Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN TIẾN HẢI NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI
ĐỊA PHƢƠNG VÀ SỨC SẢN XUẤT CỦA CON LAI F1
(♀ ĐỊA PHƢƠNG X ♂ RỪNG) NUÔI TẠI NÔNG HỘ
YÊN SƠN - TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. TRƢƠNG HỮU DŨNG
THÁI NGUYÊN - 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tác giả luận văn
Nguyễn Tiến Hải Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu của đề tài 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học của sinh lý sinh sản 4
1.1.1. Những đặc điểm sinh lý sinh sản của gia súc 4
1.1.2. Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái 5
1.1.3. Một số yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của gia súc 8
1.2. Cơ sở khoa học về ưu thế lai và sinh trưởng, cho thịt của gia súc 12
1.2.1. Cơ sở khoa học của ưu thế lai của gia súc 12
1.2.2. Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng và cho thịt của gia súc 15
3.1.3. Năng suất sinh sản của lợn nái Địa phương ở lứa đẻ thứ hai nuôi tại
Yên Sơn - Tuyên Quang 50
3.1.4. Mối tương quan giữa các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái Địa phương nuôi
tại Yên Sơn, Tuyên Quang 53
3.2. Khả năng sinh sản lợn nái Địa phương phối giống với lợn đực Rừng nuôi
tại nông hộ ở Yên Sơn, Tuyên Quang 54
3.3. Khả năng sinh trưởng của lợn lai F1(♀ĐP x ♂R), Địa phương nuôi tại
nông hộ ở Yên Sơn, Tuyên Quang 57
3.3.1. Khả năng sinh trưởng của lợn F1(♀ĐP x ♂R)và Địa phương thuần 57
3.3.2. Sinh trưởng tương đối của lợn F1(♀ĐP x ♂R)và Địa phương thuần 59
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
v
3.3.3. Sinh trưởng tuyệt đối của lợn F1(♀ĐP x ♂R)và Địa phương thuần 60
3.4. Khả năng cho thịt, chất lượng thịt của lợn F1(♀ĐP x ♂R)và Địa phương
nuôi tại Yên Sơn, Tuyên Quang 63
3.4.1. Kết quả mổ khảo sát lợn F1(♀ĐP x ♂R)và Địa phương thuần 63
3.4.2. Kết quả phân tích thành phần hóa học và chất lượng thịt của lợn
F1(♀ĐP x ♂R) và Địa phương nuôi tại nông hộ ở Yên Sơn, Tuyên Quang 66
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 71
1. Kết luận 71
2. Đề nghị 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vi
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Bảng 3.4: Năng suất sinh sản của lợn nái Địa phương ở lứa đẻ thứ hai 51
Bảng 3.5: Mối tương quan giữa các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái Địa
phương thuần 53
Bảng 3.6: Khả năng sinh sản của lợn nái Địa phương thuần phối với lợn
đực Rừng 55
Bảng 3.7: Khả năng sinh trưởng của lợn thí nghiệm 58
Bảng 3.8: Sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm (%) 59
Bảng 3.9: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm (gram/con/ngày) 61
Bảng 3.10: Kết quả mổ khảo sát đàn lợn thí nghiệm 64
Bảng 3.11: Thành phần hóa học của thịt lợn thí nghiệm 67
Bảng 3.12: Kết quả đánh giá chất lượng thịt lợn F1(♀ĐP x ♂R), Địa
phương qua nếm thử 69
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
viii
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 3.1: Biểu đồ sinh trưởng tương đối của lợn F1(♀ĐP x ♂R) và Địa phương . 60
Hình 3.2: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của F1(♀ĐP x ♂R), Địa phương 62
con giống trên đơn vị diện tích (Lê Viết Ly và cộng sự, 2004) [41]. Trong đó
có giống lợn ở các vùng như lợn bản Điện Biên, bản Sơn La, lợn Khủa Quảng
Ngãi, Lợn Vân Pa, Lợn Sóc Tây Nguyên, lợn Pác Nặm các vùng sinh thái
khác nhau xuất hiện từng giống lợn được thuần hóa qua các thế hệ tại vùng
đó. Nói chung các giống lợn này đều cho sản phẩm thịt rất thơm ngon và có
chất lượng dinh dưỡng tốt, an toàn thực phẩm, phù hợp với khẩu vị và nhu
cầu thực phẩm của người dân hiện nay.
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía bắc có rất nhiều giống vật nuôi
được thuần hóa, trong đó có giống lợn Địa phương được các đồng bào dân tộc
nuôi từ nhiều đời cha ông đến nay. Giống này có nhược điểm là khả năng sinh
sản và sinh trưởng thấp. Nhưng lại có ưu điểm dễ nuôi, ít bệnh tật, chất lượng
thịt thơm ngon, thích nghi tốt với điều kiện khí hậu vùng núi và tập quán chăn
nuôi của đồng bào dân tộc. Bên cạnh đó xu thế phát triển chăn nuôi lợn rừng
trong tỉnh cũng rất phát triển, lợn rừng có những đặc điểm về tập tính sinh
hoạt và sinh sản gần giống như lợn bản địa: ăn tạp, đẻ mắn, nuôi con khéo và
đẻ nhiều con, lứa 2 - 3 bình quân là 7,5 và 8 con/ổ. Lợn rừng đời sau sinh ra
khi thuần dưỡng dễ thích nghi với điều kiện nuôi nhốt hoặc bán thả rông
(Tăng Xuân Lưu và cộng sự, 2010) [40].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2
Tuy nhiên vẫn có những vấn đề khó khăn trong chăn nuôi với lợn Rừng
như: Giống lợn rừng hiện này trên thị trường đắt, đầu tư ban đầu lớn, chưa
phù hợp với chăn nuôi trong nông hộ của bà con dân tộc, sản phẩm thịt ra thị
trường có giá cao hơn các sản phẩm thịt khác, chất lượng thịt nhiều nạc dẫn
đến khô thịt cho nên đầu ra sản phẩm gặp khó khăn. Trong khi đó chăn nuôi
lợn Địa phương thì phù hợp với bà con dân tộc tại khu vực. Để tận dụng
những ưu thế lai của từng con giống, phát huy những ưu điểm, khắc phục
nhược điểm, nâng cao chất lượng lợn ở Địa phương, chúng tôi tiến hành cho
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
4
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của sinh lý sinh sản
1.1.1. Những đặc điểm sinh lý sinh sản của gia súc
Sinh sản là một quá trình sinh học hết sức phức tạp của cơ thể động vật
đồng thời là chức năng duy trì giống nòi và tái sản xuất của vật nuôi. Sinh sản
hữu tính là hình thức sinh sản cao nhất và phổ biến nhất ở cơ thể động vật, đó
là quá trình có sự tham gia của hai cơ thể đực và cái, là một quá trình mà ở đó
con đực sản sinh ra tinh trùng, con cái sản sinh ra trứng, thụ tinh giữa tinh
trùng và trứng hình thành hợp tử, hợp tử phát triển trong tử cung của con cái
và sinh ra đời con.
Quá trình sinh sản đối với con cái xẩy ra bắt đầu bằng sự xuất hiện
chu kỳ tính. Chu kì tính là một quá trình sinh lý phức tạp của cơ thể cái sau
khi đã phát triển hoàn toàn và cơ quan sinh dục không có quá trình bệnh lý,
thì trong buồng trứng có quá trình noãn bao thành thục, trứng chín và rụng
trứng. Song song với quá trình rụng trứng thì cơ thể nói chung đặc biệt là
cơ quan sinh dục phát sinh hàng loạt các biến đổi và có sự lặp đi lặp lại có
tính chất chu kì được gọi là chu kì tính. Chu kì này suất hiện khi cơ thể cái
thành thục về tính kết thúc khi già yếu. Thời gian của một chu kì được tính
từ lần rụng trứng trước tới lần sau.
Chu kỳ động dục của lợn cái là một trong các chỉ tiêu quan trọng của
sinh sản và được điều khiển bởi 2 yếu tố thần kinh, thể dịch. Khi các nhân tố
ngoại cảnh như: ánh sáng, nhiệt độ, mùi con đực… tác động và kích thích
vùng dưới đồi (Hypothalamus) giải phóng ra các yếu tố tác động lên tuyến
yên, kích thích thuỳ trước tuyến yên tiết FSH (Folliculo Stimulin Hormone)
và LH (Lutein Stimulin Hormone). FSH kích thích noãn bao phát triển đồng
thời cùng với LH làm cho noãn bao thành thục, chín và rụng trứng. Khi noãn
tiêu này ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất sinh sản:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
6
1.1.2.1.
nái, vì tuổi đẻ lứa đầu ảnh hưởng đến thời gian sinh sản của lợn nái và cũng
ảnh hưởng tới chi phí trong chăn nuôi lợn. Tuổi đẻ lứa đầu, khối lượng con
mẹ lúc phối giống và lứa đẻ có ảnh hưởng rõ rệt đến tính trạng số con sơ
sinh/lứa và khối lượng sơ sinh/lứa (Tạ Bích Duyên, 2003)[26]. Nếu phối
giống sớm cơ thể mẹ chưa thành thục về thể vóc, cơ quan sinh sản chưa thật
hoàn thiện. Do vậy, số con đẻ ra ít, còi cọc và ảnh hưởng tới sự phát triển của
lợn mẹ, nếu phối muộn sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế. Thông thường
người ta bỏ qua lần động dục đầu tiên và phối vào lần động dục thứ 2 hoặc
thứ 3, vì lần động dục đầu tiên số lượng trứng rụng thường ít và chưa ổn định.
4
hoặc 5 tháng tuổi, nhưng tuổi phối giống thích hợp là 7- 8 tháng tuổi và như
vậy tuổi đẻ lứa -
(1997)[81].
1.1.2.2. /ổ
tiêu để xác định năng suất của lợn nái. Tương quan di truyền giữa tính trạng số
con sơ sinh/lứa và số con sơ sinh sống/lứa là rất chặt (Đặng Vũ Bình, 1999)[8].
mẹ đè và đói chiếm 50%, do nhiễm khuẩn chiếm 11,1%, dinh dưỡng kém
chiếm 8%, di truyền chiếm 4,5% và các nguyên nhân khác chiếm 26,4%. Tỷ
lệ chết của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa tuỳ thuộc vào ngày tuổi: dưới 3
ngày tuổi 50%; 3 - 7 ngày tuổi là 18%; từ 8 - 21 ngày tuổi là 17% và từ 22 -
56 ngày tuổi tỷ lệ chết chiếm 15%.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Để rút ngắn khoảng cách lứa đẻ ta chỉ có thể tác động bằng cách rút
ngắn thời gian bú sữa và cai sữa sớm cho lợn con. Nhiều công trình nghiên
cứu đã kết luận: để rút ngắn thời gian sau khi đẻ đến khi phối giống lứa tiếp
theo có kết quả thì phải chăm sóc nuôi dưỡng tốt, đặc
lượng cơ thể lợn con ở 8 tháng tuổi.
Gaustad - (2004)[84] cho rằng thời gian nuôi con dài
hay ngắn đều ảnh hưởng tỷ lệ đẻ và số con sơ sinh sống.
Ngày nay nhiều nước trên thế giới như: Anh, Pháp, Mỹ, Úc, cai sữa cho
lợn con phổ biến ở 21 ngày tuổi do đó đã đạt chỉ số lứa đẻ/nái/năm từ 2,1 - 2,3
lứa với số lợn con cai sữa/nái/năm từ 19 - 23 con (Phùng Thị Vân, 2000)[70].
Như vậy thời gian cai sữa cho lợn con có ảnh hưởng rất lớn đến năng
suất chăn nuôi, như ảnh hưởng đến hao hụt của lợn mẹ. Do đó việc cai sữa
sớm cho lợn con đã trở thành phổ biến ở các cơ sở chăn nuôi.
1.1.3. Một số yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của gia súc
Di truyền là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của gia
súc cái, cùng một giống nhưng những cá thể khác nhau thì có khả năng sinh
sản khác nhau. Khoa học đã chứng minh rằng yếu tố quyết định tính trạng là
gen trong tế bào và được duy trì từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Đực giống có vai trò sản suất tinh trùng để thụ tinh cho tế bào trứng, vì
vậy chất lượng tinh dịch có vai trò quyết định tỷ lệ thụ thai và chất lượng đàn con.
Trong chăn nuôi lợn nái, dinh dưỡng là yếu tố hết sức quan trọng
không những để đảm bảo khả năng sinh sản của lợn nái mà còn quyết định
đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi. Lợn nái ở các giai đoạn khác nhau như hậu bị,
có chửa, nuôi con, chờ phối đều cần được cung cấp đủ về số và chất lượng
các chất dinh dưỡng để có kết quả sinh sản tốt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
9
Nuôi dưỡng tốt lợn nái trước khi động dục có thể làm tăng số lượng trứng
1997)[87]. Mức dinh dưỡng protein thấp trong thời kỳ chửa cuối sẽ làm cho
lợn nái phải huy động dinh dưỡng của cơ thể để nuôi thai, do đó làm giảm khả
năng sống của thai và lợn con khi đẻ cũng như sau khi đẻ, làm giảm khả năng
tiết sữa của lợn mẹ dẫn đến lợn nái sinh sản kém. Nuôi dưỡng lợn nái trong
thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức lyzin thấp và protein thấp sẽ làm suy yếu sự
phát triển của bao noãn, giảm khả năng trưởng thành của tế bào trứng, giảm
số con đẻ ra và số con còn sống trên ổ, tăng tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ và giảm
tốc độ sinh trưởng của lợn con (Yang và cộng sự, 2000)[101]. Podtereba
(1997)[94] xác nhận có 9 axitamin cần thiết đóng vai trò quan trọng trong quá
trình sinh sản và trong quá trình phát triển của phôi. Song mức protein quá
cao trong khẩu phần sẽ không tốt cho lợn nái.
Như vậy cần đảm bảo khẩu phần ăn đẩy đủ cả về lượng và về chất là vô
cùng cần thiết cho quá trình chăn nuôi cũng như nuôi lợn nái sinh sản, đảm
bảo khai thác hiệu quả giống lợn, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Dinh dưỡng là
yếu tố quan trọng thứ 2 sau giống, là tiền đề để phát huy hết khả năng vốn có
của giống. Brumm M.C. và cs (1996) [78] chỉ rõ những lợn cái được nuôi
dưỡng trong những điều kiện dinh dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính trung
bình 188,5 ngày nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ suất hiện vào
234,8 ngày.
Năng lượng rất cần thiết cho sự sống, với lợn cái hậu bị thì năng lượng
cần cho duy trì sự sống đảm bảo cho lợn sinh trưởng, phát triển bình thường,
với lợn cái chửa ngoài duy trì sự sống thì cần thêm năng lượng để nuôi bào
thai, tiết sữa nuôi con. Nếu khẩu phần thiếu Ca, P thì bào thai phát triển kém,
con đẻ ra dễ bị còi xương ,chậm lớn, mẹ dễ bị bại liệt, ảnh hưởng trực tiếp tới
khả năng sinh sản. Ngoài ra những yếu tố vi lượng là những chất có hàm
lượng rất nhỏ trong cơ thể giống vật nuôi tuy nhiên chúng lại không thế thiếu
vì những chất này góp phần rất quan trong quá trình sinh sản của vật nuôi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
12
Các hormon có tác dụng chính trong quá trình sinh sản của gia súc cái
bao gồm có kích dục tố (GSH), kích nhũ tố (Prolactin), Oestrogen,
Progesteron, ProlanA, ProlanB, Relaxin và Prostagladin.
1.2. Cơ sở khoa học về ƣu thế lai và sinh trƣởng, cho thịt của gia súc
1.2.1. Cơ sở khoa học của ưu thế lai của gia súc
1.2.1.1. Lai giống
Lai giống là cho giao phối những động vật thuộc hai hay nhiều giống khác
nhau. Lai khác dòng là cho giao phối giữa những động vật thuộc các dòng khác
nhau trong cùng một giống. Mặc dù lai khác giống xa nhau về huyết thống hơn
lai khác dòng, nhưng hiệu ứng di truyền của cả hai kiểu lai lại tương tự như nhau
theo Nguyễn Hải Quân và cộng sự, (1995) [51].
Lai giống làm cho tần số kiểu gen đồng hợp tử ở thế hệ sau giảm đi,
còn tần số kiểu gen dị hợp tử ở thế hệ sau tăng lên.
Lai giống là phương pháp chủ yếu nhằm khai thác biến đổi di truyền
của quần thể gia súc. Lai giống có những ưu việt vì con lai thường có ưu thế
lai đối với một số tính trạng nhất định.
1.2.1.2. Ưu thế lai
Ưu thế lai là hiện tượng con lai có các đặc điểm vượt trội hơn cha mẹ
về sức sống, tốc độ sinh trưởng, khả năng cho sữa, khả năng sinh sản, về tính
chống chịu với điều kiện bất lợi của môi trường và khả năng sử dụng chất
dinh dưỡng
Ưu thế lai hay sức sống con lai hoàn toàn ngược với suy hoá cận huyết
và sự suy giảm sức sống do cận huyết được khắc phục trở lại khi lai giống
(Falconer, 1993) [83].
Thuật ngữ ưu thế lai được nhà di truyền học người Mỹ Shull (1914)
đưa ra và được Snell (1961) thảo luận trong giáo trình nhân giống (Nguyễn
Hải Quân và cộng sự, 1995)[51] như sau: ưu thế lai là sự hơn hẳn của đời con
= dy
2
, trong đó d là giá trị của kiểu gen dị hợp, y là sai
khác về tần số gen giữa hai quần thể bố, mẹ. Ưu thế lai sinh ra bởi ảnh
hưởng đồng thời của tất cả các giá trị riêng rẽ của từng locus: H
F1
= ∑dy
2
.
Như vậy, ưu thế lai ở F
1
phụ thuộc vào giá trị của các kiểu gen dị hợp và sự
khác biệt giữa hai quần thể.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
14
Ảnh hưởng của mẹ bao gồm tất cả những đóng góp, những ảnh hưởng
tốt xấu do kiểu hình mẹ gây ra đối với kiểu hình của đời con. Ảnh hưởng của
mẹ đối với kiểu hình của đời con có thể do sự khác nhau về di truyền, về
ngoại cảnh hoặc sự phối hợp giữa di truyền và ngoại cảnh của những cá thể
mẹ khác nhau gây ra. Ảnh hưởng của mẹ có thể được thực hiện trong quá
trình thụ tinh, có chửa, tiết sữa và nuôi con. Các ảnh hưởng này chỉ có thể
xuất hiện tức thời, song cũng có thể kéo dài suốt đời của vật nuôi và được thể
hiện ở nhiều cơ chế sinh học khác nhau (Đặng Vũ Bình, 2002)[7].
Theo Dickerson, (1974)[84] cho biết khi lai giữa hai giống con lai chỉ
có ưu thế lai cá thể. Khi lai 3 giống, nếu dùng đực của giống thuần giao phối
với nái lai, con lai có cả ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của mẹ, do mẹ là con lai
F
1
mẹ là 11%, khối lượng cả ổ ở 21 ngày tuổi có ưu thế lai cá thể 12%, ưu thế lai
của mẹ 18% (Richard, 2000)[97].
- Sự khác biệt giữa bố và mẹ:
Ưu thế lai phụ thuộc vào sự khác biệt giữa hai giống đem lai, hai giống
càng khác xa nhau về di truyền thì ưu thế lai thu được càng lớn. Nếu các
giống hay các dòng đồng hợp tử đối với một tính trạng nào đó thì mức độ dị
hợp tử sẽ giảm dần.
Các giống càng xa nhau về điều kiện địa lý, ưu thế lai càng cao. Như
vậy ưu thế lai của một tính trạng nhất định phụ thuộc đáng kể vào ngoại cảnh.
1.2.2. Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng và cho thịt của gia súc
1.2.2.1. Đặc điểm của sinh trưởng và cho thịt của gia súc
Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do cơ thể thực hiện sự
đồng hóa và dị hóa. Đó là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang và
khối lượng các bộ phận của toàn bộ cơ thể con vật nuôi, trên cơ sở đặc tính di
truyền sẵn có. Để theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng của vật nuôi cần định
lượng chúng định kỳ bằng cân, đo, các cơ quan, bộ phận hay toàn cơ thể
con vật. Khoảng cách giữa các lần cân, đo, này phụ thuộc vào loài vật nuôi
và mục đích theo dõi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
16
* Đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn từ giai đoạn sơ sinh đến 60
ngày tuổi thường đánh giá qua các chỉ tiêu: Khối lượng sơ sinh/ổ (kg), khối
lượng 21 ngày/ổ (kg), khối lượng cai sữa/ổ (kg), tăng khối lượng từ sơ sinh
đến cai sữa (g), tăng khối lượng từ cai sữa đến 60 ngày tuổi (g)
* Đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn thịt thường dùng các chỉ tiêu:
Tuổi bắt đầu nuôi (ngày), khối lượng bắt đầu nuôi (kg), tuổi kết thúc nuôi
(ngày), khối lượng kết thúc nuôi (kg), tăng khối lượng/ngày nuôi (g), tiêu tốn
thức ăn/kg tăng khối lượng (kg)