Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam ta có khí hậu đa dạng, có thể phát triển được các loại cây ăn quả
nhiệt đới, á nhiệt đới và cây ăn quả ôn đới. Mặc dù có khí hậu, đất đai thuận lợi
cho cây ăn quả phát triển, nhưng do điều kiện kinh tế - xã hội mà nghề trồng cây ăn
quả ở Việt Nam trước đây kém phát triển và sản lượng hàng húa thấp.
Từ lâu, người làm vườn đã hiểu rõ trồng cây ăn quả là một nghề kinh doanh
mang lại hiệu quả kinh tế cao, thu nhập ổn định hơn so với các cây trồng khác, có
thể bảo vệ tài nguyên môi trường, đặc biệt là vùng đất dốc, vùng đồi núi. Theo
nhiều kết quả điều tra cho thấy, trên cùng một đơn vị diện tích, cây ăn quả cho thu
nhập cao hơn nhiều lần so với cây lương thực. Hiện nay, phong trào trồng cây ăn
quả tăng nhanh và có chiều hướng phát triển mạnh. Cây ăn quả cùng với một số
cây công nghiệp, cây đặc sản khác đang được đánh giá là cây trồng quan trọng
trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng cao hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi
trường sinh thái ở các tỉnh trung du miền núi. Với điều kiện phát triển kinh tế - xã
hội hiện nay, khi vấn đề về nhu cầu lương thực cho xã hội đã được giải quyết một
cách cơ bản, đời sống của mọi tầng lớp nhân dân được cải thiện thì nhu cầu về chất
lượng bữa ăn đảm bảo đủ dinh dưỡng và độ an toàn cao đang là sự quan tâm của cả
xã hội. Để đáp ứng yêu cầu trên thì nhu cầu về số lượng và chất lượng quả ngày
càng tăng, đặc biệt là những loại quả có giá trị như bưởi, chuối, dứa, nho, … Từ
những yêu cầu thiết yếu đó của xã hội, việc phát triển cây ăn quả cũng như những
nghiên cứu nhằm đưa ra các biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, chất lượng cây ăn
quả là điều kiện hết sức cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế,
nâng cao đời sống nhân dân.
Các loại cây có múi, như cam quýt (Citrus: cam, chanh, bưởi,…) là những
cây có giá trị dinh dưỡng và cho hiệu quả kinh tế cao. Nhiều loại cam quýt đang
được trồng trên thế giới cho quả với các vị đặc trưng như: có vị ngọt và chua nhẹ,
ngọt và rất ngọt đã phần nào đáp ứng nhu cầu thị hiếu rất khác nhau của người tiêu
-Theo dõi khả năng phục hồi của những cây bưởi giống (bứng lên bằng rễ
trần) giai đoạn đầu mới giõm vào trong bầu.
- Theo dõi khả năng sinh trưởng của những cây bưởi thí nghiệm sau khi
trồng tại Xã Tân Cương – Thành Phố Thái Nguyên.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu
Củng cố các kiến thức đã được học và vận dụng một cách sáng tạo những
kiến thức đó vào thực tế sản xuất. Có cơ hội học hỏi thêm những kinh nghiệm
trong thực tiễn sản xuất, nâng cao năng lực nghiên cứu, chuyển giao Khoa học kỹ
thuật cho bản thân.
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản suất
- Nâng cao nhận thức của người dân địa phương khi tiếp nhận tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào sản xuất, tạo sự tin tưởng của dân đối với các tiến bộ kỹ thuật.
- Góp phần xây dựng bưởi đặc sản, xây dựng thương hiệu bưởi, mở rộng
diện tích sản xuất nhằm góp phần nâng cao đời sống của nhân
dân.
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Cây ăn quả có múi có những nhu cầu nhất định về môi trường và về dinh
dưỡng. Mỗi một vùng nhất định, do có tính phong phú, đa dạng của điều kiện sinh
thái, đã sinh ra nhiều chủng loại và có nhiều biến dị để chọn lọc. Qua quá trình
chọn lọc tự nhiên có những đặc tính quý, đáp ứng được nhu cầu của sảnxuất.
Do đặc tính thích ứng của giống cây ăn quả có múi với điều kiện môi trường
(chủ yếu là điều kiện khí hậu) mà qua các quá trình di thực (bằng con đường nhân
2.2.2. Phân loại
Theo tác giả Swingle, W. T và Reece, P. C. (1967) (trích theo tác giả Bùi Huy
Đáp (1960) [5] thì:
Cây bưởi có tên khoa học là: citrus grandis (L). Osbeck.
Cây bưởi thuộc bộ: Rustales.
Họ: Rutaceae.
Họ phụ: Aurantioideae.
Chi: Citrus.
Chi phụ: Eucitrus.
Loài: Citrus maxima (grandis).
2.2.3. Đặc điểm thực vật học
Bưởi là cây ăn quả thân gỗ lâu năm, tán rộng, lá xanh quanh năm, cây
trưởng thành có thân, tán lớn, hạt đơn phôi, …
* Rễ: nhìn chung cam quýt có bộ rễ ăn nông. Theo V. P. Ekimốp (Nga) thì
trên biểu bì của rễ non có nấm cộng sinh. Nấm có tác dụng tốt cho rễ cam quýt như
vai trò của lông hút với các cây trồng khác. Sự phân bố rễ của cam quýt phụ thuộc
vào đặc tính của giống, mực nước ngầm và chế độ canh tác, chăm bón nhưng nhn
chung rễ cam quýt ăn nông từ 0 – 30 cm (Trần Như í và cs, 2000) [14].
* Thân cành
Trong 1 năm cam quýt có nhiều đợt cành:
+ Cành xuân nảy mầm vào tháng 2,3,4.
+ Cành hè nảy mầm vào tháng 6,7,8.
+ Cành thu nảy mầm vào tháng 9, 10.
+ Cành đông nảy mầm vào tháng 11,12.
Tựy từng giống, tựy từng cây, tựy từng điều kiện khí hậu và chăm sóc mà
lượng cành và thời gian ra các đợt cành này có sự thay đổi, cành non có thể quanh
hợp được, trong các đợt cành thì cành xuân thường ra đều, tập trung và cành ngắn,
còn cành hè thường khỏe, lá to, dài nhưng rải rác hơn, cành thu kém hơn cành hè
và cành đông thì yếu ớt (Trần Như í và cs, 2000) [14]. Trong đó, cành cam quýt có
trong các bộ phận của hoa.
Về hoa tự cũng có 2 loại: hoa đơn và hoa chùm. Hoa đơn có 2 dạng: dạng
cành đơn có nhiều lá và 1 hoa ở đầu cành, dạng này có khả năng đậu quả cao nhất,
trong điều kiện được chăm sóc tốt thì cây sẽ có nhiều loại cành này; dạng cành
không có lá, thường có nhiều cành quả/ 1 cành mẹ, cuống ngắn dễ lẫn với dạng hoa
chùm. Hoa chùm: có 3 dạng: dạng trên cành ở mỗi nách lá có 1 hoa và 1 hoa ở ngọn
cành, trên mỗi cành có từ 3 - 7 hoa và khả năng đậu từ 1 - 2 quả; dạng trên ngọn
cành có 1 hoa và mỗi nách lá có 1 hoa và có 1 số lá không hoàn chỉnh, chỉ ở dạng
vảy, dạng này tỷ lệ đậu quả không cao; dạng hoa chùm không có lá có từ 4 - 5 hoa,
loại này tỷ lệ đậu quả rất thấp hoặc không đậu.
* Quả: Khi còn xanh chứa nhiều axit đến khi chín thì lượng axit giảm,
hàm lượng lượng đường và chất tan tăng lên.
Cấu tạo quả gồm 2 phần: Vỏ quả và vỏ thịt
+ Vỏ quả: Gồm vỏ ngoài và vỏ giữa
+ Thịt quả: Bộ phận chính của thịt quả là các con tép, màu sắc thịt quả
phụ thuộc và sắc tố vàng da đỏ. Trong dịch nước quả còn có các hạt dầu thơm
quyết định hương vị quả.
+ Quả có 2 đợt rụng sinh lý:
- Đợt 1: Sau khi ra hoa khoảng 1 tháng (tháng 3 – 4) quả còn nhỏ khi rụng
mang theo cả cuống.
- Đợt 2: Khi quả đạt đường kính 3 - 4 cm (cuối tháng 4) quả rụng không mang
theo cuống.
* Hạt: Tựy theo giống mà có sự khác nhau về kích thước, số lượng màu sắc
và phôi hạt. Các loại quả thuộc cây có múi phần lớn là hạt đa phôi, riêng cây bưởi
là hạt đơn phôi.
2.2.4. Yêu cầu sinh thái của cây bưởi
* Yêu cầu về điều kiện khí hậu
Nhìn chung các giống bưởi đều ưa khí hậu á nhiệt đới. Bưởi trồng ở những
vùng khí hậu này thường cho năng suất cao và chất lượng quả ngon.
TT Quốc gia
Sản lượng
Tăng
trưởng
2007 2008 2009
1 Thế giới 6. 457. 637 6. 726. 219 6. 565. 351 107. 714
2 Trung Quốc 2. 352. 786 2. 606. 146 2. 768. 308 415. 522thiều Thanh Hà, Lục Ngạn, các cây ăn quả đặc sản như sầu riêng, măng cụt,
chôm chôm ở miền Nam,
Cây cam quýt đã có lịch sử trồng trọt lâu đời ở nước ta. Lê Quý Đụn(1962)
đã mô tả: Việt Nam có rất nhiều thứ cam: Cam Sen (gọi là liên cam), cam vú (nhũ
cam) da sần vị rất ngon; cam chanh da mỏng và mỡ, vừa ngọt thanh vừa có vị
chua dịu; cam sành (sinh cam) vỏ dày, vị chua nhẹ, cam mật vỏ mỏng vị ngọt;
cam giấy tức kim quất da rất mỏng màu hồng trông đẹp mắt vị chua; quất trục
(cây quýt) ghi trong một số sách cổ Trung Quốc là sản phẩm quý của phương
Nam đem sang Trung Quốc trước tiên. Các báo cáo của tác giả Tanaka (Nhật
Bản) trong chuyến đi khảo sát châu á đã nhắc đến loài cam quýt đựơc trồng ở
Việt Nam từ đầu thế kỷ 20. Hiện nay ở Nhật Bản có một số giống bưởi khá nổi
tiếng, những giống bưởi này được Tanaka thu nhập từ vườn thực vật Sài Gòn
mang về trồng thử nghiệm ở Nhật Bản [6], [19].
Tuy nhiên, cây cam quýt mới chỉ thực sự phát triển mạnh trong thời kỳ sau
1954, thời kỳ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đặc biệt sau những năm 60 của thế kỷ
XX nhờ chính sách phát triển nông nghiệp của Chính phủ. Diện tích và sản lượng
cam quýt tăng nhanh, nhiều nông trường trồng cam quýt được hình thành ở miền
Bắc như nông trường Sông Lô, Cao Phong, Sông Bôi, Thanh Hà, Vân Du, Đông
Hiếu, Sông Con, Phủ Quỳ, Bố Hạ với diện tích hàng ngàn ha cam quýt. Cùng với
các vùng cam quýt truyền thống như bưởi Đoan Hùng, bưởi Phúc Trạch, cam Bố
Hạ, quýt vàng Bắc Sơn, cam sành Hà Giang…, nghề trồng cam quýt được coi là một
sâu bệnh, làm cỏ, quét vôi gốc… rồi bón phân với liều lượng tựy vào sự sinh
trưởng và tuổi cây. Cây được bón phân lần 2 trước khi ngừng xử lý ra hoa, đến đầu
tháng 3 dương lịch ngừng tưới nước cho tới ngày 20/ 3 (20 ngày) thì bắt đầu tưới
trở lại, mỗi ngày 2 – 3 lần và liên tục 3 ngày. Sau ngừng tưới nước, nếu cây ra lộc
non, chúng ta có thể dùng các loại phân bón lá lên cây để giúp lá cây mau thành
thục. Đến ngày thứ 4 tưới nước mỗi ngày một lần. 10 – 15 ngày sau khi cây ra hoa
sẽ rụng cánh Trong nghiên cứu, cây bưởi ít được quan tâm hơn các loại cây có múi
khác. Kết quả bước đầu nghiên cứu về bưởi của Trần Thế Tục (1977). Tác giả tiến
hành nghiên cứu 8 giống bưởi: Đoan Hùng, bưởi ngọt Như quỳnh, Đại học Nông
Nghiệp I (Pumello), bưởi đường Yên Phong, Phú Thọ I, Phú Thọ II, Phú Thọ III.
Tác giả đã nêu ra
Cây giống sản xuất bằng phương pháp chiết cành phải có thời gian giữ lại
trong túi bầu polyetylel hoặc rọ tre/nứa, kích thước: chiều cao x đường kính = 35 x
15 (cm) và được chăm sóc trong vườn ươm từ 4 – 6 tháng, có bộ rễ đã húa nâu và
từ cấp 4 - 5 trở lên, có 3 cành cấp 1 và không ít hơn 2 cành, đường kính của các
cành từ 1, 0 – 1, 5 cm với bộ lá xanh lục, bánh tẻ, không sâu bệnh, dài tối thiểu 50
cm.
Các giống sản xuất bằng phương pháp ghép cũng phải được tạo hình cơ bản
trong vườn ươm, có ít nhất 2 cành cấp 1 và không nhiều quá 3 cành. Đường kính
cành ghép cách điểm ghép từ 0, 5 – 0, 7 cm, dài từ 50 cm trở lên, có bộ lá xanh tốt,
không sâu bệnh. Cây giống được trồng trong túi bầu polyetylel với kích thước quy
định: chiều cao x đường kính = 35 x 14 cm.
2.6.2. Chuẩn bị đất trồng
Chuẩn bị đất trồng bao gồm: Phát quang; san mặt bằng; thiết kế vườn trồng;
đào hố; bón phân lót và lấp hố; các công việc khác như làm đường, mương rãnh
tưới tiêu nước…
- Phát quang và san ủi mặt bằng: Đối với những đồi rừng chuyển sang trồng
cây ăn quả núi chung và trồng bưởi đều phải phát quang, thậm chí phải đánh bỏ
toàn bộ rễ cây rừng và san ủi tạo mặt phẳng tương đối để cho việc thiết kế vườn
* Cách trồng
Đào một hố nhỏ chính giữa hố trồng, đặt cây vào hố lấp đất vừa bằng cổ rễ
hoặc cao hơn 2 – 3 cm. Không được lấp quá sâu.
Trồng xong mỗi cây cần cắm một cái cọc để buộc thân cây cho gió khỏi lay
làm cây đổ, tưới nước đẫm để đất và rễ cây tiếp xúc chặt với nhau và dùng cỏ mục để
tủ gốc. Chú ý phải tủ cách gốc 10 – 15 cm để tránh sâu, bệnh xâm nhập.
2.6.4. Kỹ thuật chăm sóc
* Chăm sóc ở thời kì chưa cho quả (1 – 3 năm tuổi)
- Làm cỏ, bón phân,tưới nước.
+ Vườn cây phải luôn luôn sạch cỏ, đặc biệt là xung quanh gốc trong phạm vi
bán kính 40 – 50 cm. Dùng cỏ khô, rơm rạ tủ xung quanh gốc để vùng rễ cây thường
xuyên ẩm và hạn chế được cỏ dại. Giữa các hàng cây để có thể trồng xen các cây họ
đậu như lạc, đậu tương hoặc cây thuốc, rau xanh để có thêm sản phẩm khi bưởi chưa
có quả, đồng thời cũng là biện pháp phòng trừ cỏ dại hiệu quả. Trên đất dốc không
thể trồng xen các cây nông nghiệp ngắn ngày,
- Cắt ngắn là tỉa bỏ những đầu cành để hãm bớt tốc độ sinh trưởng vươn cao,
thúc đẩy các mầm cành phía dưới phát triển.
Số lá
trên cây
khi
giõm(lá)
Số lá
trên cây
khi đã
ổn
định(lá)
Số lá
bị rụng
Thời
gian
cây
hồi(ngày
)
Thời
gian ra
lộc mới
(ngày)
Thời gian
đạt tiêu
chuẩn xuất
vườn(ngày
)
CT1(ĐC
)
11, 50 8, 50 3, 00 8 22 55
CT2 11, 25 10, 25 1, 00 6 22 55
CT3 12, 40 9, 00 2, 60 6 22 55
hiện thông qua các chỉ tiêu: động thái tăng trưởng đường kính gốc cây, đường kính
tán, chiều cao cây.
Khi theo dõi về các chỉ tiêu về hình thái chúng tôi có được số liệu như bảng
4.7.
Bảng 4.7: Động thái tăng trưởng hình thái tán cây
(ĐV: cm)
Chỉ
tiêu
Tháng
Đường kính gốc Đường kính tán Chiều cao cây
Số đo Tăng Số đo Tăng Số đo Tăng
8 0, 59 0,00 26, 30 0, 00 34, 50 0, 00
9 0, 59 0, 00 26, 80 0, 50 34, 70 0, 20
10 0, 65 0, 06 27, 50 0, 70 35, 30 0, 60
11 0, 83 0,18 30, 01 2, 51 38, 00 2, 70
12 1, 13 0, 30 34, 00 3, 99 41, 20 3, 20
1 1, 26 0, 13 39, 27 5, 27 41, 95 0, 75
Tăng trưởng 0, 67 12, 97 7, 45
Qua bảng số liệu trên ta thấy:
- Động thái tăng trưởng đường kính gốc:
Đường kính gốc là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong công tác chọn
giống, đường kính gốc biểu hiện khă năng vững chắc của cây và liên quan đến khả
năng tạo tán của cây. Tuy nhiên mức độ tăng trưởng phụ thuộc vào bản chất của
giống, điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật chăm sóc. Qua đó ta thấy động thái tăng
trưởng đường kính gốc từ tháng 8/ 2010 đến thỏng 1/ 2011 tăng 0,67 cm; tăng
mạnh nhất từ tháng 11 đến thỏng 12 tăng 0,3 cm. Sau đó chậm dần lại vào tháng 1/
Chiều dài lá
(cm)
Chiều rộng lá
(cm)
Hình dạng lá
Lộc thu 2010 10, 74 4, 80 Hình ovan
Lộc đông 2010 9, 50 4, 50 Hình ovan
Qua số liệu bảng trên chúng tôi thấy hình thái lá của các cây giống như đặc
điểm của giống và đều có hình ovan dài, đuôi lá hơi nhọn. Tuy nhiên lộc đông lá
có kích thước nhỏ hơn. Vì những cây bưởi thí nghiệm mới trồng tuy lộc thu là đợt
lộc đầu tiên nhưng do điều kiện thích hợp nên kích thước của lộc thu dài hơn lộc
đông cả về chiều dài lá và chiều rộng lá.
4. 4.Tình hình sâu bệnh hại của giống bưởi Sa Điền
Vốn nằm trong điều kiện nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều nên rất
thuận lợi cho sâu bệnh hại phát sinh, phát triển. Đối với tất cả các loại cây trồng
nói chung và đối với cây bưởi nói riêng sâu bệnh hại gây ảnh hưởng rất lớn đến
tình hình sinh trưởng, phát triển của cây, từ đó làm giảm năng suất và giá trị
thương phẩm. Bưởi là cây ăn quả có giá trị nhiệt đới có bộ lá quanh năm xanh tốt,
sâu bệnh hại nhiều sẽ gây ảnh hưởng trầm trọng tới sự sinh trưởng và phát triển
của cây.
Qua thời gian theo dõi tôi thấy có xuất hiện triệu chứng một số loại sâu bệnh
hại hớnh như: Sâu vẽ bùa, sâu đục thân, sâu xanh hại lá, một số loại bệnh chính như:
bệnh chảy gụm, thối gốc chảy nhựa, bệnh loét, vàng lá. Tuy nhiên chúng tôi cũng đã
phát hiện và chữa trị kịp thời dựa trên cơ sở dự tính và dự báo.
Như vậy trong quá trình chăm sóc chúng ta thường xuyên theo dõi, phát hiện
kịp thời để có những biện pháp phòng, trừ hiệu quả và không gây ảnh hưởng đến
sự sinh trưởng của cây, đảm bảo cho cây có bộ khung tán vững chắc ở giai đoạn
kiến thiết cơ bản là tiền đề cho cây phát triển tốt, đem lại năng suất cao và ổn định
sau này.
- Tình hình sâu bệnh hại: Sâu vẽ bùa, nhện đỏ. Một số loại bệnh như: bệnh
chảy gụm.
Kết luận: giống bưởi Sa Điền (Trung Quốc) sinh trưởng tốt trong điều kiện
sinh thái ở Tân Cương.
5.2. Đề nghị
Đề nghị cần tiếp tục nghiên cứu, theo dõi khả năng sinh trưởng, phát triển của
giống bưởi này qua nhiều năm để có những kết quả đánh giá chính xác hơn. Từ đó
đưa ra được giống bưởi có tình hình sinh trưởng, phát triển tốt phù hợp với điều
kiện khí hậu, thời tiết, đất đai của tỉnh Thái nguyên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiềng việt
1. Ngô xuân Bình, Lê Tiến Hùng (2010), Kỹ thuật trồng
bưởi, Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ.
2. Ngô Hồng Bình (2006), Kỹ thuật trồng một số cây
ăn quả vùng Duyên Hải miền Trung.
3. Lý Gia Cầu (1993), Kỹ thuật trồng bưởi năng suất
cao nổi tiếng của Trung Quốc, Nxb khoa học kỹ thuật
Quảng Tây.
4. Phạm Thị Chữ (1998), Tuyển chọn bưởi Phúc
Trạch, Đề tài khoa học.
5. Bùi Huy Đáp (1960), Cây ăn quả nhiệt đới, NXB
Nông thôn.
6. Lê Quý Đôn (1962), Vân đài loại ngữ, tập
2, Nxb Văn húa, Viện văn húa.
7. Mạc Thị Đua (1997), “Tuyển chọn bưởi Thanh Trà ở
Thừa Thiên Huế”,Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa
18. Woo – Nang Chang, Jan Bay Pertersen
(2003), Citrus production A manual for Asian farmers ,
food fertilizer Technology center.
19. Wakana A Kira (1998), The citrus production
in the wirld,Tokyo – Japan