Một số vấn đề lí luận về thuế và pháp luật thuế - Pdf 34

MỤC LỤC
Trang
A. LỜI MỞ ĐẦU
2
B. NỘI DUNG
2
I. Một số vấn đề lí luận về thuế và pháp luật thuế ........................................ 2
1. Khái niệm chung về thuế .......................................................................... 2
1.1. Khái niệm và đặc điểm của thuế ............................................................ 2
1.2. Phân loại thuế ........................................................................................ 3
2. Khái niệm pháp luật thuế ......................................................................... 4
II. Vai trò của pháp luật thuế ở nước ta hiện nay .......................................... 5
III.Thực trạng việc áp dụng pháp luật thuế ở Việt Nam – Giải pháp nhằm
phát huy vai trò pháp luật thuế trong nền kinh tế thị trường và hội nhập
quốc tế ........................................................................................................... 8
1. Thực trạng áp dụng pháp luật thuế ở Việt Nam ........................................ 8
2. Nguyên nhân của thực trạng ..................................................................... 11
3. Giải pháp nhằm phát huy vai trò pháp luật thuế trong nền kinh tế thị
trường và hội nhập quốc tế ........................................................................... 14
C. KẾT LUẬN
16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
17

1


A. LỜI MỞ ĐẦU
Hơn 20 năm qua, Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới kinh tế, mở cửa và
hội nhập, hệ thống chính sách thuế đã được cải cách và hoàn thiện không ngừng để
đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước. Việc nghiên cứu vai trò của pháp luật thuế

Xem: Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa, Đại từ điển kinh tế thị trường, Hà
Nội, 1998, tr. 669.
2


thực hiện nghĩa vụ thu, nộp vào ngân sách. Thuế không có bất kỳ sự phân biệt đối
xử nào giữa các bang hay vùng lãnh thổ”.(3)
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa về thuế như vậy nhưng chúng ta có thể đưa
ra một khái niệm chung về thuế như sau: thuế là các khoản thu nộp mang tính bắt
buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ những điều
kiện nhất định. Từ đó, ta có thể thấy thuế mang những đặc điểm sau:
+ là khoản thu bắt buộc;
+ do Quốc hội ban hành;
+ không mang tính chất đối giá;
+ không có tính hoàn trả trực tiếp.
1.2. Phân loại thuế
Căn cứ vào mục đích điều tiết, thuế có hai loại cơ bản là thuế trực thu và
thuế gián thu.
Thuế trực thu bao gồm các loại thuế như thuế thu nhập, thuế đánh vào của
cái, thuế đánh vào đối tượng thường trú. Chúng được gọi là thuế trực thu vì người
có nghĩa vụ nộp thuế thường là người gánh chịu thuế. Nói cách khác, người nộp
thuế không thể chuyển nghĩa vụ thuế sang cho các đối tượng khác. Thuế trực thu có
ưu điểm đảm bảo sự công bằng trong việc điều tiết thu nhập thặng dư của người
nộp thuế nhưng thường gây ra sự phản ứng về thuế của người nộp thuế do không có
sự chuyển dịch về thuế và có một sự đảm bảo chắc chắn rằng phải thực hiện một
nghĩa vụ nộp tiền.
Thuế gián thu bao gồm các loại thuế như thuế xuất nhập khẩu, thuế gắn với
sản xuất và bán hàng hóa. Gọi chung là thuế gián thu vì người gánh chịu thuế là
khách hàng, nhưng người nộp thuế lại là người bán hàng, nhà nhập khẩu. Nói khác
đi, đã có sự chuyển dịch nghĩa vụ thuế từ khách hàng sang người kinh doanh. Thuế

định ranh giới giữa các nhóm quan hệ, qua đó lựa chọn áp dụng các quy phạm pháp
luật phù hợp, đạt được hiệu quả điều chỉnh cao.
Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của luật thuế ở Việt Nam cho
thấy pháp luật thuế ra đời rất sớm. Nhà nước với tư cách là chủ thể quyền lực, sử
dụng công cụ riêng là pháp luật để tập trung bộ phận của cái xã hội mà không phụ
thuộc vào ý chí của đối tượng nắm giữ của cải đó. Điều này cũng giúp cho việc
phân biệt giữa luật thuế với luật ngân sách nhà nước mặc dù giữa luật thuế và luật
ngân sách nhà nước có mối liên hệ nội tại.
Hệ thống pháp luật thuế ở nước ta hiện nay bao gồm:
- Luật quản lý thuế 2006;
- Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005.
- Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008;
- Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008;
4


- Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008;
- Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007;
- Luật thuế tài nguyên năm 2009;
- Luật thuế sư dụng đất phi nông nghiệp năm 2010 (chưa có hiệu lực).
- Các nghị định hướng dẫn thi hành những văn bản pháp luật nêu trên và các
nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế.
II. Vai trò của pháp luật thuế ở nước ta hiện nay
1. Pháp luật thuế tạo cơ sở pháp lý quan trọng và ổn định cho nguồn thu, đáp
ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Nhà nước ban hành pháp luật thuế và ấn định các loại thuế áp dụng đối với
các pháp nhân và thể nhân trong xã hội. Việc các chủ thể nộp thuế - thực hiện nghĩa
vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế đã tạo ra nguồn tài chính quan trọng,
chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu ngân sách nhà nước. Theo kết quả nghiên
cứu về lịch sử tồn tại và phát triển của thuế qua các thời kỳ, ở các quốc gia đã cho

quả sản xuất kinh doanh.
Nhà nước, bằng pháp luật có khả năng quản lý, điều tiết tới mọi mặt của đời
sống kinh tế xã hội. Bằng hệ thống pháp luật thuế, nhà nước thể hiện ý chí của
mình đối với đường lối phát triển kinh tế một cách gián tiếp, thông qua đó thực
hiện công bằng xã hội.
Ngoài việc huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước, pháp luật thuế còn
có vai trò quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế. Điều 26 Hiến
pháp 1992 ghi nhận: “Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng
pháp luật, kế hoạch, chính sách”. Là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt
Nam, pháp luật thuế đóng vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Thông
qua việc ban hành và thực hiện pháp luật thuế, nhà nước thể chế hóa và thực hiện
chính sách điều tiết đối với nền kinh tế, điều tiết thu nhập và tiêu dùng xã hội.
Điều tiết đối với nền kinh tế là yêu cầu khách quan, thường xuyên của Nhà
nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường. Thông qua các quy định của pháp luật
thuế về cơ cấu các loại thuế, phạm vi đối tượng nộp thuế, thuế suất, miễn giảm
thuế… Nhà nước chủ động phát huy vai trò điều tiết đối với nền kinh tế. Vai trò
này của pháp luật thuế được thể hiện ở chỗ pháp luật thuế là công cụ tác động đến
tư duy đầu tư, hành vi đầu tư của các chủ thể kinh doanh, hành vi tiêu dùng của các
thành viên trong xã hội. Dựa vào công cụ thuế, Nhà nước có thể thúc đẩy hoặc hạn
chế việc đầu tư, tiêu dùng.
Thông qua các quy định của pháp luật thuế, nhà nước chủ động can thiệp đến
cung – cầu của nền kinh tế. Sự tác động của nhà nước để điều chỉnh cung – cầu của
6


nền kinh tế một cách hợp lý sẽ có tác động lớn đến sự ổn định và tăng trưởng kinh
tế. Bằng các quy định của pháp luật thuế, nhà nước tác động một cách tích cực đến
tất cả các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Điều tiết tiêu dùng là hoạt động quan trọng của nhà nước đối với nền kinh tế
thị trường. Thông qua các quy định của pháp luật thuế, nhà nước tác động đến các

luật thuế đối với các quan hệ phân phối và sử dụng thu nhập trong xã hội.
Sự vận động của nền kinh tế theo cơ chế thị trường đòi hỏi nhà nước phải sử
dụng đồng bộ nhiều công cụ khác nhau để khắc phục những sự mất cân đối về mặt
xã hội trong đó có mất cân đối về thu nhập. Nhà nước sử dụng pháp luật thuế làm
công cụ để điều hòa vĩ mô thu nhập trong xã hội. Sự điều tiết này thể hiện ở chỗ
thông qua các quy định của pháp luật thuế. Nhà nước thực hiện việc điều tiết thu
nhập của các đối tượng nộp thuế và các thành viên trong xã hội. Sự thay đổi của
pháp luật thuế và cơ cấu các loại thuế trong hệ thống thuế, về thuế suất… đều có
tác động đến thu nhập và sử dụng thu nhập trong xã hội.
Hiện nay, xu hướng chung của các quốc gia là xây dựng các quy phạm pháp
luật thuế theo hướng hội nhập quốc tế, đơn giản hóa cơ cấu hệ thống thuế và thuế
suất. Tuy vậy, việc thực hiện xu hướng chung đó cũng không làm triệt tiêu vai trò
pháp luật thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước trong điều kiện nền kinh tế
thị trường.
4. Nhà nước có thể sử dụng công cụ pháp luật thuế để kiểm tra gián tiếp hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Để thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ nộp thuế, các cơ quan quản lý thuế
cùng với đối tượng nộp thuế buộc phải quan tâm và tuân thủ những quy định gắn
với chế độ hóa đơn chứng từ, nội dung kinh doanh, quy mô kinh doanh, hình thức
kinh doanh, cơ cấu tổ chức… Điều đó cũng có nghĩa bằng việc quy định những vấn
đề liên quan đến nghĩa vụ thuế, nhà nước gián tiếp quản lý nền kinh tế, trên cơ sở
đó có hệ thống pháp luật được ban hành, sửa đổi, bổ sung phù hợp với định hướng
trong từng giai đoạn ở tầm vĩ mô cũng như tìm biện pháp hỗ trợ phù hợp cho các
đối tượng nộp thuế ở tầm vi mô. Mặt khác, cũng thông qua việc kiểm tra việc tuân
thủ pháp luật thuế, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng có khả năng phát
hiện và xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật thuế nói riêng và vi phạm
trong quá trình hoạt động gắn với tư cách của đối tượng nộp thuế nói chung.
III.Thực trạng việc áp dụng pháp luật thuế ở Việt Nam – Giải pháp nhằm
phát huy vai trò pháp luật thuế trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc
tế.

Mặc dù ngành thuế ngày càng có nhiều nỗ lực, nhưng các biện pháp chống
thất thu thuế xem ra chưa hữu hiệu, dường như người ta mới tận thu được với các
đơn vị và công dân gương mẫu trong nghĩa vụ thuế, còn những người cố tình trốn
thuế thì không bị chế tài. Tình trạng này không những thể hiện trong thuế thu nhập
cá nhân (với người có thu nhập cao) mà thể hiện rất dễ thấy trong thuế giá trị gia
tăng. Rất nhiều doanh nghiệp, khách sạn, cửa hàng… không làm hóa đơn cho
9


khách hàng, còn khách hàng thì rất nhiều người cũng không có nhu cầu lấy hóa
đơn. Phần lớn khoản doanh thu không nhỏ đó nhà nước không thu được thuế, cả
thuế giá trị gia tăng lẫn thuế thu nhập doanh nghiệp. Tình trạng đó không những
gây tổn hại cho lợi ích của đất nước mà còn tạo ra sự bất bình đẳng về nghĩa vụ
thuế của công dân, vô hình chung tạo thêm sự cạnh tranh không lành mạnh giữa
các doanh nghiệp.
Thanh tra Chính phủ đã có một cuộc điều tra về tổng lượng thất thu của
ngành thuế trong thời gian qua. Thanh tra chính phủ cho biết, sau khi hoàn tất việc
thanh tra tại Tổng Cục thuế, Cục thuế Hà Nội và Cục thuế Tp Hồ Chí Minh đã phát
hiện nhiều sai phạm với số tiền hơn 11.000 tỷ đồng.
Thanh tra Chính phủ cho rằng, việc Bộ Tài Chính, Tổng cục thuế và một số
Cục thuế địa phương ban hành văn bản không đúng quy định của pháp luật về thuế
đã dẫn đến thất thu thuế và trực tiếp ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư,
kinh doanh.
Tổng số tiền thuế thất thoát do một số văn bản không đúng quy định của
pháp luật được ban hành là hơn 373 tỷ đồng. Trong đó, việc hướng dẫn miễn, giảm
thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hoạt động dịch
vụ cung cấp suất ăn công nghiệp cho doanh nghiệp chế xuất không đúng quy định
đã làm thất thu 233,4 tỷ đồng.
Ngoài những bất cập nêu trên, trong bài viết Áp dụng pháp luật trong lĩnh
vực thuế của Ths. Trần Vũ Hải – giảng viên trường Đại học Luật Hà Nội cũng chỉ

quyền của mình một cách hợp pháp, làm giảm hiệu ứng tốt của chính sách ưu đãi
thuế.
- Còn nhiều tranh chấp về thuế dẫn đến khiếu nại tố cáo không được giải quyết
thỏa đáng: Với thực trang đã phân tích ở trên, thì hiện tượng khiếu nại, tố cáo chắc
chắn sẽ xuất hiện. Tuy nhiên cũng phải nói thêm rằng, việc khiếu nại, tố cáo là
quyền của cá nhân, tổ chức và việc có khiếu nại, tố cáo không đồng nghĩa với việc
công chức quản lý thuế hay cơ quan quản lý thuế đã vi phạm pháp luật. Bên cạnh
những trường hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo thỏa đáng, đúng pháp luật, cũng vẫn
còn xảy ra tình trạng khiếu nại, tố cáo không được giải quyết đúng thời hạn, dây
dưa, vòng vo dẫn đến những phản ứng tiêu cực tiếp theo của cá nhân, tổ chức khiếu
nại, tố cáo. Bên cạnh đó, hiện tượng bao biện, không nhận trách nhiệm và không xử
lý đúng pháp luật công chức quản lý thuế, cơ quan quản lý thuế mắc sai phạm cũng
làm cho sự việc càng trở nên phức tạp hơn.
2. Nguyên nhân của thực trạng
2.1. Ý thức chấp hành pháp luật thuế của nhiều chủ thể nộp thuế còn yếu kém.
11


Việc nộp thuế là nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật
nhằm đảm bảo duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước, và đồng thời để nhà nước
thực hiện các chức năng của mình. Tuy nhiên, do các lợi ích nhận được của nhà
nước thường không cụ thể, nên đối với một số chủ thể nộp thuế, những thiệt hại vật
chất cụ thể dường như lớn hơn so với những giá trị vô hình mà nhà nước đem lại.
Chính vì vậy, thay vì hợp tác, nhiều chủ thể nộp thuế sử dụng nhiều thủ đoạn để
làm giảm số thuế phải nộp một cách trái pháp luật.
Bên cạnh đó, cũng cần phải nhận thức rằng, ý thức chấp hành pháp luật thuế
không phải có được ngay lập tức bằng các mệnh lệnh hành chính. Nền kinh tế thị
trường xã hội chủ nghĩa ở nước ta còn non trẻ, do vậy chưa đủ thời gian để các cá
nhân, tổ chức trong xã hội thật sự quen với những đòi hỏi của nó, trong đó có nghĩa
vụ nộp thuế. Ý thức chấp hành pháp luật được nâng lên thông qua nhiều phương

khẳng định rằng, những hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động quản lý
thuể còn khá phổ biến như đưa và nhận tiền hối lộ, hoặc đòi được hối lộ bằng nhiều
hình thức tinh vi khác.
2.4. Cơ sở hạ tầng đầu tư cho ngành thuế còn chưa thỏa đáng để đáp ứng nhu
cầu nhiệm vụ.
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ
thông tin, thì những ứng dụng tiến bộ này vào hoạt động quản lý nhà nước ngày
càng được đẩy mạnh. Với số lượng rất lớn các chủ thể nộp thuế, việc ứng dụng
công nghệ thông tin vào công tác quản lý thuế như khai thuế qua mạng internet,
phần mềm dữ liệu quản lý thông tin người nộp thuế, các trang website thông tin về
ngành thuế… nếu được đầu tư thoả đáng sẽ đem lại những cải thiện đáng kể, nhằm
giảm chi phí xã hội dành cho công tác quản lý thuế, đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Tuy nhiên, hiện nay, việc triển khai đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho ngành
thuế nhìn chung còn chậm và chưa đồng đều, cùng với hạn chế trong công tác đào
tạo công chức quản lý thuế và chủ thể nộp thuế về các kỹ năng cần thiết để sử dụng
công nghệ thông tin, nên đã hạn chế đáng kể đến hiệu quả áp dụng pháp luật.
2.5. Còn nhiều hạn chế về tính hợp lý và sự minh bạch của hệ thống pháp luật
thuế
Có lẽ trên hết, hiệu quả áp dụng pháp luật chịu ảnh hưởng lớn nhất từ chính
các quy định pháp luật được áp dụng. Như chúng ta đã biết, nếu pháp luật phù hợp
với thực tiễn kinh tế xã hội và có tính định hướng, thì sẽ góp phần phát triển kinh tế
xã hội và ngược lại, nếu pháp luật bất cập thì sẽ kìm hãm sự phát triển.
Hệ thống pháp luật thuế của nước ta hiện nay đang trong giai đoạn hoàn
thiện nên không tránh khỏi những bất cập. Bên cạnh đó, nền kinh tế phát triển
13


nhanh, “bỏ xa” những quy định pháp luật cũng là một thực tế. Hiện nay, hệ thống
pháp luật thuế còn nhiều quy định mâu thuẫn, chồng chéo và không hợp lý, nên khi
áp dụng vào thực tiễn sẽ gặp khó khăn, không hiệu quả.


- Nâng cao hiệu lực pháp lý và hiệu quả của chính sách thuế. Áp dụng
nghiêm minh hình thức thưởng phạt trong thuế, loại bỏ các khoản thu thuế không
hiệu quả, do chi phí để thu thuế lớn hơn cả số tiền thu thuế được.
Hai là, kiên quyết chống thất thu, nâng cao trình độ nghiệp vụ và nhận
thức của mỗi cán bộ thu thuế, mặc khác cũng tăng cường thanh tra kiểm tra để
phát hiện và xử lý ngay sai phạm.
Cơ quan thuế các cấp sẽ thường xuyên tổ chức rà soát, đánh giá phân tích, dự
báo những yếu tố ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, làm
rõ những khoản còn thất thoát, các nguồn thu còn tiềm năng.
Tăng cường công tác phân tích, dự báo những tác động bất lợi từ việc suy
giảm kinh tế, những tác động bất thường của giá cả, thị trường tín dụng trên thế
giới và trong nước tác động đến tình hình thu nộp ngân sách Nhà nước của khối
Doanh nghiệp để có những đề xuất, kiến nghị giải pháp kinh tế vĩ mô ngăn chặn đà
suy giảm nguồn thu Ngân sách Nhà nước.
Ngành thuế tiếp tục theo dõi, phát hiện để có ý kiến đề nghị với các ngành,
các cấp có thẩm quyền tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về vốn, thị trường, giá
cả, xử lý kịp thời các cơ chế chính sách gây ảnh hưởng xấu đến tình hình sản xuất
của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân đẩy mạnh hoạt động đầu
tư, phát triển sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Đặc biệt, công tác thanh tra, kiểm tra sẽ được ngành Thuế đẩy mạnh và làm
quyết liệt trong thời gian tới. Theo đó, ngành thuế sẽ đẩy mạnh việc kiểm soát, xử
lý triệt để các khoản nợ đọng thuế, trình cấp có thẩm quyền các biện pháp xử lý
vướng mắc về nợ thuế, tập trung lực lượng triển khai các biên pháp thu hồi nợ thuế,
triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế để thu hồi nợ đọng.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế để lựa chọn những đối tượng có
dấu hiệu gian lận thuế, bổ sung vào kế hoạch thanh tra, kiểm tra, đặc biệt tập trung
vào nhóm doanh nghiệp lớn, các Tập đoàn, tổng công ty, các địa bàn trọng điểm có
số thu lớn, các ngành hàng, các lĩnh vực, các loại hình tổ chức có dấu hiệu thất thu
lớn. Tập trung tổng hợp, rà soát các kết quả sau thanh tra để có biện pháp xử lý đôn

Nội, 2010.

2.

Luật Ngân sách nhà nước năm 2002.

3.

Luật quản lí thuế năm 2006.

4.

Nguyễn Văn Tuyến, “Bản chất của thuế - sự tiếp cận từ các học thuyết thuế cổ
điển và hiện đại”, Tạp chí luật học, số 5/2009.

5.

“Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật thuế Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Đề tài khoa học
cấp trường năm 2008.

6.

Trần Vũ Hải, “Thực trạng pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện
nay và phương hướng hoàn thiện”, Tạp chí luật học, số 10/2007.

7.

Phạm Thị Giang Thu, “Những yêu cầu và mục tiêu cơ bản của việc hoàn thiện
hệ thống pháp luật thuế ở Việt Nam”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 3,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status