã tách khỏi quyền sở hữu đất đai được
chủ sở hữu đất đai chuyển giao cho người sử dụng đất”, hay nói cách khác, “quyền
sở hữu đất đai thuộc về toàn dân do Nhà nước đại diện; còn quyền sử dụng đất
thuộc sở hữu của người sử dụng đất”. Chính nhờ việc tìm ra cách thức giao quyền
sử dụng đất cho người lao động trên cơ sở vẫn giữ nguyên chế độ sở hữu toàn dân
về đất đai nhằm duy trì sự ổn định về chính trị - xã hội tạo tiền đề cho việc phát
triển kinh tế mà Việt Nam và Trung Quốc “gặp nhau” ở điểm chung này và hai
nước đã thực hiện thành công cuộc cải cách kinh tế mà không gặp phải thất bại như
Liên Xô (cũ) và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây. Đánh giá về này,
PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa cho rằng: “sáng tạo ra khái niệm “quyền sử dụng đất”
Bài tập học kỳ môn pháp luật giải phóng mặt bằng
cả người Việt Nam và người Trung Quốc dường như đã tạo ra một khái niệm sở
hữu kép, một khái niệm sở hữu đa tầng: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, song quyền
sử dụng đất lại thuộc về cá nhân hoặc tổ chức”. Cùng chung quan điểm này, GS.TS
khoa học. Đặng Hùng Võ, nguyên thứ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường nhận
xét: “chế độ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước ta chỉ mang tính thuật ngữ…
quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất ở nước ta không khác so với quyền
lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai ở các nước”.
Thứ ba, Nhà nước phải là cơ quan đại diện đứng ra giải quyết hài hòa các vấn
đề quyền và lợi ích giữa các chủ thể có liên quan, như quyền và lợi ích hợp pháp
của Nhà nước, nhà đầu tư và người bị thu hồi đất. Cho nên việc phải xây dựng
chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là rất cần
thiết nhằm ổn định quyền, lợi ích kinh tế cho người dân và các chủ đâu tư yên tâm,
cũng như tăng tính hấp dẫn cho các nhà đầu tư.
Thứ tư, cần phải củng cố lòng tin của người bị thu hồi đất vào đường lối chủ
trương chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước.
Thứ năm, Vấn đề nhằm ổn định tình hình chính trị cũng là một trong những cơ
sở không thể thiếu cho việc xây dựng chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất. Để loại trừ, phòng tránh và đối phó các thế lực có âm mưu
xấu đang lăm le, soi mói những kẽ hở của chính sách Nhà nước ta, để lôi kéo tuyên
truyền dân ta đi theo con đường xấu, chống lại chính quyền…nhằm gây mất ổn
định trật tự chính trị xã hội.
III/ KẾT QUẢ CỦA VIỆC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ
NƯỚC THU HỒI ĐẤT.
1 . Kết quả của việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Bài tập học kỳ môn pháp luật giải phóng mặt bằng
Ở nước ta, các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng
phù hợp hơn với yêu cầu của thực tế cũng như yêu cầu của các quy luật kinh tế. Quan
tâm tới lợi ích của những người bị thu hồi đất, công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
trong thời gian qua đã đạt được các kết quả khá khả quan thể hiện trên một số khía
cạnh chủ yếu sau.
Thứ nhất, đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng được xác
định đầy đủ chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, giúp cho công tác
quản lý đất đai của Nhà nước được nâng cao, người nhận đền bù cũng thấy thỏa đáng.
Thứ hai, mức bồi thường hỗ trợ ngày càng cao tạo điều kiện cho người dân bị thu
càng được mở rộng và có hiệu quả.
Nhờ những cải thiện về quy định pháp luật về phương pháp tổ chức, về năng lực
cán bộ thực thi giải phóng mặt bằng, tiến độ giải phóng mặt bằng trong các dự án đầu
tư gần đây đã được rút ngắn hơn so với các dự án cũ, góp phần giảm bớt tác động tiêu
cực đối với người dân cũng như đối với dự án. Việc thực hiện chính sách bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư đã giúp cho đất nước ta xây dựng cơ sở vật chất, phát triển kết cấu
hạ tầng, xây dựng khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các dự án trọng
điểm của Nhà nước, cũng như góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, ổn định đời
sống sản xuất cho người có đất bị thu hồi.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đó chúng ta cũng còn những tồn tại, vướng
mắc khi tiến hành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, trong đó đặc biệt là vấn đề giá đền
bù, gây những tác động tiêu cực đối với thị trường bất động sản.
2. Một số kiến nghị
Một là, đảm bảo tính thống nhất, nhất quán trong chính sách bồi thường, hỗ trợ tái
định cư, tránh tình trạng mỗi địa phương, mỗi dự án, mỗi công trình có mức bồi
thường và hỗ trợ khác nhau, từ đó làm nảy sinh ý tưởng so sánh quyền lợi từ phía
người dân. Khẩn trương hoàn thiện các quy định của pháp luật, theo hướng dựa trên
cơ sở thị trường để giải quyết vấn đề bồi thường cho người bị thu hồi đất.
Bài tập học kỳ môn pháp luật giải phóng mặt bằng
Hai là, nâng cao chất lượng công trình quy hoạch tái định cư; chú ý đến yếu tố
văn hóa, tập quán, thói quen của đồng bào các dân tộc khi xây các khu tái định cư.
Ba là, nâng cao năng lực thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của các ban,
ngành ở địa phương và các đơn vị tư vấn, cũng như tinh thần trách nhiệm, sự tuân thủ
trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật, của cán bộ thực thi việc kiểm kê, kiểm
đếm, lập phương án đền bù.
Bốn là, có một kế hoạch dài hạn với nguồn tài chính đảm bảo trong nhiều năm để
thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Khống chế một cách nghiêm chỉnh về quy
CƠ
SỞ
THỰC
TIỄN
VÀ
LÝ
LUẬN………………………………………….2
1. Đường lối, chính sách của Đảng…………………………………………….2
2. Cở sở lý luận……………………………………………………………..….3
3. Cơ sở thực tiễn…………………………………………………………...….6
III. KẾT
QUẢ
CỦA
VIỆC
BỒI
THƯỜNG………………………………………7
1. Kết quả của việc bồi thường…………………………………………….......8
2. Một số kiến nghị…………………………………………………………….9
KẾT LUẬN………………………………………………………………………10
DANH MỤC TẠI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.