Bài làm
I. Lời mở đầu
Thực hiện nghĩa vụ dân sự liên đới là một trong những quan hệ pháp
chế đinh nghĩa vụ dân sự điều chỉnh . Nó cũng chứa đựng những nội dung
cơ bản của chế định nghĩa vụ dân sự, bên cạnh đó nó cũng có thêm một số
đặc trưng khác mà pháp luật quy định.
Có thể nói quan hệ dân sự liên đới đã góp phấn rất lớn trong việc bảo
đảm quyền lợi cho chủ thể coa quyền tròn các quan hệ pháp luật dân sự.
Đây là một quan pháp luật được luật đân sự điều chỉnh khá chặt chẽ. Nhưng
bên cạnh đó nó cũng còn tồn tại không ít vấn đề cả trong lí luận và thực tiễn.
Và trong phạm vi bài tiểu luận của mình em xin làm rõ vân đề này.
II. Giải quyết vấn đề
1. Cơ sở lí luận
Khái niệm thực hiện nghĩa vụ dân sự liên đới
Theo khoản 1 điều 298 thì thưc hiện nghĩa vụ dân sự liên đới là:
“Nghĩa vụ dân sự liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện
và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ
phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.”
Như vậy từ đó có thể thấy thực hiện nghĩa vụ dân sự là một chủ thể có
quyền và có nhiều chủ thể cùng phải có trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa
vụ. Sự ra đời của chế định liên đới thực hiện nghã vụ dân sự nhằm góp phần
bảo đảm rằng bên có quyền luôn được đảm bảo quyền lợi ngay cả khi một
1
trong số những người thuộc bên có nghĩa vụ không có khả năng thực hiện
nghĩa vụ.
Về khái niệm thực hiện nghĩa vụ liên đới có một số ý kiến cho rằng nó
phải bao gồm các điểm được quy định tại khoản 1 điều 299 BLDS 2005:
người khác thì họ có quyền yêu cầu những chủ thể đã được họ thực hiên
thay phần nghĩa vụ của mình, phải có nghĩa vụ hoàn trả lại phần nghĩ vụ mà
người đó đã thực hiện thay. Đồng thời khi một người thực hiện toàn bộ
nghĩa vụ thì sẽ chấm dứt toàn bộ quan hệ dân sự liên đới giữa chủ thể có
quyền và các chủ thể có nghĩa vụ.
Bên chủ thể có quyền có thể miễn phần nghĩa vụ cho bất kì ai trong số
những chủ thể có quyền, khi đó những chủ thể có nghãi vụ còn lại vẫn phải
liên đới thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi phần còn lại của nghĩa vụ. Bên
cạnh đó nếu chủ thể có quyền chỉ định một trong số các chủ thể có nghĩa vụ
phải thực hiện toàn bộ nghĩa mà mà sau đó lại miễn thực hiện cho người đó
thì nghĩa vụ liên đới cũng chấm dứt toàn bộ.
2. Một số vấn đề trong thực hiện nghĩa vụ dân sự liên đới
2.1 Một số vấn đề lí luận
2.1.1 Nghĩa vụ dân sự liên đới trong quan hệ hoàn lại.
Như ở trên vừa phân tích một trong các đặc điểm của quan hệ dân sự
liên đới đó là khi một chủ thể trong số các chủ thể có nghĩa vụ đã thực hiện
toàn bộ nghĩa vụ đối với bên có quyền thì những chủ thể còn lại trong bên có
nghĩa vụ phải có trách nhiệm liên đới hoàn trả lại phần còn nghĩa vụ của các
3
chủ thể đó theo quy định tại khoản 2 điều 299 BLDS: “Trong trường hợp
một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người
có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối
với mình.”.
Như vậy ở đây có thể hiểu điều khoản này quy định một người phải
“thực hiện toàn bộ nghĩa vụ” thì mới phát sinh quan hệ nghĩa vụ liên đới đối
với những khác chưa thực hiện nghĩa vụ. Vấn đề đặt ra ở đây là nếu một
người không phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ mà chỉ thực hiện phần lớn
nghĩa vụ. Hay nói một cách khác là nếu trong trường hợp 2 trong số nhiều
có nghĩa vụ. Với quy định như vậy pháp luật đã bảo đảm được quyền lợi của
bên có quyền.
Nhưng nếu một trong số các chủ thể có nghĩa vụ “chết”, có thể là một
cá nhân chết tự nhiên,hoặc chết về mặt pháp lí mà không có tài sản để lại.
Hay một pháp nhân “chết” mà không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ thì
khi này chủ thể có quyền có thể yêu cầu một trong số các chủ thể có nghĩa
vụ phải liên đới thục hiện nghĩa vụ và như vạy có thể đảm bảo quyền lợi cho
mình. Nhưng nếu chủ thể có nghĩa vụ phải liên đới thực hiện cả phần nghĩa
vụ này thì sẽ không thể làm phát sinh quan hệ hoàn lại bởi bên kia đã chết và
không có khả năng thực hiện nghĩa vụ. Như thế sẽ không thể đảm bảo quyền
lợi cho chủ thể đã phải liên đới thực hiện thay.
5
Chia phần trong thực hiện nghĩa vụ dân sự liên đới
Nghĩa vụ dân sự liên đới hiểu ở một khía cạnh nào đó là nghĩa vụ dân
sự không thể phân chia. Nhưng vấn đề đặt ra nếu đã là không thể phân chia
thì làm sao có thể xác định phần trách nhiệm của mỗi người để sau này đặt
ra vấn đề hoàn lại nếu một trong những người có nghĩa vụ thực hiện toàn bộ
nghĩa vụ đối với chủ thể có quyền. Và trong các quy phạm pháp luật điều
chỉnh quan hệ nghĩa vụ dân sự liên đới cũng không đặt ra vấn đề xác đinh
phần trách nhiệm của mỗi chủ thể trong những chủ thể của bên có nghĩa vụ.
Điều này đã dẫn tới một số sai sót trong thực tế xét xử của một số vụ án.
2.2Một số vấn đề trong thực hiện nghĩa vụ dân sự liên đới
2.2.1 Xác định trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự liên đới
còn nhiều bất cập
Nghĩa vụ dân sự liên đới chỉ phát sinh khi các chủ thể có nghĩa vụ liên
đới một mối liên hệ nào đó và có thể là do thỏa thuận hoặc do pháp luật quy
định. Nhưng trong nhiều trường hợp khi có tranh chấp xảy ra, các bên đương
biết việc mượn nợ của chị gái, có chủ động liên lạc với nguyên đơn để
xin trả nợ dần.
Từ đó, tòa đã tuyên buộc chị em ông D. phải liên đới trả 550 triệu đồng
tiền nợ, không tính lãi vì nguyên đơn không yêu cầu. Cả hai cùng phải
nộp 26 triệu đồng án phí.
7
Ở vụ việc này có thể thấy việc tòa án phán quyết buộc ông D phải liên
đới chịu trách nhiệm trả nợ là hết sức phi lí. Tòa án không thể suy luận rằng
“Ông D. có biết việc mượn nợ của chị gái, có chủ động liên lạc với nguyên
đơn để xin trả nợ dần.”. Như đã nói ở trên việc xác định các chủ thể có trách
nhiệm liên đới trong các quan hệ nghĩa vụ dân sự là phải dựa vào mối liên hệ
giữa các chủ thể. Các mối liên hệ này có thể được pháp luật điều chỉnh hay
do các chủ thẻ thỏa thuận mà có. Ở đay rõ rang trước khi xảy ra vụ việc ông
D không hề biết chị gái vay nợ nên không thể có chuyện ông thỏa thuận với
chị gái. Thêm nữa việc chị gái ông sống chung với gia đình ông cũng không
thể xác đinh ông phải có trách nhiệm liên đới trả nợ. Việc ông đứng ra
thương lượng thay chị gái trả nợ không có nghĩa là ông là người đứng ra vay
nợ vì thế việc tòa án buộc ông liên đới trả nợ là hoàn toàn bất cập và trái
luật.
Hay như ở vụ việc dưới đây việc xác định trách nhiệm liên đới đã gây
ra rất nhiều khó khăn cho quá trình thi hành án và hoạt động của doanh
nghiệp:
Theo bản án phúc thẩm số 397, để thực hiện phương án liên doanh đáo
nợ và vay thêm tiền, Phạm Huy Phước đại diện cho Tamexco ký các
hợp đồng liên doanh số 88 ngày 29/12/1994 và số 02 ngày 06/1/1995
với 13 công ty TNHH, nội dung hợp tác đầu tư và kinh doanh đất đai ở
phường 11 (nay là P.12), TP. Vũng Tàu. Sau đó, 13 công ty này đã trực
thiệt hại phải dựa trên nguyên tắc gây thiệt hại đến đâu thì bồi thường
9
đến đó, không thể buộc một người phải bồi thường thiệt hại không do
họ gây ra. Các công ty nêu trên, mỗi công ty bị quy trách nhiệm ký hợp
đồng khống gây thiệt hại 1 triệu USD cho FVB thì mỗi công ty phải
chịu trách nhiệm liên đới cùng Tamexco, Phạm Huy Phước và Trần
Lịnh trong phạm vi 1 triệu USD chứ không phải là liên đới trách nhiệm
trong toàn bộ thiệt hại là 13 triệu USD.
Ở vụ việc này có thể thấy việc tòa án buộc ông Hải là đại đại diên của
Dophin phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thượng toàn bộ 13 triệu Dola cho
Firstvinabank là hoàn toàn không hợp lí. Bởi ở thời điểm vụ việc xảy ra
Dophil chỉ là 1 trong số 13 đơn vụ kí hợp đồng vay tài sản với
Firstvinabank. Không thể căn cứ vào việc Dophil có tham gia kí kết hợp
đồng liên doanh với 13 công ty còn lại để buộc Dophil phải có trách nhiệm
liên đới. Bởi ở đây Tamexco là công ty đã đứng ra bảo lãnh cho cả 13 công
ty, còn Dophil chỉ là một trong số 13 công ty thực hiện vay mà thôi. Thêm
nữa mỗi công ty được ấn định vay 1 triệu Dola là hoàn toàn riêng rẽ và
không liên quan tới nhau.
2.2.2 Xác định nghĩa vụ dân sự liên đới trong các vụ án hình sự.
Trên thực tế hiện nay việc nhiều chủ thể cùng gây ra thiệt hại và pahir
liên đới bồi thường khá phổ biến, nhất là hiện nay xu hướng bạo lực trong
giới trẻ khá phổ biến, các vụ đánh hội đồng, gây hậu quả nghiêm trọng
thường xuyên xảy ra. Ở các vụ việc này tào án không chỉ gặp khó khăn trong
việc đưa ra mức lượng hình đối với hành va đánh người gây thương tích mà
còn rất khó khăn trong việc quyết định mức bồi thường và trách nhiệm bồi
thường của các bị cáo cho nạn nhân. Thường thì tòa án sẽ quyết định các bị
cáo có trách nhiệm liên đới bồi thường cho gia đình nạn nhân mà không đưa
10
Khoảng 2h sáng ngày 2/5/2009, tổ 2 của Giang phát hiện thấy anh Trần
Văn Sơn (37 tuổi, tạm trú tại Chúc Sơn – Chương Mỹ - Hà Nội) điều
kiển xe máy Wave, chở anh Nguyễn Vinh Quang (29 tuổi, trú tại Phú
Lâm – Hà Đông – Hà Nội) đi trên tỉnh lộ 419, hướng về Quốc Oai. Anh
Quang ngồi sau mang theo bao tải dứa và cầm 1 thanh sắt có một đầu
buộc dây phanh xe đạp thắt thành thòng lọng. Lập tức, Giang hô “Nó
đấy!”.
Hai thanh niên đi xe máy đã bị nhóm thanh niên xông ra đánh túi bụi.
Ngay cả chiếc xe máy của nạn nhân cũng bị đập phá nát bét. Trong quá
trình đánh nạn nhân Sơn, do tiếng la hét gây náo loạn nên nhiều người
dân quanh đó đã tỉnh giấc và ra xem. Có thêm 2 đối tượng là Tống Văn
Giang và Vũ Kim Thế, tuy không tham gia vào nhóm phục kích nhưng
chứng kiến vụ việc cũng xông ra “đánh hôi”.
Về phần anh Quang, chạy thoát thân được khoảng 200m thì bị các đối
tượng đuổi kịp và cũng bị chém, đấm, đá hội đồng. Chỉ đến khi có sự
xuất hiện của công an, hai nạn nhân mới được giải thoát và đưa đi cấp
cứu. Do vết thương quá nặng, anh Sơn đã chết sau đó.
Trước khi xét xử, gia đình bị hại đã nhận được bồi thường từ các bị cáo
tổng cộng 55 triệu đồng nên đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các
bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa, ông Trần Văn Long (bố đẻ anh Sơn) đã
rút lại đề nghị này và chỉ xin giảm hình phạt cho những bị cáo thực sự
ăn năn, biết lỗi.
12
Với các tình tiết trên, cùng với nhân thân tốt của các bị cáo, HĐXX đã
tuyên phạt Vũ Tuấn Giang 12 năm tù. 10 bị cáo còn lại chịu mức án 710 năm tù. Ngoài ra, các bị cáo còn phải liên đới bồi thường thêm hơn
20 triệu và 400.000 đồng/tháng cấp dưỡng cho bố mẹ anh Quang.
Ở vụ việc này ta không xét đến nội dung của TNHS mà các bị cáo đã
khi này vấn đề cốt lõi là phải chỉ ra khaonr vay đó có đáp ứng vao cuộc
sống nhằm bảo đảm cuộc sống thiết yếu của gai đình hay không. Trong
nhiều trường hợp để trốn tránh trách nhiệm cả 2 bên vợ,chồng đều tìm mọi
cách phủ trách nhiệm cho người kia. Đây là một điều hết sưc đáng buồn.
2.3Một số phương hướng hoàn thiện
Cóhể khẳng định đa số các vấn đề phát sinh của quan hệ thực hiện
nghĩa vụ dân sựu liên đới đều phát sinh từ việc một số điểm pháp luật quy
định thiếu chặt chẽ hoặc tồn tại một số bất cập. Vì vậy việc bổ sung hoàn
thiện hệ thống pháp luật là hết sức cần thiết.
Trước hết cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về nghĩa vụ dân sự liên
đới . Khoản 1 điều 298 BLDS nên bỏ đi cụm từ “thực hiện toàn bộ”, và thay
thế vào đó cụm từ “thực hiện phần nghĩa vụ của người khác.
Luật cần quy định việc xác định phần nghĩa vụ của mỗi chủ thể trong
khối nghĩa vụ liên đới. Bởi chỉ có như thế mới hạn chế được các sai sót
trong việc áp dựng pháp luật để giải quyết vụ việc của tòa án cũng như hạn
chế tranh chấp có thể xáy ra sau này giữa các chủ thể có nghĩa vụ.
14
Tiếp đó việc bắt một chủ thể nào đó phải chịu rủi ro khi phải thực hiện
thay phần của một chủ thể đã “chết” là hoàn toàn bất cập. Khi ấy có thể nên
có quy định việc các chủ thể thuộc bên có quyền và bên có nghĩa vụ mỗi bên
cùng phải gánh chịu một phần nào đó sẽ hợp tình, hợp lí hơn.
III.Kết luận
Như vậy có thể thấy bên cạnh những mặt đa được thì quan hệ thực
hiện nghĩa vụ dân sự cũng còn tồn tại rất nhiều vấn đề cả trong lí luận và
thực tiễn. Do đó yêu cầu đặt ra là cần nhanh chóng khắc phục những vấn đề
còn hạn chế, bất cập này.
16
MỤC LỤC
I.Lời mở đầu……………………… …………………………….1
IIGiải quyết vấn đề………………………………………………1
1.Cơ sở lí luận…………………….……………………………1
1.1Khái niệm thực hiện nghĩa vụ dân sự liên đới………………………1
1.2Nội dung của thực hiện nghĩa vụ dân sự liên đới…………………...2
2. Một số vấn đề trong thực hiện nghĩa vụ dân sự liên đới……..3
2.1 Một số vấn đề lí luận……………………………………….3
2.1.1 Nghĩa vụ dân sự liên đới trong quan hệ hoàn lại…………………3
2.1.2 Đối tượng của thực hiện nghĩa vụ dân sự liên đới ………………4
2.1.3 Quan hệ liên đới trong trường hợp một trong số những chủ thể có
nghĩa vụ “chết” mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ…………………5
2.1.4Chia phần trong thực hiện nghĩa vụ dân sự liên đới……… ……6
2.2.Một số vấn đề trong thực hiện nghĩa vụ dân sự liên đới….6
2.2.1Xác định trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự liên đới còn
nhiều bất cập……………………………………………………………… ..6
2.2.2 Xác định nghĩa vụ dân sự liên đới trong các vụ án hình sự……10
2.2.3 Nghĩa vụ liên đới của vợ chồng……… ……………13
2.3 Một số phương hướng hoàn thiện………………………13
III.KẾT LUẬN……………………………………………………………16
17