Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của giống bưởi sa điền (trung quốc) tại tân cương thành phố thái nguyên - Pdf 13

1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Lịch sử phát triển của xã hội loài người luôn gắn liền với những công
cuộc đấu tranh: khám phá, chinh phục, giải phóng, khai thác và cải tạo thiên
nhiên, nhằm thoả mãn những nhu cầu ngày càng tăng về số lượng và chất
lượng các loại sản phẩm sinh học.
Sản phẩm hoa quả là một trong những loại sản phẩm có ý nghĩa quan
trọng và không thể thiếu được trong tiêu dùng hàng ngày của con người. Khi
xã hội càng phát triển thì nhu cầu đó cũng ngày càng tăng. Trong các loại sản
phẩm về hoa quả, thì sản phẩm cây ăn quả có múi luôn có một vị trí quan
trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Việt Nam được xác định là quê hương của cam quít (Bùi Huy Đáp [6],
ngoài những giống cam quít của địa phương và nhập nội, hiện nay còn tìm thấy
nhiều loài hoang dại thuộc họ cam quít. Hiện nay cam quít trở thành một trong
những cây ăn quả chủ yếu ở Việt Nam và được trồng từ Bắc vào Nam với bộ
giống gồm khoảng gần 200 giống khác nhau (Viện nghiên cứu Rau Quả Hà
Nội (2000) [14]).
Cây Bưởi (Citrus grandis Osbek hay Citrus maxima Merr.) là cây ăn quả
nhiệt đới được trồng rất phổ biến ở nhiều vùng trên cả nước. Ở Việt Nam đã
hình thành nên nhiều vùng trồng bưởi nổi tiếng như bưởi Diễn (Từ Liêm, Hà
Nội), bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ), bưởi Đường (Hà Tĩnh), bưởi Phúc Trạch
(Hương Khê, Hà Tĩnh), bưởi Năm Roi, bưởi Da xanh….
Bưởi là đặc sản quý có giá trị dinh dưỡng cao, có nhiều ứng dụng trong y
học cổ truyền của dân tộc. Trong lá, hoa, vỏ quả bưởi đều chứa tinh dầu. Ngoài
ra, vỏ quả bưởi còn có pectin, naringin (một loại glucozid), men tiêu hoá
1
2
peroxydaza và amylaza, đường ramoza, vitamin A và C Dịch ép múi bưởi có
8 - 10% đường, 9% acid citric, 50% vitamin C, vitamin A và B

-Theo dõi khả năng sinh trưởng của những cây bưởi thí nghiệm.
- Theo dõi các loại sâu bệnh hại xuất hiện trên những cây bưởi thí nghiệm.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Đối với học tập: giúp sinh viên vận dụng những kiến thức đã học vào thực
tế, biết cách thực hiện đề tài và hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
- Đối với nghiên cứu khoa hoc: giúp sinh viên tiếp cận các phương pháp
nghiên cứu khoa học,nâng cao trình độ chuyên môn đồng thời tạo cho minh
tác phong làm viêc đúng đắn, nghiêm túc, sáng tạo, rút ra được những kinh
nghiệm quý báu từ thực tế mà trong sách vở không có được.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Có cơ hội học hỏi thêm những kinh nghiệm trong thực tiễn sản xuất;
nâng cao năng lực nghiên cứu chuyển giao khoa học kỹ thuật cho bản thân.
- Nếu giống bưởi Sa Điền mới nhập nội thích nghi tốt với điều kiện
sinh thái vùng nghiên cứu là cơ sở để công nhận giống tốt sẽ được bổ sung
vào cơ cấu giống bưởi và giống cây ăn quả của tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh
có điều kiện sinh thái tương tự.
3
4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Nguồn gốc, phân loại
2.1.1. Nguồn gốc và phân bố
Trong các loại cây ăn quả, cùng với cây nho, cây cam quít có lịch sử
trồng trọt lâu đời nhất. Có nhiều kết quả nghiên cứu nói về nguồn gốc của
cam quít (Bùi Huy Đáp (1960) [6]; Trần Thế Tục (1967) [10];… phần lớn đều
thống nhất cam quít có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, trải dài từ Ấn Độ qua
Himalaya Trung Quốc xuống vùng quần đảo Philippin, Malaysia, miền Nam
Indonecia hoặc kéo đến lục địa Úc.
Các giống bưởi (Citrus grandis) được báo cáo (theo tác giả Bùi Huy Đáp

bưởi (C. grandis) (theoBùi Huy Đáp [6]), vì vậy hình thái bưởi chùm khá
giống với bưởi (C.grandis) nhưng lá nhỏ hơn, eo lá cũng nhỏ hơn, quả nhỏ,
cùi mỏng, vỏ mỏng, vị chua nhẹ. Bưởi chùm có những giống ít hạt (giống
Duncan), phần lớn các giống bưởi chùm có hạt đa phôi nên cũng có thể sử
dụng làm gốc ghép. Quả bưởi chùm là món ăn tráng miệng rất được ưa
chuộng ở châu Âu, người ta gọt nhẹ lớp vỏ mỏng bên ngoài rồi để cả cùi cắt
thành các lát nhỏ dùng sau bữa ăn. Bưởi chùm được trồng nhiều ở Mỹ, Brazil,
riêng bang Florida Mỹ chiếm 70 % sản lượng bưởi chùm của thế giới. Ở Việt
Nam vào những năm 60 đã nhập nội một số giống bưởi chùm như Duncan,
marsh, forterpink, v.v cho năng suất khá, tuy nhiên bưởi chùm chưa được ưa
chuộng thực sự ở Việt Nam.
2.2. Một số đặc điểm chính của cây ăn quả có múi
2.2.1. Đặc điểm thực vật học
Bưởi là cây ăn quả thân gỗ lâu năm, tán rộng, lá xanh quanh năm, cây
trưởng thành có than, tán lớn, hạt đơn phôi,…
5
6
*Rễ: Rễ cam quít nói chung thuộc loại rễ nấm (Micorhiza), nấm Micorhiza
sống cộng sinh trên lớp biểu bì của rễ, có vai trò như những lông hút ở các cây
trồng và thực vật khác, cung cấp nước, muối khoáng và một lượng nhỏ chất hữu
cơ cho cây, cây cung cấp hydrat carbon cho nấm (Trần Thế Tục (1967) [10],
Nhìn chung rễ cam quít hoạt động mạnh ở thời kỳ 1- 8 năm tuổi sau
trồng, sau đó giảm dần và khả năng tái sinh kém. Trong một năm cam quít có
3 thời kỳ rễ hoạt động mạnh: Trước khi ra cành xuân (tháng 2 đến đầu tháng
3); sau rụng quả sinh lý lần 1 (lúc cành hè xuất hiện) và cành thu đã sung sức
(tháng 9-10). Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của bộ rễ cam quít: nhiệt độ
thích hợp trên dưới 26
0
C; đất thoáng và đủ ẩm (60%); độ chua pH = 4-8 và tối
thích là 5,5-6,5, nhiều mùn, đủ dinh dưỡng, đủ chất kích thích sinh trưởng, v.v

thọ của lá thay đổi phụ thuộc vào điều kiện khí hậu và điều kiện dinh dưỡng
của cây.
Ở Việt Nam tuổi thọ trung bình của lá là 15 - 24 tháng, ở vùng á nhiệt
đới có thể dài hơn.
Tuỳ theo giống và tuỳ theo mùa, lá có thể khác nhau về hình dạng, độ
lớn, mầu sắc, mật độ khí khổng, mật độ túi tinh dầu.
Lá có quan hệ chặt chẽ với sản lượng, nhất là với trọng lượng quả.
* Hoa: Hoa cam quít phần lớn có mùi thơm. Xét về hình thái có 2 loại
hoa: hoa phát triển đầy đủ và hoa dị hình (Bùi Huy Đáp (1960) [6]. Hoa đầy đủ
có cánh dài màu trắng và có công thức cấu tạo: K
5
; C
5
; A
(20-40
; G
(8-15)
, thường thì
số nhị gấp 4 lần số cánh hoa và xếp thành 2 vòng, nhị hợp. Hoa dị hình: là những
hoa bị thiếu khuyết 1 trong các bộ phận của hoa.
Về hoa tự cũng có 2 loại: hoa đơn và hoa chùm. Hoa đơn có 2 dạng:
dạng cành đơn có nhiều lá và 1 hoa ở đầu cành, dạng này có khả năng đậu quả
cao nhất, trong điều kiện được chăm sóc tốt thì cây sẽ có nhiều loại cành này;
7
8
dạng cành không có lá, thường có nhiều cành quả/1 cành mẹ, cuống ngắn dễ
lẫn với dạng hoa chùm. Hoa chùm: có 3 dạng: dạng trên cành ở mỗi nách lá có
1 hoa và 1 hoa ở ngọn cành, trên mỗi cành có từ 3-7 hoa và khả năng đậu từ 1-
2 quả; dạng trên ngọn cành có 1 hoa và mỗi nách lá có 1 hoa và có 1 số lá
không hoàn chỉnh, chỉ ở dạng vảy, dạng này tỷ lệ đậu quả không cao; dạng hoa

8
9
Nhiệt độ tốt nhất cho sinh trưởng các đợt lộc trong mùa xuân là từ 12 -
20
o
C, trong mùa hè từ 25 - 30
o
C, còn cho hoạt động của bộ rễ từ 17 - 30
o
C.
Nhiệt độ tăng trong phạm vi từ 17 - 30
o
C thì sự hút nước và các chất dinh
dưỡng tăng và ngược lại, do liên quan đến bốc hơi nước và hô hấp của lá.
Đối với thời kỳ phân bố mầm hoa nhiệt độ phải thấp hơn 25
o
C trong
vòng ít nhất 2 tuần, hoặc phải gây hạn nhân tạo ở những vùng nhiệt đới nóng.
Ngưỡng nhiệt độ tối thiểu cho nở hoa là 9,4
o
C. Trong ngưỡng nhiệt độ nhỏ
hơn 20
o
C sẽ kéo dài thời gian nở hoa, còn từ 25-30
o
C quá trình nở hoa ngắn
hơn (Trần Thế Tục và cộng sự, 1996) [10].
Nhiệt độ thấp trong mùa đông có ảnh hưởng đến sự phát sinh cành hoa
có lá và cành hoa không có lá. Cành hoa không lá tỷ lệ đậu quả tới khi thu
hoạch là rất thấp so với cành hoa có lá, do vậy nếu nhiệt độ mùa đông quá

10
quả làm cho quả luôn có màu xanh, nhưng nếu nhiệt độ không khí và đất
giảm xuống 15
o
C thì chất diệp lục trên vỏ quả bị biến mất và các hạt lục lạp
biến đổi thành các hạt sắc tố màu vàng, vàng cam hoặc màu đỏ. Sự tổng hợp
carotenoid giảm nếu nhiệt độ trên 35
o
C hoặc dưới 15
o
C nhưng vẫn làm cho
diệp lục biến mất. Ở những vùng nóng có hàm lượng chất khô hoà tan cao
hơn và hàm lượng axit giảm (Trần Thế Tục và cộng sự, 1996) [10].
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng đối với sinh trưởng, phát triển cũng như
năng suất chất lượnh của bưởi, bởi vậy việc chọn vùng trồng bưởi trước hết
phải xem xét yếu tố nhiệt độ xem có phù hợp hay không.
* Đất
Bưởi có thể trồng nhiều trên nhiều loại đất, tuy nhiên trồng trên đất xấu
việc đầu tư sẽ cao hơn và hiệu quả kinh tế sẽ thấp hơn trồng trên đất tốt.
Đất tốt đối với bưởi thể hiện qua các chỉ tiêu chủ yếu sau (Trung tâm
Công nghệ phân bón và Thực phẩm, 2003; Trung tâm Kỹ thuật Thực phẩm và
Phân bón, (2005); Nguyễn Văn Luật, (2006)
- Đất phải giàu mùn (hàm lượng từ 2 - 2,5% trở lên), hàm lượng các chất
dinh dưỡng NPK, Ca, Mg… phải đạt mức độ trung bình trở lên (N: 0,1
-0,15%; P
2
O
5
dễ tiêu từ 5 - 7 mg/100 g đất; K
2

những ngày quang mây mùa Hè. Sở dĩ như vậy là do cường độ ánh sáng ảnh
hưởng trực tiếp đến sự đồng hoá CO
2
, cường độ ánh sáng mạnh làm giảm sự
đồng hoá CO
2
vì bức xạ tăng trên mặt lá. Dưới các điều kiện cực trị, nhiệt độ
mặt lá có thể cao hơn nhiệt độ không khí từ 7 - 10
o
C và có thể lên đến 15
o
C.
Nhiệt độ tối thích trên bề mặt lá cho đồng hoá CO
2
dao động từ 28 - 30
o
C. Ở
vùng ẩm độ không khí cao, khi nhiệt độ không khí lớn hơn 35
o
C làm hạn chế
nghiêm trọng tới hoạt tính của ribolose 1,5-bisphosphate carboxylase/oxygenas
(Rubisco) và gây ra sự đóng khí khổng vào giữa ban ngày. Nhiệt độ thấp hơn
mức tối thích cũng làm giảm sự đồng hoá CO
2
do giảm hoạt tính của men (Trần
Thế Tục và cộng sự, 1996) [10].
* Gió
Tốc độ gió vừa phải có ảnh hưởng tốt tới việc lưu thông không khí, điều
hoà độ ẩm, giảm hại sâu bệnh, cây sinh trưởng tốt. Tuy nhiên tốc độ gió lớn
ảnh hưởng đến khả năng đồng hoá của cây đặc biệt những vùng hay bị gió

đào hố, bón phân lót, các công việc khác như làm đường, mương rãnh tưới
tiêu nước v.v.
- Phát quang và san ủi mặt bằng: Đối với những đồi rừng chuyển sang
trồng cây ăn quả nói chung và trồng bưởi đều phải phát quang, thậm chí còn
phải đánh bỏ toàn bộ rễ cây rừng và san ủi tạo mặt phẳng tương đối để cho
12
13
việc thiết kếvườn được dễ dàng. Từ những nơi đất quá dốc sẽ áp dụng biện
pháp làm đất tối thiểu, nghĩa là chỉ phát quang, dãy cỏ, san lấp những chỗ quá
gồ ghề sau đó thiết kế và đào hố trồng cây, còn ở những nơi đất không quá
dốc hoặc bằng, sau khi phát quang, san ủi sơ bộ có thể dung cày máy hoặc cày
trâu, cày bừa một lượt để vừa sạch cỏ vừa tạo cho bề mặt vườn tươi xốp ngăn
được sự bốc hơn nước của vườn sau khi phát quang.
Đối với các loại đất chuyển đổi khác (ví dụ chuyển đổi từ cây trồng sang
cây trồng bưởi) cũng cần phải dọn sạch và tạo mặt bằng trước khi thiết kế.
- Thiết kế vườn trồng: Bao gồm các nội dung công việc như bố trí lô
thửa đường đi, mương rãnh tưới tiêu nước, bố trí mật độ khoảng cách.v.v.
- Đào hố và bón phân lót: Sauk hi đã thiết kế xong tiến hành đào hố và
bón phân lót.
+ Kích thước hố: Nguyên tắc là đất xấu đào hố rộng và sâu, đất tốt đào
hố nhỏ hơn. Thông thường hố trồng bưởi được đào với kích thước: chiều
rộngxchiều dài = 0,8mx 0,8m hoặc 1m x 1m. khi đào lấp đất mặt từ 0,5 - 0,6m
đổ về một bên để chộn với phân lót, lớp đất còn lại đổ về một bên.
+ Bón phân lót (tính cho một hố)
Phân hữu cơ (phân chuồng hoặc phân hoai mục): từ 50- 80kg
Phân lân supe:1- 1,5kg
Kali sunfat: 0,5 - 1kg
Vôi bột: 1kg
Tất cả các loại phân trên trộn đều với lớp đất mặt bón xuống đáy tới ¾
hố. Đất còn lại đập nhỏ lấp phủ lên mặt hố, hoi cao hơn mặt hố khoảng 15-

phân bón. Trong giai đoạn chưa có quả từ 1- 3 tuổi chia lượng phân bón của
năm làm nhiều lần bón trong một năm. Năm thứ nhất nên bón một tháng một
lần, năm thứ hai 2 tháng bón một lầnvà năm thứ ba 3 tháng bón một lần.
Riêng phân hữu cơ, lân và vôi bón một lần vào lần bón cuối cùng trong năm.
14
15
Bảng 2.1: Lượng phân bón ở thời kỳ chưa cho quả tính theo tuổi cây
ĐV: kg/cây
Tuổi cây
Loại phân và lượng bón
Phân hữu cơ Đạm ure Lân supe Kali clorua
1 - 120 300 100
2 25 150 400 120
3 25 300 800 250
(Nguồn: Ngô Hồng Bình [1])
+ Cách bón: Nếu là nước phân pha loãng, trước khi tưới xới nhẹ, sâu 5-
7cm xung quanh gốc theo hình chiếu của tán vào phía gốc cây sâu khoảng
25cm sau đó mới tới nước phân, tưới xong dùng cỏ khô hoặc rơm rạ tủ gốc lại
gốc cây: còn phân vô cơ riêng rẽ có thể quốc 3 - 4 hố sâu 5- 7cm quanh tán,
bón phân xong thì lấp đất lại, hoặc rạch một rãnh xung quanh hình chiếu tán
cây, rộng 15- 20cm, sâu 7- 10cm rồi rắc phân đều vào rãnh, lấp đất, tưới nước
để phân tan sau đó tủ lại gốc cây. Đợt bón cuối cùng có phân hữu cơ cần rạch
rãnh rộng và sâu hơn.
- Trồng dặm, tỉa, bỏ mầm dại.
Năm đầu phải tiến hành kiểm tra trồng dặm các cây chết, cây sinh
trưởng kém, phát hiện và loại bỏ những mầm dại mọc từ gốc ghép (nếu là
cây ghép).
- Trồng xen.
Ở thời kì cây chưa mang quả nên trồng xen các cây họ đậu, cây thuốc
hoặc cây ăn quả ngắn ngày để tăng độ phì cho đất, hạn chế cỏ dại, nâng cao

phải khống chế để chúng không giao nhau và sắp xếp theo các hướng khác
nhau giúp cây quang hợp được tốt.
* Chăm sóc bưởi ở thời kỳ thu hoạch
-Tưới tiêu nước, làm cỏ cho cây
16
17
+ Cây phải được cung cấp nước đầy đủ ở các thời kỳ quan trong là: Thời
kỳ phân hoá mầm hoa (tháng 11, 12), thời kỳ ra hoa (thang 1, 2) thời kỳ quả
non (rụng quả sinh lý tháng 4) và trong suốt thời kỳ quả phát triển đến trước
thu hoạch một tháng. Cần áp dụng các biện pháp tủ gốc kết hợp tưới nước
trong mùa khô từ tháng 10 - tháng 4 năm sau (như trong thời kỳ cây chưa có
quả) để duy trì độ ẩm cho cây sinh trưởng phát triển.
+ Cần có biện pháp tiêu nước khẩn cấp cho vườn cây trong mùa mưa
bão, đặc biệt ở các vườn ở địa hình bằng và ven các song suối, Các rãnh,thoát
nước thường xuyên phải được nạo vétkhai thong trươcs và sau trận mưa lớn
để không làm đọng nước gây rụng quả và bệnh phát triển.
+ Thường xuyên làm sạch cỏ xung quanh gốc theo hình chiéu của tán
cây để hạn chế cạnh tranh dinh dưỡng.
Bón phân: Bón phân cho bưởi ở thời kỳ cây cho quả có thể dựa vào năng
suất thu hoạch như sau:
Bảng 2.2: Lượng phân bón ở thời kỳ cho thu hoạch dựa vào năng suất
quả thu hoạch vụ trước
Lượng phân
Lượng phân bón
Phân hữu cơ
(g/cây)
Đạm ure
(g/cây)
Lân supe
(g/cây)

- Tứa thưa là tập trung cắt bỏ tận gốc các cành mọc quá dầy, cành tăm,
cành vượt, cành khô, cành sâu bệnh.
- Cắt ngắn là cắt bỏ những đầu cành để hãm bớt tốc độ sinh trưởng vươn
cao, thúc đẩy các mầm cành phía dưới phát triển.
2.4. Tình hình sản xuất và tiêu thụ bưởi
2.4.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ bưởi trên thế giới
Theo số liệu thống kê của FAO (2011), tình hình sản xuất cam quít trên
thế giới được tổng hợp như bảng 2.3.
Bảng 2.3: Sản xuất cam quít trên thế giới 5 năm gần đây
Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009
18
19
Diện tích (nghìn ha)
Bưởi 269.008 254.241 254.935 250.997 250.953
Chanh 761.467 967.484 979.573 1.019.231 1.014.635
Cam 3.840.541 3.976.639 4.152.568 4.176.254 4.192.351
Quít 1.932.495 2.043.693 2.146.551 2.139.426 2.159.170
Các loại khác 1.078.815 1.077.453 1.100.206 1.102.350 1.102.360
Năng suất (tạ/ha)
Bưởi 150,384 171,516 180,986 185,794 179,191
Chanh 159,137 136,073 133,302 132,674 137,483
Cam 163,850 164,812 157,239 164,260 161,249
Quít 122,898 126,700 129,528 140,391 141,664
Các loại khác 65,649 66,201 67,626 70,368 70,559
Sản lượng (nghìn tấn)
Bưởi 4.045.466 4.360.643 4.613.985 4.663.384 4.496.868
Chanh 12.117.830 13.164.949 13.057.963 13.522.634 13.949.600
Cam 62.927.295 65.539.951 65.294.602 68.599.338 67.601.635
Quít 23.750.064 25.893.747 27.800.394 30.035.799 30.587.778
Các loại khác 7.082.382 7.132.936 7.440.263 7.757.069 7.778.197

Năng suất (tạ/ha)
Bưởi 105,000 116,840 118,420 115,000 115,000 115,000 115,000
Cam 98,086 97,387 101,742 101,692 101,692 101,692 101,692
Loại khác 40,000 40,000 40,000 40,000 40,000 40,000 40,000
Sản lượng (1000tấn)
Bưởi 21,000 22,199 22,499 23,000 23,000 23,000 23,000
Cam 497,296 540,498 601,295 600,999 600,999 601,000 601,000
Loại khác 0,120 0,120 0,120 0,120 0,120 0,120 0,120
(Nguồn: FAOSTAT/Statistics (2011)[7])
Ở nước ta, cây ăn quả có múi trong đó có bưởi là một trong những loại
quả quan trọng được xếp vào nhóm các cây ăn quả chủ lực với diện tích
20
21
111,299 ha, chiếm 14,8% diện tích cây ăn quả. Qua bảng số liệu trên ta thấy
trong khoảng 3 năm trở lại đây diện tích về cam và bưởi đều không có sự
thay đổi, về năng suất và sản lượng tăng tương đối ổn định. Tuy chưa có số
liệu thống kê riêng biệt về từng loại quả có múi, song cũng dễ dàng nhận thấy
rằng ở nước ta bưởi được trồng ở hầu hết khắp các tỉnh trong cả nước và có
nhiều vùng sản xuất tập trung nổi tiếng tới hàng trăm ha như vùng bưởi Đoan
Hùng - Phú Thọ (khoảng 300 ha), Phúc Trạch - Hà Tĩnh (800 ha), Thanh Trà -
Thừa Thiên Huế (1000 ha), Biên Hòa - Đồng Nai, vv…, đặc biệt là vùng bưởi
Đồng bằng sông Cửu Long.
Theo Viện Nghiên cứu Cây ăn quả Miền Nam, chỉ riêng bưởi Năm Roi ở
Đồng bằng sông Cửu Long diện tích đã khoảng 10.000 ha, sản lượng đạt
60.000 tấn/năm, phân bố chính ở tỉnh Vĩnh Long với diện tích 4,5 nghìn ha
cho sản lượng 31,3 nghìn tấn, chiếm 48,6% về diện tích và 54,3% về sản
lượng bưởi Năm Roi của cả nước, trong đó tập trung ở huyện Bình Minh gần
3,4 nghìn ha với sản lượng gần 30 nghìn tấn. Tiếp theo là tỉnh Hậu Giang có
1,3 nghìn ha. Giống bưởi Da xanh mới chọn lọc cách đây khoảng chục năm
nhưng diện tích trồng giống bưởi này ở Bến Tre đã có 1.544 ha. Dự kiến đến

lượng theo hướng vệ sinh an toàn thực phẩm.
2.5. Những nghiên cứu về cây bưởi và công tác chọn lọc bình tuyển trên
thế giới và ở Việt Nam
2.5.1. Trên thế giới
Trên thế giới, nghiên cứu về bưởi đã thu được kết quả trên rất nhiều lĩnh
vực như chọn tạo giống mới, kỹ thuật canh tác cho tới kỹ thuật bảo quản và
chế biến sau thu hoạch.
Theo Viện Tài nguyên Di truyền Thực vật Quốc tế (IPGRI, 2003)[15],
trong lĩnh vực thu thập, bảo tồn cây có múi nói chung và bưởi nói riêng cũng
22
23
được quan tâm của hầu hết cácnước trồng cây có múi trên thế giới. Càng ở
những nướccó ngành sản xuất cây có múi phát triển, thì việc thu thập, bảo tồn
lưu giữ cũng như việc đánh giá, sử dụng càng được quan tâm đầu tư.
Do tầm quan trọng của việc bảo tồn và sử dụng nguồn tài nguyên di
truyền thực vật nói chung và tài nguyên di truyền cây trồng nông nghiệp nói
riêng trong đó có cây có múi, mỗi quốc gia đều đã tiến hành công việc điều
tra thu thập, bảo tồnmột cách nghiêm túc, lựa chọn cách tiến hành phù hợp
với điều kiện kinh tế xã hội của mình. Xu hướng chung là tập trung vào điều
tra thu thập, bảo tồn, đánh giá sử dụng các giống bản địa, khai thác những đặc
tính, đặc trưng tốt của giống phục vụ cho việc thương mại hóa sản phẩm và
lai tạo giống, đặc biệt là tạo giống chống chịu với điều kiện sinh thái khí hậu
và sâu bệnh (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 1996) [2].
Trong lĩnh vực chọn tạo giống mới, các nhà khoa học Trung Quốc đã
tiến hành điều tra thu thập được hơn 1.000 giống trong quần thể tự nhiên có
năng suất cao và phẩm chất quả tốt (Lý Gia Cầu, 1993) [3]. Theo hướng chọn
tạo giống mới bằng phương pháp lai hữu tính, các nhà chọn tạo giống cây ăn
quả ở các nước trong khu vực đã chọn tạo được một số giống bưởi mới. Một
số giống bưởi có triển vọng phát triển tốt ở các nước như Thái Lan có 3
giống, Trung Quốc có 3 giống như bưởi Sa Điền, bưởi Văn Đán, bưởi Quân

hơn so với cam, chanh và quýt.
Theo Phạm Văn Côn (2005) [5] thì những cây có múi được nghiên cứu
sớm nhất trong các cây ăn quả ở nước ta. Hiện nay, nước ta có rất nhiều giống
bưởi. Bưởi Đoan Hùng nhiều nước, hương vị thơm ngon bảo quản được 4 - 5
tháng nhưng nhiều hạt, thịt nát, ít róc vỏ. Bưởi Phúc Trạch có nhiều ưu điểm
hơn. Bưởi Năm Roi trái to mẫu mã đẹp, dễ bóc múi và vỏ, hương vị thơm, ít
hạt, bưởi Biên Hòa, bưởi Da xanh (Bến Tre), bưởi Hồng (Tiền Giang) và bưởi
24
25
Thanh Trà (miền Trung).
Theo Phạm Thị Chữ (1996) [4], qua 3 năm tuyển chọn giống bưởi Phúc
Trạch (1993 - 1995) đã chọn được 3 dòng tiêu chuẩn là M4, M1 và M5, đặc
biệt là M4 với các đặc điểm sau (đối với cây 20 năm tuổi): sinh trưởng tốt,
năng suất đạt 253 quả/cây, tỷ lệ phần ăn được đạt 54.5%, hàm lượng vitamin
C đạt 53,56 mg/100g, đường đạt 9.3%.
Hội thi Giống tốt do Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam tổ chức,
cùng với việc điều tra nghiên cứu của các trung tâm và các nhà khoa học
trong nhiều năm đã tuyển chọn được mọt số giống quýt và bưởi có triển vọng
như cam sành (C58), quýt Tiều (QT12), bưởi Năm Roi, … Các giống này đã
được Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận là các giống tốt theo quyết định số
2767NN- KHCN/QD ngày 27/10/1997 (dẫn qua [2]).
Trần Thế Tục (1997) [10] tiến hành nghiên cứu 8 giống bưởi (Đoan
Hùng, bưởi ngọt Như Quỳnh, Pumello, bưởi đường Yên Phong, Phú Thọ đã
đưa ra đặc điểm hình thái, cấu tạo, tỷ lệ từng phần trong quả và thành phần
hoá học trong nước ép của các giống bưởi nghiên cứu này.
Trong quá trình tuyển chọn các giống bưởi ở một số tỉnh Nam Bộ, Phạm
Ngọc Liễu, Nguyễn Ngọc Thi (1999) [8] có kết luận: từ năm 1995 - 1998 đã
xác định được 67 giống bưởi được trồng trong vườn thuộc các tỉnh Nam Bộ,
54 giống đã được thu thập và lưu giữ tại nhà lưới của Viện Nghiên cứu Cây ăn
quả miền Nam. Các cá thể bưởi Năm Roi (BNR03, BNR05) cá thể bưởi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status