Tiểu luận sự hình thành và phát triển của phép biện chứng duy vật trong triết học mác lênin - Pdf 34

BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------

BÀI TẬP NHÓM
CHUYÊN ĐỀ 3
Đề tài: Sự hình thành và phát triển của phép biện
chứng duy vật trong Triết học Mác-Lênin
CHUYÊN NGÀNH

:

Triết học

LỚP

:

CH23UD

NHÓM

:

9


Hà Nội - 01/2016

DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 9


7

Nguyễn Đức Quang (Nhóm trưởng)

8

Nguyễn Thị Quyền

2


9

Đặng Thúy Quỳnh

10

Nguyễn Thị Thảo

11

Trần Thị Thảo

3


MỞ ĐẦU
Thuật ngữ biện chứng “dialektica” lần đầu tiên xuất hiện ở Hy Lạp cổ
đại và được hiểu là đàm thoại, tranh luận.
Trong triết học Mác, thuật ngữ biện chứng được dùng đối lập với siêu

với sự ra đời của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản cũng được hình thành và phát
triển mạnh mẽ.
Khi ra đời giai cấp tư sản củng cố địa vị của mình và thiết lập một quan hệ
bóc lột mới, từ sự bóc lột đó đã làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt,
biểu hiện ra ngoài là các cuộc khởi nghĩa của phong trào công nhân nổ ra ở khắp
các nước châu Âu. Tiêu biểu như: khởi nghĩa của công nhân Pháp 1831 – 1834;
Hiến trương của công nhân Anh 1835 -1848; khởi nghĩa của công nhân Đức
1844…v.v…
Phong trào công nhân cần một hệ tư tưởng soi đường. Xuất phát từ thực
tiễn chủ nghĩa Mác ra đời đã đáp ứng được yêu cầu đó.
* Tiền đề lý luận:
- Triết học cổ điển Đức, Mác – Ăngghen phê phán tư tưởng siêu hình của
Phoiơ Bắc, chủ nghĩa duy tâm của Hê Ghen đồng thời kế thừa chủ nghĩa duy vật
của Phoiơ Bắc, Phép biện chứng của Hê Ghen hình thành lên phép biện chứng
duy vật của mình.
5


- Kinh tế chính trị học cổ điển Anh: Mác kế thừa tư tưởng của các nhà
kinh tế chính trị cổ điển Anh như: A. Xmít, Đricacđô kế thừa những yếu tố khoa
học trong lý luận về giá trị lao động và những tư tưởng tiến bộ. Mác đã giải
quyết những bế tắc mà các nhà kinh tế chính trị cổ điển Anh đã không thể vượt
qua để xây dựng lên học thuyết giá trị thặng dư của mình.
- Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp: các nhà tư tưởng Pháp như: Ôoen,
H. Xanh Ximông, S.Phuriê. Các nhà không tưởng đã nêu cao tinh thần nhân đạo
và chỉ ra cảnh khốn cùng của người lao động trong nền sản xuất TBCN. đồng
thời phê phán mạnh mẽ, vạch trần bản chất bóc lột của CNTB. Tuy nhiên các
ông không luận chứng được một cách khoa học về bản chất của chủ nghĩa tư
bản, cũng như không thấy được sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Trên cơ
sở phê phán và kế thừa Mác đã xây dựng lý luận khoa học về chủ nghĩa xã hội

Ăngghen
Các Mác (5/5/1818- 14/3/1883) sinh ra trong một gia đình luật sư ở thành
phố Tơrevơ của nước Đức. Bố ông là một luật sư có tư tưởng tiến bộ, đánh giá
cao phái khai sáng Pháp và chế độ dân chủ tư sản được xác lập ở Pháp, nhưng
không có khuynh hướng cách mạng. Ông có một ảnh hưởng lớn đến việc học tập
và phấn đấu của C. Mác. Ông muốn C. Mác trở thành luật sư một viên chức nhà
nước. Năm 1835, sau khi tốt nghiệp trung học, C. Mác vào học luật tại trường
đại học Bon. Đến năm 1836 chuyển sang trường Đại học Tổng hợp Beclin (1836
- 1841). Tại đây, Mác đã nghiên cứu triết học và lịch sử.
Năm 1837 khi học tại trường Đại học Beclin, C. Mác bắt đầu làm quen với
triết học Hegel. Mác say mê nghiên cứu triết học, coi đó như niềm say mê của
nhận thức nhằm giải đáp cho vấn đề giải phóng con người. Cũng thời gian này,
ông tham gia phái Hegel trẻ.
Tác phẩm khoa học đầu tiên của Mác hồi trẻ là luận án tiến sỹ về đề tài: "
Sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcơrít và triết học tự nhiên của
7


Êpiquya" được bảo vệ năm 1841. Trong tác phẩm này, về cơ bản Mác vẫn còn
đứng trên lập trường duy tâm của Hegel, coi ý thức của con người là động lực
phát triển của lịch sử nhân loại, song Mác cũng đã bộc lộ những quan điểm vô
thần và tinh thần dân chủ cách mạng trái với Hegel. Ông đánh giá cao vai trò
của Êpiquya trong việc làm phong phú nguyên tử luận của Đêmôcrit. Trong luận
án cũng manh nha tư tưởng về mối quan hệ biện chứng giữa tư duy và tồn tại
thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Tham gia trong phái Hegel trẻ nhưng Mác có quan niệm trái với Hegel và
phái Hegel trẻ về vai trò của phép biện chứng và triết học nói chung. Ông nói
rằng phép biện chứng là "dòng suối cuồn cuộn" phá vỡ và lật đổ mọi hiện thực
cũ lỗi thời, hạn chế.
Như vậy, ngay từ buổi đầu hoạt động chính trị, xã hội và khoa học, mặc dù

sang chủ nghĩa duy vật biện chứng
Sự chuyển biến bước đầu diễn ra trong thời kỳ Mác làm việc ở báo
sông Ranh (từ tháng 5/1842 đến 4/1843). Nội dung cơ bản của những bài báo
của ông ở đây là bảo vệ lợi ích của những người lao động nghèo khổ, đấu tranh
cho dân chủ và tự do thực sự. Vì thế ngày 1/4/1843 chính phủ Phổ ra lệnh đóng
cửa tờ báo.
Ở thời kỳ này, Mác ngày càng xa rời chủ nghĩa duy tâm. Lênin nhận xét
rằng, Báo sông Ranh năm 1842 đã để lộ rõ bước đầu chuyển hướng của Mác...
từ chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa xã hội khoa học.
Tủ tháng 5/1843-10/1843, sau khi báo sông Ranh bị đóng cửa, Mác tiến
hành viết cuốn "Phê phán triết học pháp quyền của Hegel" đồng thời nghiên cứu
lịch sử một cách cơ bản. Trong khi phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hegel, Mác
đã nồng nhiệt tiếp nhận quan điểm duy vật của triết học Phoiơbắc. Song Mác lại
thấy được những mặt yếu trong triết học của Phoiơbắc. Ông không tán thành đạo
đức học của Phoiơbắc, việc Phoiơbắc cố gắng đi tìm ý nghĩa đạo đức trong tín
ngưỡng tôn giáo, nhất là việc quá nhấn mạnh đến tự nhiên mà xa rời những vấn
9


đề chính trị thực tiễn. Khi từ bỏ chủ nghĩa duy tâm của Hegel, Phoiơbắc vứt bỏ
luôn cả phép biện chứng- hạt nhân hợp lý nhất của triết học Hegel mà theo Mác
cần phải giữ lại và phát triển lên.
Tháng 11/1843, Mác chuyển sang Pari để xuất bản tờ Niên giám Pháp Đức. Ông có điều kiện để nghiên cứu phong trào công nhân, CNXH không
tưởng Pháp & Anh, triết học duy vật Pháp TK XVIII. Các bài báo của Mác Góp
phần vào vấn đề châu Âu và Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel.
Lời nói đầu đăng trong tạp chí Niên giám Pháp - Đức được xuất bản tháng
2/1844 đã đánh dấu bước hoàn thành sự chuyển biến của Mác từ CNDT sang
CNDV. Trong các tác phẩm này, Mác đã dứt khoát đoạn tuyệt với chủ nghĩa duy
tâm và chống lại lãnh tụ của phái Hegel trẻ là Brunô Baue. Các tác phẩm này

khắc phục được hạn chế của triết học Phoiơbắc.
Đồng thời với Mác, những quan điểm triết học và chính trị của Ăngghen
cũng phát triển thêm. Năm 1844, Ăngghen sống ở Anh. Ông đã tiếp xúc với
phong trào công nhân, tìm hiểu đời sống của công nhân và viết tác phẩm: "Tình
cảnh của giai cấp công nhân Anh" (viết cuối năm 1844- đầu năm 1845, xuất bản
năm 1845).
Như vậy, đến cuối năm 1844, Mác & Ăngghen hoạt động độc lập với nhau
nhưng đã đi đến những quan điểm giống nhau trên nhiều vấn đề cơ bản của triết
học, của đời sống xã hội và nhiệm vụ của giai cấp vô sản. Một trong những đặc
điểm nổi bật của quá trình này là sự chuyển hướng hoàn toàn từ CNDT sang
CNDVBC và từ lập trường chính trị dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa xã hội
khoa học.
Từ tháng 9 đến tháng 11 năm 1844, Mác & Ăngghen viết chung tác phẩm
"Gia đình thần thánh hay là phê phán sự phê phán có tính phê phán. Chống
Brunô Bauơ và đồng bọn" xuất bản vào tháng 2/1945. Trong tác phẩm này, Mác
& Ăngghen đã phê phán một cách có hệ thống quan điểm sai lầm duy tâm về
lịch sử của phái Hegel trẻ, đứng đầu là anh em nhà Bauơ. Vạch rõ ranh giới giữa
11


mình với phái Hegel trẻ về quan điểm triết học và chính trị, từ đó, trình bày
những nguyên lý của CNDVBC & CNDVLS.
Cùng với việc xuất bản tác phẩm "Gia đình thần thánh..." đầu năm 1845,
Mác viết "Luận cương về Phoiơbắc". Trong tác phẩm này, Mác đã vạch rõ
những thiếu sót cơ bản của chủ nghĩa duy vật trước Mác bao gồm cả triết học
của Phoiơbắc.
Năm 1845- 1846 hai ông đã viết chung tác phẩm: "Hệ tư tưởng Đức" (bắt
đầu từ tháng 11/1845 và hoàn thành vào tháng 4/1846). Đây là tác phẩm triết
học quan trọng của Mác & Ăngghen, đánh dấu bước tiến mới trong thời kỳ hình
thành chủ nghĩa Mác.

kinh tế - chính trị, đặc biệt là trong Tư bản (tập I được xuất bản vào năm l867).
Hai ông đã vận dụng các nguyên lý của CNDVBC & CNDVLS như là cơ sở
phương pháp luận khoa học để nghiên cứu những vấn đề kinh tế, chính trị, xã
hội, phát hiện ra những quy luật chi phối sự vận động phát triển của xã hội nói
chung và xã hội tư bản nói riêng.
Thời kỳ Công xã Pari (1871) Mác viết Nội chiến ở Pháp nhằm tổng kết
kinh nghiệm đấu tranh của Công xã và tiếp tục phát triển những nguyên lý của
CNDVLS về các vấn đề nhà nước, cách mạng. Từ sau 1871, Mác chủ yếu đi vào
nghiên cứu các vấn đề lý luận kinh tế - chính trị, tiếp tục viết tác phẩm "Tư bản",
còn Ph.Ăngghen đi vào các vấn đề lý luận của khoa học tự nhiên.
Năm 1875, Mác viết tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gôta. Đây là tác phẩm
lý luận quan trọng bậc nhất của chủ nghĩa Mác sau "Tuyên ngôn Đảng cộng sản"
và bộ "Tư bản". Trong tác phẩm này, Mác làm sâu sắc và phong phú hơn học
thuyết về hình thái kinh tế - xã hội, phát triển hơn nữa học thuyết mác xít về nhà
nước và cách mạng; ông đã đưa ra và luận chủng về tính tất yếu lịch sử của một
thời kỳ quá độ đặc biệt từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản.
Tác phẩm Ông Đuyrinh đảo lộn khoa học (chống Đuyrinh) của Ăngghen
được viết từ năm 1876 - 1878có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển triết
học Mác và chủ nghĩa Mác nói chung. Trong tác phẩm này, Ăngghen đã khái
13


quát lịch sử phát triển của triết học từ cổ đại, khái quát các thành tựu của khoa
học tự nhiên đến giữa thế kỷ XIX để luận chứng một cách sâu sắc và rõ ràng
những nguyên lý của triết học mác xít, những phạm trù, những quy luật của
phép biện chứng duy vật của CNDVBC & CNDVLS. Quan điểm duy vật biện
chứng trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học thể hiện một cách sâu
sắc. Ông đã phát triển những luận điểm cơ bản của triết học duy vật đưa ra định
nghĩa kinh điển về vận động của vật chất và phép biện chứng. Cuốn sách có một
ý nghĩa to lớn, được coi như cuốn tóm tắt có tính chất bách khoa về quan niệm

định sự chín muồi của thế giới quan triết học mác xít.
2. Thời kỳ Lê nin
V.I. Lênin (1870 - 1924) đã phát triển triết học Mác lên một giai đoạn mới
cao hơn, phản ánh yêu cầu của thời đại mới.
Giai đoạn Lênin trong sự phát triển triết học Mác được chia thành hai thời
kỳ chủ yếu: Một là thời kỳ 1893 - 1907 và hai là thời kỳ 1907 đến 1917 và sau
đó.
Thời kỳ 1893 – 1907 là thời kỳ Lênin tiến hành cuộc đấu tranh kiên quyết
chống phái dân tuý, chông chủ nghĩa duy tâm và phương pháp siêu hình của nó,
bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Trong thời kỳ này, Lênin đã viết hàng loạt tác phẩm quan trọng như:
Những "người bạn dân" là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ
- xã hội ra sao ? (1894); Nội dung kinh tế của chủ nghĩa dân túy và sự phê phán
trong cuốn sách của ông Xtơruvê về nội dung đó (1894); Chúng ta từ bỏ di sản
nào? (l897); Làm gì? (1902); Hai sách lược của Đảng dân chủ- xã hội trong
cách mạng dân chủ (1905) v.v.
Lênin đã phát triển nhiều vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác nói chung và
triết học Mác nói riêng, gắn việc phát triển lý luận với thực tiễn phong trào đấu
tranh cách mạng của công nhân Nga, chống lại sự xuyên tạc chủ nghĩa Mác dưới
nhiều hình thức khác nhau, tạo điều kiện cho sự phát triển ở thời kỳ sau.

15


Thời kỳ 1907 – 1917, Lênin đã tiến hành cuộc đấu tranh kiên quyết chống
lại mọi trào lưu triết học phản mác xít, bảo vệ và phát triển triết học Mác. Năm
1908 người viết tác phẩm triết học nổi tiếng: Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
kinh nghiệm phê phán (xuất bản tháng 5/1909). Ông đã khái quát về mặt triết
học những thành tựu mới nhất của KHTN, phê phán toàn diện triết học duy tâm
và chủ nghĩa xét lại trong triết học, phát triển lý luận duy vật biện chứng về nhận

xít, Lênin đã tiến hành cuộc đấu tranh không khoan nhượng chống phép siêu
hình, chủ nghĩa chiết trung và thuyết nguỵ biện. Điều đó được thể hiện rõ trong
các tác phẩm Lênin viết ở thời kỳ này như: "Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong
trào cộng sản (l920)"; "Lại bàn về công đoàn, về tình hình trước mắt và về
những sai lầm của các đồng chí Tơrôtxki và Bukharin (1921) "; "Về chính sách
kinh tế mới" (1921).
Đặc biệt, cần phải kể đến bài báo của Lênin viết năm 1922: Về tác dụng
của chủ nghĩa duy vật chiến đấu - có thể coi là di chúc triết học của Lênin.

17


KẾT LUẬN
Xuyên suốt chiều dài lịch sử nhiều thế kỷ hình thành và phát triển từ phép
biện chứng cổ đại cho đến phép biện chứng duy tâm Hê ghen của triết học cổ
điển Đức và đạt tới đỉnh cao là phép biện chứng duy vật mác xít thì phép biện
chứng luôn là công cụ sắc bén, là chìa khóa giúp con người nhận thức và cải tạo
thế giới để phục vụ nhu chính bản thân con người.
Thực tiễn cách mạng chứng minh sự cần thiết phải nghiên cứu và vận dụng
phép biện chứng duy vật mác xít vào hoạt động nhận thức và cải tạo hiện thực
của con người. Điều này đặt ra một nhu cầu tất yếu của lịch sử nhân loại là tiếp
tục phát triển và hoàn thiện phép biện chứng duy vật mác xít cho phù hợp với
điều kiện mới…Với tính chất cách mạng và khoa học của mình, phép biện
chứng duy vật đã mở ra một phương pháp nhận thức thế giới toàn diện nhất và
khoa học nhất cho lịch sử nhân loại mãi về sau.
Việc nghiên cứu sự hình thành và phát triển của phép biện chứng duy vật
Mác - Lê nin là một việc làm cần thiết, không chỉ có ý nghĩa lý luận sâu sắc mà
còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn.

18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status