ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN TOẢN
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI ĐỊA PHƯƠNG
NUÔI TẠI TRẠM NGHIÊN CỨU ĐỒN ĐÈN - BẮC KẠN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Lớp: K43 - CNTY
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khoá học: 2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Trần Văn Phùng
THÁI NGUYÊN - 2015
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên, tôi đã nhận được sự dạy bảo tận tình của các thầy giáo, cô
giáo. Nhờ vậy, tôi đã được các thầy giáo, cô giáo trang bị những kiến thức
khoa học kỹ thuật cũng như đạo đức tư cách người cán bộ tương lai. Thầy
cô đã trang bị cho tôi đầy đủ hành trang và một lòng tin vững bước vào đời,
vào cuộc sống và sự nghiệp sau này.
Để có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng
của bản thân. Tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo, cô giáo
thực tiễn sản xuất, sáng tạo khi ra trường trở thành một người cán bộ khoa
học có chuyên môn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự
nghiệp phát triển đất nước.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và sự đồng ý của Ban chủ
nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, của
thầy giáo hướng dẫn cũng như được sự tiếp nhận của cơ sở, tôi tiến hành
nghiên cứu chuyên đề: “Nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái địa
phương nuôi tại Trạm nghiên cứu Đồn Đèn - Bắc Kạn”.
Trong thời gian thự tập tại trại, được sự giúp đỡ tận tình của anh, chị
công nhân trong trại, thầy giáo cùng sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm ................................................................... 22
Bảng 4.1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ................................................. 37
Bảng 4.2. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái................................... 39
Bảng 4.3. Chỉ tiêu số lượng lợn con đẻ ra....................................................... 41
Bảng 4.4. Khối lượng lợn con qua các kỳ cân (Kg) ....................................... 43
Bảng 4.5. Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm. ............................... 44
Bảng 4.6. Sinh trưởng tương đối của lợn con qua các kỳ cân (%) ................. 46
Bảng 4.7. Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con lúc 56 ngày tuổi ................................. 47
Bảng 4.8. Chi phí thức ăn/ kg lợn con lúc 56 ngày tuổi ................................. 48
Bảng 4.9. Tình hình mắc bệnh của lợn con .................................................... 49
iv
vi
MỤC LỤC
Phần 1. MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu của đề tài ..................................................................................... 1
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3
2.1. Cơ sở khoa học ........................................................................................... 3
2.1.1. Đặc điểm giống lợn địa phương nuôi tại tỉnh Bắc Kạn ...................... 3
2.1.2. Các tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái ..................................... 5
2.1.3. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái ................................................ 6
2.1.4. Các chỉ tiêu đánh giá sức sinh sản của lợn nái.................................... 7
2.1.5. Đặc điểm sinh trưởng của lợn con theo mẹ ...................................... 10
2.1.6. Cơ sở khoa học của việc cho lai tạo giữa lợn đực rừng và lợn nái
địa phương .................................................................................................. 14
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 16
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước...................................................... 16
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới.................................................... 18
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..21
3.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................... 21
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ............................................................ 21
3.3. Nội dung ................................................................................................... 21
3.3.1. Công tác phục vụ sản xuất ................................................................ 21
3.3.2. Chuyên đề nghiên cứu ....................................................................... 21
3.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 22
3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm.......................................................... 22
3.4.2. Các chỉ tiêu theo dõi.......................................................................... 24
trí quan trọng. Nó cung cấp phần lớn lượng thịt cho tiêu dùng và phân bón
cho ngành trồng trọt.
Ngày nay, cùng với xu thế phát triển mạnh của nền kinh tế, những
giống vật nuôi địa phương, chăn nuôi theo phương thức truyền thống đang
được đông đảo người dân quan tâm và có nhu cầu muốn được sử dụng sản
phẩm thịt của những giống vật nuôi này, trong đó có các giống lợn. Ở khu vực
miền núi phía Bắc, có một số giống lợn địa phương được nuôi chăn thả tự do,
có chất lượng thịt thơm ngon, phù hợp với khẩu vị của người Việt Nam, đang
rất được ưa chuộng và trở thành “đặc sản” có giá trị trên thị trường bởi ưu thế
về chất lượng, lại chịu đựng kham khổ và thích ứng rất tốt với tập quán chăn
nuôi của người dân. Tuy nhiên, các giống lợn địa phương này có hạn chế là tỷ
lệ mỡ khá cao, khả năng sinh sản thấp, đẻ ít con/lứa... vì vậy cần thiết nghiên
cứu và cho lai một số giống lợn địa phương với lợn rừng để tạo ra con lai có
chất lượng thịt cao hơn đảm bảo đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm
Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với
sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập, tôi tiến thực hiện
chuyên đề: “Nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn địa phương nuôi tại
Trạm nghiên cứu Đồn Đèn - Bắc Kạn”.
1.2. Mục tiêu của đề tài
Xác định được đặc điểm sinh lý sinh dục và khả năng sinh sản của đàn
lợn nái địa phương nuôi tại Trạm nghiên cứu Đồn Đèn - Trung tâm ứng dụng
2
KHCN tỉnh Bắc Kạn, là cơ sở để phát triển ngành chăn nuôi lợn của người
dân thuộc các huyện khu vực miền núi của tỉnh.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa khoa học:
Số liệu nghiên cứu của đề tài này sẽ là tài liệu đóng góp vào cơ sở dữ
phương có những ưu điểm nổi bật như rất phù hợp với điều kiện tự nhiên
miền núi phía Bắc, điều kiện canh tác của nhân dân miền núi, khả năng chịu
đựng kham khổ cao, thích hợp với phương thức chăn nuôi chăn thả. Thịt và
mỡ lợn thơm ngon, được người dân ưa chuộng (Đặc biệt nhóm lợn đen tuyền
đang được coi là hàng đặc sản). Tuy nhiên, lợn cũng có nhiều nhược điểm
như kết cấu ngoại hình xấu, lưng võng, bụng xệ, tầm vóc nhỏ, đẻ ít con, sinh
trưởng chậm. Mặc dù có một số nhược điểm như vậy, nhưng đây vẫn là con
vật được người dân địa phương ưa chuộng và nuôi nhiều. Do một số quan
niệm chưa khoa học của người dân trong công tác chọn giống và chăm sóc
nuôi dưỡng, cùng với xu thế phát triển hiện nay, với trào lưu phát triển của
ii
LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình học trong nhà trường, thực hiện phương
châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết đi đôi với thực tiễn sản xuất”. Giai
đoạn thực tập chuyên đề rất quan trọng đối với mỗi sinh viên củng cố và hệ
thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, củng cố tay nghề. Đồng thời, tạo
cho mình sự tự lập, lòng yêu nghề, có phong cách làm việc đúng đắn, năng
lực làm việc đáp ứng nhu cầu của thực tiễn sản xuất. Nắm được phương pháp
tổ chức và tiến hành nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
thực tiễn sản xuất, sáng tạo khi ra trường trở thành một người cán bộ khoa
học có chuyên môn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự
nghiệp phát triển đất nước.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và sự đồng ý của Ban chủ
nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, của
thầy giáo hướng dẫn cũng như được sự tiếp nhận của cơ sở, tôi tiến hành
nghiên cứu chuyên đề: “Nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái địa
phương nuôi tại Trạm nghiên cứu Đồn Đèn - Bắc Kạn”.
Đình Miên), 1975) [14]
Thông thường người ta đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái bằng
cách tính số con đẻ ra và số con sống trong một lứa, khối lượng sơ sinh, khối
6
lượng cai sữa, tỷ lệ nuôi sống, độ đồng đều của các con trong lứa. Ngoài ra
cũng phải đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ. Do lợn nái không có bể sữa
do đó không thể đo lượng sữa của lợn mẹ bằng cách vắt sữa mà chỉ có thể
tính lượng sữa bằng phương pháp gián tiếp thông qua khối lượng đàn con.
2.1.3. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái
* Sự thành thục về sinh dục của lợn nái:
Ở lợn nái cũng như nhiều loài gia súc khác, sinh dục là quá trình sinh lý
rất quan trọng của gia súc trong việc duy trì nòi giống. Sau khi được sinh ra, cơ
thể gia súc tiếp tục được sinh trưởng và phát triển đến mức độ nhất định thì gia
súc cái có khả năng hoạt động sinh dục thể hiện bằng lần động dục đầu tiên.
Sự thành thục về tính dục được thể hiện qua việc xuất hiện sự phát triển
của các đặc tính sinh dục phụ, hoàn thiện các chức năng sinh sản và xuất hiện
các biểu hiện sinh dục đầu tiên như động dục. Trong điều kiện chăm sóc nuôi
dưỡng khác nhau có thể chi phối tuổi thành thục sinh dục. Nếu quá trình được
thúc đẩy nhanh do nuôi dưỡng tốt thì con vật sẽ thành thục tính dục sớm và
ngược lại. Ngoài ra các yếu tố thời tiết và mùa vụ cũng ảnh hưởng đến sự
thành thục về tính dục (Nguyễn Tấn Anh, 1995) [2].
Tác giả Võ Trọng Hốt và cộng sự, 2000 [10] cho biết: tuổi thành thục
về tính của các giống lợn nội như lợn Móng Cái, lợn Ỉ khoảng 4-6 tháng tuổi,
sớm hơn so với các giống lợn Landrace, Yorkshire (6-8 tháng tuổi).
* Chu kỳ động dục:
Chu kỳ động dục của lợn nái là khoảng thời gian tính từ lần động dục
trước đến lần động dục sau. Thông thường sau khi thành thục về tính dục thì
lợn cái bắt đầu có biểu hiện về động dục lần thứ nhất, thường biểu hiện không
lý của người chăn nuôi.
- Khối lượng 21 ngày tuổi: Là khối lượng lợn con được cân lúc 21 ngày
tuổi. Chỉ tiêu này để đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ.
8
- Khối lượng cai sữa: Là khối lượng lợn con được cân lúc cai sữa, tuỳ
theo điều kiện và phương thức chăn nuôi mà người ta tiến hành cai sữa lúc 21,
28, 35, 42 ngày hoặc 60 ngày tuổi.
- Số lượng lợn con cai sữa/lứa: Là số lợn con còn sống đến cai sữa. Đây
là chỉ tiêu quan trọng, góp phần quyết định năng suất chăn nuôi lợn nái.
- Khoảng cách lứa đẻ: Là khoảng thời gian từ khi con nái đẻ lứa trước
đến khi con nái đẻ lứa sau bao gồm cả thời gian chửa, thời gian nuôi con, thời
gian động dục trở lại sau cai sữa, phối giống và có chửa.
* Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
+ Giống: Giống là yếu tố quyết định đến sức sản xuất của lợn nái, giống
và đặc tính của nó gắn liền với năng suất sinh sản. Các giống khác nhau cho
năng suất sinh sản khác nhau.
+ Phương pháp nhân giống: Các phương pháp nhân giống khác nhau sẽ
cho năng suất sinh sản khác nhau. Nếu nhân giống thuần chủng thì năng suất
sinh sản của chúng cũng chính là năng suất sinh sản của giống đó. Còn trong
trường hợp cho lai giống thì năng suất sinh sản của chúng sẽ cao hơn.
+ Tuổi và khối lượng phối giống lần đầu. Tuổi sinh sản của lợn nái ổn
định từ năm tuổi thứ 2 đến năm tuổi thứ 4, sang năm tuổi thứ 5 thì lợn có thể
còn đẻ tốt nhưng con đẻ ra còi cọc, chậm lớn. Do vậy tuổi phối giống lần đầu
ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái. Để có thể giao phối lứa
đầu, lợn nái hậu bị phải thành thục cả về tính và thể vóc. Trong chăn nuôi lợn
nái phải đảm bảo 3 yếu tố cần và đủ đó là: không phối giống cho lợn nái trước
7 tháng tuổi, chỉ phối giống cho lợn nái khi khối lượng cơ thể đối với lợn
ngoại từ 110 - 120kg/con và chỉ phối giống cho lợn nái hậu bị trong khi động
nuôi, người chăn nuôi không nắm vững các đặc điểm sinh lý của lợn con sẽ
không nuôi dưỡng và chăm sóc hợp lý chúng, dẫn đến sinh trưởng chậm, lợn
không khỏe và chất lượng con giống kém.
Trong giai đoạn này, lợn con có những đặc điểm sinh lý đặc trưng
mà chúng ta cần quan tâm để có chế độ dinh dưỡng và chăm sóc thích hợp
cho chúng.
- Lợn con có tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh:
Trong giai đoạn này lợn con sinh trưởng rất nhanh, tầm vóc và thể
trọng tăng dần theo tuổi.
Từ lúc sơ sinh đến lúc cai sữa, khối lượng của lợn con tăng từ 10 đến
12 lần. So với các gia súc khác thì tốc độ sinh trưởng của lợn con tăng nhanh
hơn gấp nhiều lần. Các cơ quan trong cơ thể lợn con cũng thay đổi và tăng lên
nhanh chóng. Hàm lượng nước giảm dần theo tuổi, vật chất khô tăng dần, các
thành phần hóa học trong cơ thể của lợn thay đổi nhanh chóng. Hàm lượng sắt
trong cơ thể lợn con mới sinh ra là 187 g % nhưng đến ngày thứ 20 giảm
xuống còn 40,58 g % sau đó tăng dần đến 60 ngày tuổi thì đạt bằng lúc mới
đẻ ra. Một đặc điểm quan trọng nhất của lợn con theo mẹ là: Sản lượng sữa
mẹ tăng dần từ khi mới đẻ ra tới ngày thứ 15. Tại thời điểm này sản lượng sữa
cao nhất và ổn định cho tới ngày thứ 20 và sau đó giảm dần cho tới ngày thứ
60 là ở mức thấp nhất. Nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng, trong
11
khi đó sữa mẹ sau 3 tuần tuổi giảm đi rõ rệt, dẫn tới lợn con thiếu dinh dưỡng
nếu như không có thức ăn bổ sung thêm.
Khả năng miễn dịch của lợn con trong giai đoạn này cũng có những đặc
điểm đặc biệt. Lợn con mới đẻ trong máu không có γ globulin nhưng sau khi
bú sữa có chứa hàm lượng γ globulin cao, thì hàm lượng kháng thể trong máu
tăng lên một cách nhanh chóng. Sau 3 đến 4 tuần tuổi hàm lượng γ globulin
giảm xuống, đến 5 tháng tăng lên, đạt 65 mg γ globulin trong 100 ml máu.
có tỷ lệ nạc thấp. Ông đã có thí nghiệm trên 2 nhóm lợn trắng và đen thì thấy
lợn đen có các lipaza và amilaza cao hơn ở lợn trắng, trái lại lợn trắng có men
tripxin cao hơn ở lợn đen. Trong dịch tụy của lợn lớn có tới 15 men để tiêu
hóa các chất, song ở lợn con chỉ có 2 men là kimozin và lipaza và sau một
tuần tuổi lợn con có thêm một số men như tripsin và amilase, hoạt tính của
các men cũng tăng dần theo tuổi, từ 1-28 ngày men tripsin tăng gấp 20 lần,
amilasa gấp 30 lần, các men như kimotipxin, protease, amilase, elastase,
carboxipolypeptidase cũng tăng dần theo tuổi của lợn con. Hàm lượng vật
chất khô ở trong dịch tụy cũng tăng dần lên theo tuổi của lợn con. Dịch ruột
do 2 tuyến Bruner và Liberkun tiết ra chứa đầy đủ các men tiêu hóa nhưng ở
lợn con chưa có men lactose, các men tiêu hóa khác có hàm lượng rất thấp
không đủ khả năng để tiêu hóa các thức ăn nhân tạo. Dịch mật của lợn con
trong các tuần tuổi đầu còn hạn chế, khả năng nhũ tương hóa mỡ của lợn con
chưa có.
Theo E. M. Fed (1983) (Trích từ Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn, 2006)
[19], pH trong dạ dày lợn con thay đổi theo tuổi. Ông cũng cho biết khả năng
tiêu hóa protein của lợn con tùy thuộc vào lượng axít tự do ở trong dạ dày và
sau 3 tuần tuổi thì lợn con mới có khả năng này. Tuyến tụy bắt đầu hoạt động
trong thời kỳ bào thai và bào thai càng lớn hoạt động tuyến tụy càng tăng lên,
dịch tụy cũng được phân tiết tăng lên theo tuổi.
13
Qua nghiên cứu chúng ta thấy khả năng tiêu hóa của lợn con ngày càng
tăng rõ rệt.
- Khả năng điều hòa thân nhiệt kém:
Cơ thể lợn con thường sinh ra nhiệt năng, nhiệt năng có thể thải ra môi
trường xung quanh, ngược lại sự thay đổi nhiệt độ môi trường lại ảnh hưởng
trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự sinh nhiệt và tỏa nhiệt của cơ thể, hiện tượng đó
15
xuất cao hơn bố mẹ. Bownan (1959) cho rằng ưu thế lai nói lên sức sống của
con lai, là tính ưu việt của đời con lai so với bố mẹ. Ưu thế lai hiểu theo nghĩa
toàn bộ là sự phát triển mạnh mẽ của toàn bộ khối lượng cơ thể, sự tăng
cường trao đổi chất, tăng trọng nhanh hơn, chống đỡ với bệnh tật tốt
hơn…Ưu thế lai hiểu theo từng mặt, từng tính trạng: có tính trạng phát triển
có tính trạng giữ nguyên, thậm trí có tính trạng giảm sút so với giống gốc.
Trong nhiều trường hợp ưu thế lai là biểu hiện cao hơn trung bình của
hai giống gốc. Để tạo ưu thế lai, người ta phải cho con vật nuôi giao phối
không cận huyết, nhằm tăng cường mức độ dị hợp bằng cách lai giữa các
dòng, các giống, lai xa. Tuy nhiên mức độ biểu hiện ưu thế lai còn phụ thuộc
vào nguồn gốc di truyền của bố mẹ, tính trạng cần xem xét công thức lai và
điều kiện nuôi dưỡng.
Cần phân biệt 3 kiểu ưu thế lai như sau:
Ưu thế lai là của mẹ: là ưu thế lai do kiểu gen mà mẹ con vật gây ra
thông qua điều kiện ngoại cảnh cung cấp cho nó. Chẳng hạn, nếu bản thân mẹ
là con lai, thông qua lượng sữa, khả năng nuôi con khéo… mà con lai có được
ưu thế này.
Ưu thế lai cá thể: là ưu thế lai do kiểu gen của chính con vật gây nên.
Ưu thế lai thế lai của bố: ưu thế lai của bố không bằng ưu thế lai của
mẹ. Có rất ít tính trạng có được ưu thế lai của bố, song cũng có thể thấy rằng,
khả năng thụ thai, tình trạng sức khỏe, tính hăng của con đực lai, chất lượng
tinh dịch… tạo nên ưu thế lai cho đời con của nó.
Nếu như giao phối cận huyết làm tăng mức độ đồng hợp, giảm mức độ
dị hợp của các gen thì ngược lại, lai giống làm tăng mức độ dị hợp, giảm mức
độ đồng hợp của các gen.
Các tính trạng liên quan tới khả năng nuôi sống và khả năng sinh sản có
ưu thế lai cao nhất. Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thường có ưu thế lai
lợn Móng Cái làm nền lai kinh tế ở miền Bắc.
17
Năm 1997, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Lào Cai đã
điều tra nghiên cứu, kết luận giống lợn này phân bố chủ yếu ở 3 xã: Cao Sơn,
Tả thàng, La pán Tẩn. Từ năm 1999, Viện Chăn nuôi phối hợp với Trung tâm
Khuyến nông tỉnh nghiên cứu và bảo tồn quỹ gen tại xã Mường Khương và
Nấm Lư của huyện Mương Khương.
Nguyễn Văn Đức và cs (2004)[8] cho biết lợn Táp Ná là một giống lợn
nội được hình thành và phát triển từ lâu đời trong điều kiện khí hậu đất đai ở
tỉnh Cao Bằng và một số tỉnh lân cận thuộc vùng núi phía Bắc Việt Nam.
Giống lợn này có nguồn gốc từ một giống lợn địa phương nhưng do điều kiện
địa lý đồi núi cao hiểm trở, việc thông thương có nhiều hạn chế, người chăn
nuôi ở vùng núi này chỉ giao dịch mua bán tại chợ Táp Ná. Chính vì vậy,
giống lợn nội này dần dần được nhân dân đặt tên là Táp Ná.
Hiện nay nguồn gen giống lợn Táp Ná được nuôi thử nghiệm tạo các tổ
hợp lai với giống Móng Cái. Các nhóm lợn lai F1 (Táp Ná x Móng Cái) và F1
(Móng Cái x Táp Ná) đang được thử nghiệm vỗ béo để khảo sát khả năng
tăng khối lượng và chất lượng thịt xẻ tại Cao Bằng. Tỷ lệ móc hàm cao
79,06%, tỷ lệ thịt xẻ cũng khá cao 64,68% so với giống lợn nội ở nước ta, tỷ
lệ nạc đạt không cao chỉ đạt 32,90% và tỷ lệ mỡ đạt 46,82%. Khi thử nghiệm
luộc thịt thân và thịt 3 chỉ để đánh giá mùi vị của thịt có mùi vị thơm, ngon,
mềm tương tự như thịt lợn Móng Cái (Nguyễn Thiện và cs, 2005)[21].
Được sự hỗ trợ của chương trình bảo tồn gen vật nuôi thuộc Viện chăn
nuôi Quốc gia Hà Nội, năm 2001, Trường Trung học Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Quảng Trị đã tiến hành nuôi và bảo tồn giống lợn Vân Pa.
Theo phương thức nuôi thả rông, với tổng đàn lợn giống gồm 30 con, trong
đó có 25 con lợn nái, 5 con lợn đực, con giống được mua từ các đồng bào
dân tộc ở vùng miền núi Hướng Hoá và Đakrông. Giống lợn Vân Pa có 2