1. Mở đầu
1.1. Đặt vấn đề
Hiện nay, toàn thế giới đang đứng trớc một vấn đề cấp bách là bảo vệ
nguồn lợi di truyền động vật và tính đa dạng sinh học. ở Việt Nam cũng nh
nhiều nớc trên thế giới đang có hiện tợng suy thoái và mất dần tính đa dạng
di truyền của các giống gia súc, gia cầm truyền thống. Nhiều giống vật nuôi
đang bị thoái hoá, lai tạp, thậm chí có một số giống bị tuyệt chủng.
Tổ chức FAO cho biết, đe doạ lớn nhất đối với sự đa dạng các động vật
nông nghiệp hiện nay chính là việc các nớc nghèo đang nhập khẩu ồ ạt các
giống vật nuôi cao sản nhng chất lợng sản phẩm và khả năng thích nghi
kém. Việc làm đó dẫn đến việc lai tạo hỗn loạn, không kiểm soát đợc, thậm
chí là thay thế các giống địa phơng quý hiếm. Đó là một hiểm hoạ về lâu dài.
Cứ mỗi tuần có 2 loài bị biến mất và hiện có 1350 loài động vật nông nghiệp
đang bị đe doạ tuyệt chủng [6]. Hiện trạng ngành chăn nuôi gia cầm của nớc
ta cũng không tránh khỏi tình trạng trên.
Để ngành chăn nuôi gia cầm nớc ta vừa phát triển nhanh chóng vừa
bền vững, bên cạnh việc nhập khẩu các giống công nghiệp có năng suất cao
chúng ta cần chú ý thống kê, khảo sát, từ đó có kế hoạch bảo tồn và phát triển
các giống gà địa phơng quý hiếm nh gà Ri, gà Đông Tảo, gà Mía Vấn đề
đó càng có ý nghĩa lớn khi mà nớc ta đợc các nhà khoa học trên thế giới
đánh giá là một trong những quê hơng của các giống gà nhà ngày nay.
Gà Hồ là một giống gà địa phơng rất quý hiếm với số lợng còn lại rất
ít và đang bị pha tạp dẫn đến có nguy cơ tuyệt chủng, vì vậy việc nghiên cứu
bảo tồn giống gà này đang là vấn đề rất thiết thực và cấp bách. Với suy nghĩ
nh vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu khả năng sinh
sản, sinh trởng và cho thịt của gà Hồ. 1
4 chủng khác nhau:
- Gallus sonnerati, có lông màu xám bạc, có nhiều ở miền tây và nam ấn độ.
- Gallus lafeyetti sống ở Srilanca.
- Gallus varius sống ở đảo Gia-Va.
- Gallus Banquiva có màu lông đỏ, có nhiều ở ấn độ, bán đảo Đông
Dơng, Philippine.
2.1.1.3. Sự thuần hoá gà nhà
Theo tác giả Neumeister (1978), sự thuần hoá gà đầu tiên diễn ra vào
thời kỳ Đồ Đồng ở các thung lũng thuộc sông ấn [30]. Trong các tợng đài kỷ
3
niệm nền văn hoá cổ ấn Độ (3000 năm trớc Công Nguyên), ngời ta thấy có
nhiều tác phẩm nghệ thuật tạo hình mô tả về gà ở vùng Harappa, thuộc miền
bắc ấn Độ. Có nhiều giả thuyết cho rằng gà nhà đợc thuần hoá đầu tiên từ ấn độ
cách đây hơn 5000 năm; ở Trung Quốc cách đây hơn 3000 năm. Sau đó xuất hiện
ở Ba T rồi đến Mesopotami. ở Tây âu gà nhà xuất hiện cách đây gần 2500 năm.
ở nớc ta, cho đến nay các công trình nghiên cứu về nguồn gốc của gà
cha thật đầy đủ, nhng sơ bộ có thể nói nớc ta là một trong những trung tâm
thuần hoá gà đầu tiên của vùng Đông Nam á. Gà nhà ở nớc ta bắt nguồn từ
gà rừng Gallus Banquiva. Gà đợc nuôi sớm nhất ở vùng Hà Bắc, Vĩnh Phú,
Hà Tâycách đây hơn 3000 năm (Nguyễn Mạnh Hùng và cs, 1994) [15].
Nh vậy, thông qua các di chỉ khảo cổ với các niên đại khác nhau
cho phép khẳng định Gallus Banquiva là tổ tiên của các giống gà nhà hiện
nay. Đến nay các tài liệu đều chứng minh rằng gà đợc thuần hoá đầu tiên
ở Đông Nam á và từ đây phân bố đi khắp thế giới. Trải qua hàng nghìn
năm thuần hoá và không ngừng chọn lọc đã hình thành các giống gà địa
phơng thích nghi tốt với đặc điểm riêng biệt của nhiều nớc khác nhau,
đồng thời hình thành nên các giống gà theo các hớng sản xuất khác nhau
nh hiện nay.
2.1.2. Cơ sở di truyền căn bản các tính trạng ở gà
là những sai khác về mặt số lợng trong mức độ biểu hiện của tính trạng trong
từng cá thể và chỉ có thể phát hiện đợc sai khác bằng các tính toán và cân đo.
ở gia cầm có khá nhiều các tính trạng số lợng mà ngời ta có thể theo dõi
đợc quy luật di truyền của chúng nh tốc độ lớn, tuổi đẻ trứng đầu, sản lợng
trứng, khối lợng trứng, độ dày vỏ, màu sắc vỏ trứng, sức chống bệnh, thể
trọng...[16].
Bản chất di truyền các tính trạng số lợng là do nhiều gen điều khiển và
sự di truyền của chúng cũng phù hợp với các quy luật của Mendel. Khi nghiên
cứu bản chất di truyền các tính trạng số lợng, Fisher cho rằng các tính trạng
số lợng do nhiều gen kiểm soát và mỗi alen của chúng có một hiệu ứng nhỏ,
riêng biệt và biểu hiện kiểu hình là kết quả cộng gộp của các hiệu ứng của các
5
alen, hay nói cách khác kiểu hình là kết quả của sự tơng tác giữa kiểu gen và
môi trờng (Lê Đình Trung và cộng sự, 2000) [50].
P = G + E
Trong đó: P là giá trị kiểu hình (phenotype value )
G là giá trị kiểu gen (genotype vanlue)
E là sai lệch môi trờng (envirmental deviation)
Giá trị kiểu gen bao gồm:
Giá trị cộng gộp A (additive value) đây là thành phần quan trọng
nhất của kiểu gen vì nó cố định và di truyền đợc.
Sai lệch trội D (dominance deviation): là sự sai khác giữa giá trị kiểu gen
(G) và giá trị giống (A) của một kiểu gen nào đó khi xem xét một locus duy nhất.
Sai lệch tơng tác I (interaction deviation): là sai lệch có đợc do sự
tơng tác giữa các gen thuộc các locus khác nhau khi kiểu gen gồm từ hai
locus trở lên.
G = A + D + I
Sai lệch môi trờng gồm: sai lệch môi trờng chung Eg (general
environmental deviation) và sai lệch môi trờng riêng Es (special environmental
Căn cứ vào hớng sản xuất, hình dáng kích thớc cơ thể của gia cầm
mà ngời ta phân thành gia cầm hớng thịt, hớng trứng hoăc kiêm dụng.
Gia cầm hớng trứng có hình dáng thon, nhỏ, khối lợng cơ thể thấp,
đầu nhỏ, cổ dài, nhanh nhẹn; Gia cầm hớng thịt có thân hình to, ngực nở,
đùi, lờn rất phát triển, dáng nặng nề, khối lợng cơ thể lớn; Gia cầm kiêm
dụng có hình dáng trung gian giữa gia cầm hớng trứng và hớng thịt.
Brandsch và Biichel (1978) cho biết, giữa khối lợng cơ thể và các
chiều đo có mối tơng quan dơng [3]. Nguyễn Duy Nhị (1975) cho biết, có
thể dùng chiều dài bàn chân để tiên đoán cờng độ sinh trởng của gà, vì khối
lợng cơ thể có tơng quan thuận với kích thớc bàn chân [34].
Brandsch và Biichel (1978) cho rằng, cấu tạo xơng đầu có độ tin cậy
cao trong việc đánh giá gia cầm. Da mặt và các phần phụ của đầu cho phép rút
7
ra kết luận về sự phát triển của mô đỡ và mô liên kết. Gà trống có loại hình đầu
gần giống gà mái sẽ có tính năng sinh dục kém, gà mái có loại hình đầu giống gà
trống sẽ không cho năng suất trứng cao, trứng đẻ ra thờng không có phôi [3].
Mào là đặc điểm sinh dục thứ cấp, có thể dùng để phân biệt trống mái.
Mào gà rất đa dạng cả về hình dáng, kích thớc, màu sắc và đặc trng cho
từng giống. Dựa vào hình dạng, ngời ta phân ra các loại mào cờ (mào đơn),
mào hạt đậu, mào hoa hồng, mào nụ ...(Nguyễn Mạnh Hùng và cs, 1994) [15].
Chân gia cầm có 4 ngón, rất ít 5 ngón. Cổ, bàn và ngón chân thờng có
vảy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da. Chân thờng có móng và
cựa. Cựa có vai trò cạnh tranh và đấu tranh sinh tồn của loài (Trần Kiên và cs,
1998) [18].
2.1.4. Cở sở nghiên cứu tập tính của vật nuôi
Tập tính (behaviour) là các hoạt động, phản ứng trả lời kích thích ở các
loài động vật hay tất cả các hành vi trong cuộc sống của chúng. Tập tính phản
ánh toàn bộ hoạt động sống của động vật, biểu hiện các mối quan hệ giữa
động vật với môi trờng tự nhiên với các cá thể khác cùng loài hoăc khác loài,
Biichel,1978) [3]. Các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh
truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng cao hơn so với các giống vật nuôi ở xứ ôn
đới (Trần Đình Miên và cộng sự , 1994 [29]; Nguyễn Văn Thiện, 1995 [41]).
Trần Long và cộng sự (1994) cho biết, tỷ lệ nuôi sống của gà Ri từ 0 - 6
tuần tuổi đạt 93,3% [21]. Trần Thị Mai Phơng (2004) cho biết, tỷ lệ nuôi sống
của gà ác từ 0 - 8 tuần tuổi đạt 93,6 - 96,9% [36]. Tỷ lệ nuôi sống của gà Ri từ
0 - 9 tuần 92,11% (Nguyễn Đăng Vang và cộng sự, 1999) [52].
2.1.6. Cơ sở nghiên cứu các tính trạng sinh sản của gia cầm
2.1.6.1. Tuổi thành thục sinh dục
9
Tuổi thành thục sinh dục là tuổi bắt đầu hoạt động sinh dục và có khả
năng tham gia quá trình sinh sản. ở gà mái tuổi thành thục sinh dục là tuổi đẻ
quả trứng đầu tiên đối với từng cá thể hoặc lúc tỷ lệ đẻ đạt 5% đối với mỗi đàn
(quần thể) gà (Pingel và cs, 1980) (dẫn theo Trần Thị Mai Phơng, 2004) [36].
Tuổi thành thục sinh dục chịu ảnh hởng của giống và môi trờng. Các
giống khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau. Pingel và cs
(1980) (dẫn theo Trần Thị Mai Phơng, 2004) [36] cho rằng, tuổi thành thục
sinh dục của gà khoảng 170 - 180 ngày, biến động trong khoảng 15 - 20 ngày.
Tuổi đẻ quả trứng đầu của gà Ri 135 - 144 ngày (Nguyễn Văn Thạch, 1996)
[40], gà Đông Tảo 157 ngày (Phạm Thị Hoà, 2004) [11], gà ác 113 - 125
ngày (Trần Thị Mai Phơng, 2004) [36], gà Hồ 240 - 255 ngày (Lê Văn
Tởng, 1977) [51], gà Mía là 174 ngày (Nguyễn Văn Thiện và Hoàng Phanh,
1999) [44], gà HMông 147 ngày (Đào Lệ Hằng, 2001) [10], gà xơng đen
Thái Hoà Trung Quốc 141-144 ngày (Vũ Quang Ninh, 2002) [35].
Tuổi đẻ sớm hay muộn liên quan chặt chẽ đến khối lợng cơ thể ở một
thời điểm nhất định. Những gia cầm có khối lợng cơ thể nhỏ thờng có tuổi
thành thục sớm hơn những gia cầm có khối lợng cơ thể lớn. Các yếu tố ảnh
hởng đến tuổi thành thục sinh dục sớm là ngày, tháng nở của gà con (độ dài
của ngày chiếu sáng), khoảng thời gian chiếu sáng tự nhiên hay nhân tạo, cũng
đủ và cân đối các chất dinh dỡng sẽ đảm bảo sức sản xuất tối đa, mang lại
hiệu quả kinh tế cao.
2.1.6.3. Sức đẻ trứng
Đây là chỉ tiêu rất quan trọng, phản ánh năng lực sản xuất và khả năng
tái tạo đàn gia cầm. Brandsch và Biichel (1978) [3] cho rằng, ngoài các yếu tố
nh đã nói ở trên, có 5 yếu tố di truyền cá thể ảnh hởng đến sức đẻ trứng của
gia cầm:
+ Tuổi đẻ quả trứng đầu
+ Cờng độ đẻ (chu kỳ đẻ trứng)
+ Tần số thể hiện bản năng đòi ấp
+ Thời gian nghỉ đẻ mùa đông
11
+ Thời gian kéo dài hay tính ổn định của sự đẻ trứng
Cờng độ đẻ trứng là số trứng đẻ ra trong một khoảng thời gian nhất
định. Cờng độ đẻ trứng đợc tính theo công thức: F = (n/n+z)*100, trong đó
n là số ngày đẻ trứng, z là số ngày nghỉ đẻ. Cờng độ đẻ trứng liên quan chặt
chẽ với thời gian chiếu sáng chuồng nuôi. Cờng độ đẻ trứng có mối tơng
quan chặt chẽ với sức đẻ trứng cả năm.
Bản năng đòi ấp do yếu tố di truyền chi phối. Các giống, các dòng có
sự thể hiện bản năng này có khác nhau. Các dòng nhẹ cân ít đòi ấp hơn trong
khi các giống nặng cân và trung bình thể hiện mạnh hơn. Bản năng đòi ấp
cũng bị ảnh hởng của môi trờng rất rõ rệt. Các dòng ham ấp đều có sức đẻ
kém hơn, vì vậy có thể loại bỏ bản năng đòi ấp để nâng cao sức đẻ trứng
(Brandsch và Biichel, 1978) [3].
Nghỉ đẻ cũng là yếu tố tác động tới sức đẻ trứng. Thời gian nghỉ đẻ
ngắn hay dài ảnh hởng trực tiếp đến số trứng đẻ cả năm.
Độ dài thời gian đẻ thờng đợc quan sát từ năm đẻ đầu và đợc tính từ
lúc đẻ quả trứng đầu tiên cho đến lúc thay lông hoàn toàn. Giữa sự thành thục
về tính và thời gian đẻ có mối tơng quan nghịch rõ rệt, giữa thời gian đẻ
* Màu sắc và chất lợng vỏ trứng
Trứng các giống gà địa phơng thờng có màu trắng. Bên cạnh đó, có
một số giống trứng có màu nâu nhạt. Ngoài ra, ngời ta còn thấy trứng có màu
xanh lam ở các giống gà Trung Mỹ và Nam Mỹ.
Sự tích luỹ sắc tố ở vỏ trứng đợc tiến hành khi trứng nằm trong tử cung:
Màu nâu của vỏ trứng là do sắc tố porfiril hoặc protoporfirin, còn màu xanh là do
sắc tố oxian quyết định. Màu sắc trứng có nhiều biến động về độ đậm nhạt
trong năm. Vỏ trứng có màu đậm nhất là về mùa thu và mùa đông, vào mùa
xuân và mùa hè do sức đẻ cao nên trứng bị nhạt màu, đến cuối thời kỳ đẻ,
trứng lại đậm màu lên.
13
Màu sắc vỏ trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố và có liên quan đến kỹ
thuật soi trứng nhng không liên quan đến chất lợng trứng,. Hệ số di truyền
của màu sắc trứng là rất cao (76%) [17].
Chất lợng trứng còn đợc thể hiện ở độ dày và độ chịu lực của vỏ
trứng, chúng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc vận chuyển và ấp trứng.
Độ dày vỏ trứng phụ thuộc vào các điều kiện của môi trờng và các quá
trình trao đổi chất trong cơ thể gà mái. Thiếu vitamin và khoáng trong khẩu
phần, tình trạng bệnh tật, sử dụng thuốc thú y sẽ làm giảm đáng kể chất
lợng vỏ trứng.
Vỏ trứng gà có độ dày biến động trong khoảng 0,311 - 0,588 mm [15].
Vỏ trứng quá mỏng hay quá dày đều ảnh hởng đến khả năng ấp nở của gà.
Độ bền vỏ trứng đợc đánh giá qua hai chỉ tiêu là độ dày và độ xốp của vỏ.
* Chất lợng lòng trắng và lòng đỏ
Lòng trắng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nớc, khoáng ...
trong quá trình phát triển cá thể ở giai đoạn phôi. Chất lợng lòng trắng đợc
xác định qua chỉ số lòng trắng và đơn vị Haugh.
Chỉ số lòng trắng phụ thuộc vào nhiều yếu tố nh giống, tuổi, điều kiện
nuôi dỡng... Chỉ số lòng trắng dao động trong khoảng 0,08 - 0,09.
đẻ vào đầu hoặc cuối chu kỳ. Nhiều gen gây chết và nửa gây chết cũng ảnh
hởng lên khả năng nở [17].
Bùi Hữu Đoàn (1999) cho biết, khi bổ sung vitamin C hàm lợng 150
ppm vào khẩu phần ăn của gà con từ 0 - 4 tuần tuổi đã làm giảm tỷ lệ chết
0,63 - 4,7% [5].
2.1.7. Cơ sở nghiên cứu các tính trạng sinh trởng và cho thịt của gia cầm
2.1.7.1. Khả năng sinh trởng
* Khái niệm
15
Sinh trởng: là sự tăng kích thớc, khối lợng của cơ thể đang ở giai
đoạn lớn lên. Trong hai chỉ tiêu tăng kích thớc và tăng khối lợng thì chỉ tiêu
tăng kích thớc đáng tin cậy hơn vì khối lợng sinh vật có thể tạm thời biến
động tuỳ theo chế độ dinh dỡng (Lê Quang Long và cs, 1990) [20].
Phát triển là sự biến đổi không những về đặc điểm hình thái mà cả chức
năng sinh lý theo từng giai đoạn của sinh vật. Sinh trởng và phát triển luôn gắn
liền với nhau, bổ sung cho nhau để sinh vật lớn lên và trởng thành. Sinh trởng là
điều kiện để phát triển và phát triển làm thay đổi sự sinh trởng [20].
Tính giai đoạn của sinh trởng biểu hiện ở nhiều hình thức khác nhau.
Thời gian của các giai đoạn dài hay ngắn, số lợng giai đoạn và sự đột biến
trong sinh trởng của từng giống, từng cá thể có sự khác nhau. Giai đoạn này
tiếp nối giai đoạn khác, không đi ngợc trở lại, không bỏ qua thời kỳ nào, ở mỗi
giai đoạn, thời kỳ đều có đặc điểm riêng [1].
ở gà, căn cứ vào sự sinh trởng của các cá thể ta có thể phân biệt các
giai đoạn phát triển nh giai đoạn phát triển của phôi trong trứng trớc khi đẻ,
giai đoạn phát triển của phôi trong trứng sau khi đẻ, giai đoạn trứng nở thành
con (sơ sinh) đến khi thành thục sinh dục, giai đoạn sinh sản. Mỗi giai đoạn
đều có đặc điểm hình thái, sinh lý đặc trng.
Đối với gia cầm sinh trởng là sự biến đổi, tổng hợp của sự tăng lên về
số lợng, kích thớc của tế bào và thể dịch trong mô bào ở giai đoạn phát triển
các quy luật của Mendel [17].
Kích thớc cơ thể luôn có mối tơng quan thuận chặt chẽ với khối
lợng cơ thể. Kích thớc cơ thể còn liên quan đến các chỉ tiêu sinh sản nh
tuổi thành thục về thể trọng, chế độ dinh dỡng, thời gian giết thịt thích hợp
trong chăn nuôi gà.
- Khối lợng cơ thể:
Khối lợng cơ thể là một tính trạng số lợng và đợc quy định bởi yếu
tố di truyền. Khối l
ợng gà con khi nở phụ thuộc vào khối lợng quả trứng và
17
khối lợng của gà mẹ vào thời điểm đẻ trứng. Tuy nhiên, khối lợng gà khi nở
ít ảnh hởng đến sự tăng trởng tiếp theo (Jonhanson, 1972) [17].
Đối với gà hớng thịt, điều quan trọng nhất là khối lợng gà khi giết
mổ. Khối lợng cơ thể không những liên quan tới hiệu quả sử dụng thức ăn
mà còn cần thiết để quyết định thời gian nuôi thích hợp. Khối lợng cơ thể
đợc minh hoạ bằng đồ thị sinh trởng tích luỹ. Đồ thị này thay đổi theo
dòng, giống, điều kiện nuôi dỡng, chăm sóc.
- Tốc độ sinh trởng
Trong chăn nuôi ngời ta thờng sử dụng hai chỉ số để mô tả tốc độ
sinh trởng ở vật nuôi là tốc độ sinh trởng tuyệt đối và tốc độ sinh trởng
tơng đối.
Độ sinh trởng tuyệt đối chính là sự gia tăng về khối lợng sống trung
bình một ngày đêm. Sinh trởng tuyệt đối thờng đợc tính bằng g/con/ngày
hoặc g/con/tuần. Đồ thị sinh trởng tuyệt đối có dạng parabol. Giá trị sinh
trởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn.
Tốc độ sinh trởng tơng đối là tỷ lệ % tăng lên của khối lợng, kích
thớc và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát (TCVN 2.
40. 1997) [47]. Đồ thị sinh trởng tơng đối có dạng hypebol. Gà còn non độ
sinh trởng tơng đối cao, sau đó giảm dần theo tuổi.
cơ thể đạt 1297,58g [11]. Trong khi đó gà HMông ở 12 tuần tuổi đạt 805,59g
(Đào Lễ Hằng, 2001) [10]; gà Mía 12 tuần tuổi khối lợng cơ thể đạt 1503g.
(Nguyễn Văn Thiện và cộng sự, 1999) [44].
- ảnh hởng của tính biệt: gia cầm trống thờng có khả năng sinh
trởng cao hơn gia cầm mái trong cùng một điều kiện chăm sóc, nuôi dỡng.
Jull (1923) cho biết, gà trống có tốc độ sinh tr
ởng nhanh hơn gà mái 24-
32% và sự sai khác này là do gen liên kết với giới tính, những gen này ở gà trống
(2 NST giới tính) hoạt động mạnh hơn gà mái (1 NST giới tính) [60].
- ảnh hởng của dinh dỡng: dinh dỡng không những ảnh hởng trực tiếp
tới sự phát triển của các bộ phận cơ thể nh thịt, trứng, xơng, da...mà còn ảnh
hởng đến sự biến động di truyền về sinh trởng (Box và cs, 1954) [55]. Muốn
19
phát huy tốt khả năng sinh trởng cần phải cung cấp thức ăn tối u về dinh dỡng
giữa protein, axit amin và năng lợng, ngoài ra trong thức ăn hỗn hợp cần bổ sung
thêm các chế phẩm hoá sinh không mang ý nghĩa dinh dỡng nhng có tác dụng
kích thích sinh trởng làm tăng chất lợng thịt (Bùi Đức Lũng, 1992) [22].
2.1.7.2. Khả năng cho thịt
* Đặc điểm khả năng cho thịt của gà
Tỷ lệ thân thịt chính là tỷ lệ % của khối lợng thân thịt so với khối
lợng sống của gia cầm. Năng suất của các thành phần thân thịt là tỷ lệ % của
các phần so với thân thịt và năng suất của cơ là tỷ lệ % cơ so với thân thịt.
Chambers (1990) [57], Peter (1959), Ristic và Shon (1977) (dẫn theo Trần Thị
Mai Phơng, 2004) [36] đã tổng hợp trên nhiều loại gia cầm và đa ra tỷ lệ
các phần của thân thịt nh sau: khối lợng sống của gia cầm 100%, trong đó
khối lợng thân thịt chiếm khoảng 64% (trong đó 52% là thịt và 12% là
xơng), phủ tạng chiếm khoảng 6%; máu, lông, đầu, chân, ruột chiếm khoảng
17% và tỷ lệ hao hụt khi giết mổ chiếm khoảng 13%.
* Các yếu tố ảnh hởng đến năng suất thịt
Ngoài ra, năng suất thịt còn chịu ảnh hởng của các yếu tố nh thời tiết,
khí hậu, chế độ chiếu sáng, chăm sóc, nuôi dỡng...
2.1.8. Phẩm chất thịt gà
Phẩm chất thịt đợc quyết định bởi nhiều yếu tố. Các tác giả
Neumeister (1978) [30], Nguyễn Duy Hoan và cộng sự (1998) [12], Lê Thanh
Hải và cộng sự (1999) [7], đều thống nhất cho rằng thành phần hoá học, chất
lợng thịt xẻ có sự khác nhau giữa các loài, các dòng, các giống và các tổ hợp
lai khác nhau. Chambers (1990) cho biết, tốc độ sinh trởng có tơng quan âm với
tỷ lệ mỡ (r =- 0,39) và tơng quan dơng với tỷ lệ protein (r = 0,53) [57].
Gà ác nuôi đến 8 tuần tuổi, gà trống có tỷ lệ protein thịt ngực 24,5%;
mỡ 0,6% và khoáng tổng số 1,2%; tỷ lệ protein thịt đùi 22%; mỡ 1,7% và
21
khoáng tổng số 1,1% và gà mái thịt ngực có các giá trị tơng ứng là 24,8; 0,6
và 1,1%; thịt đùi có các giá trị tơng ứng là 21,9; 2,3 và 1,2% [36].
Nguyễn Văn Hải và cộng sự (1999) cho biết, thịt gà Ri có tỷ lệ protein
21,45%; mỡ thô 1,5%; khoáng tổng số 1,37%; sắt 3,9 mg/100g và hàm lợng các
axit amin nh alanin 1,334%; arginin 1,261%; axit aspartic 1,857%; axit
glutamic 2,784%; glyxin 0,819%; histidin 0,853%; izolơxin 0,949%; lơxin
1,557%; lizin 1,903%, metionin 0,452%; phenylalanin 0,842%; prolin 0,984%;
serin 0,871%; treonin 1,006%; tirozin 0,664% và valin 1,007% [9].
Chất lợng thịt còn đợc đánh giá dựa vào sự nuôi dỡng và ảnh hởng
của chế biến đến cảm quan (màu sắc, mùi vị, tính chất mềm). Newbold (1996)
cho biết, khi con vật chết do hao tổn về máu và thiếu oxi, mô cơ tiếp tục sản
sinh ATP từ kho chứa glycogen bằng con đờng phân huỷ yếm khí glycogen.
Axit lactic đợc tạo ra tích tụ lại gây giảm pH của thịt cho đến khi hết
glycogen, lúc đó pH thờng giảm thấp nhất (pH =5,4) [61].
Chất lợng thịt còn đợc đánh giá qua độ tuổi, giới tính, chế độ dinh
dỡng và điều kiện chăm sóc, nuôi dỡng. Các tác giả Sonaiya (1990) [65].
Yamashita và cộng sự (1976) [68], Touraille và công sự (1981) [66] cho biết,
cho thịt, thồ, cỡi, cho trứng, sữa, da... Vậy mà ngày nay hàng ngày đang có
hàng chục loài sinh vật bị biến mất và khi một loài đã bị mất đi thì ta chẳng
bao giờ tìm lại đợc chúng. Chính vì vậy, việc bảo tồn nguồn gen quý hiếm
của các giống vật nuôi đã đợc d luận, các nhà khoa học của nhiều Quốc gia
quan tâm, chú ý từ nhiều thập kỷ và đã có nhiều hoạt động tích cực nhằm bảo
vệ các loài động vật quý hiếm khỏi sự tuyệt chủng với sự ra đời của Hiệp Hội
bảo tồn thiên nhiên thế giới (WCU) nay gọi là Quỹ Quốc tế về thiên nhiên
(WWF), tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên Hiệp Quốc (UNESCO)
và chơng trình môi trờng LHQ (UNEP) (Lê Viết Ly, 2004) [27]. Bên cạnh
23
đó nhiều khu bảo tồn quy mô lớn đã đợc thiết lập ở nhiều khu vực sinh thái
khác nhau, tại nhiều quốc gia trên khắp các châu lục, Hiệp định về cấm buôn
bán các loài thú quý hiếm đã đợc ký kết và thi hành có hiệu quả. Sách đỏ
(Red book) đã đợc Uỷ ban về các loài thú sống sót (Species Suvival
Commission của IUCN) xuất bản. Nhờ đó nhiều loài thú bị đe doạ tuyệt chủng
đã đợc bảo hộ, nhiều loài biến mất trong hoang dã đã đợc khôi phục và đa
trở lại môi trờng sống của chúng.
Nhu cầu về thực phẩm tăng nhanh, sức ép của dân số cùng với quy luật
của kinh tế thị trờng, các thành tựu về khoa học kỹ thuật trong công tác
giống. Nhân loại chỉ quan tâm tới một số giống cải tiến có giá trị kinh tế lớn.
Hậu quả là ngay các giống vật nuôi nhà cũng đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Trong những năm 1970 Châu Âu đang đứng trớc nguy cơ một số
giống vật nuôi truyền thống nh bò, ngựa, cừu, lợn bị biến mất. Một số nhóm
những ngời có tâm huyết ở Anh đã thành lập tổ chức các giống vật nuôi hiếm
(Rare Breerss Surrvival Trust). Sau đó là Hiệp Hội chăn nuôi châu Âu EAAP,
qua điều tra đã thống kê 240 giống gia súc có nguy cơ bị biến mất. Từ đó hầu
hết các nớc châu Âu đều có chơng trình bảo tồn vật nuôi.
Nhiều tổ chức chính phủ và phi chính phủ ra đời ở các nớc, các khu
vực dẫn đến sự ra đời của Tổ chức Quốc tế các giống hiếm (RBI). Các hội
năng cho thịt tốt, thích nghi cao phù hợp với nhiều phơng thức nuôi.
Pháp là nớc đi đầu trong việc nuôi và tiêu thụ sản phẩm gà Label
Rouge nhiều nhất thế giới. Năm 1996 là 90 triệu con, sản xuất trên 133.000
tấn thịt sạch chất lợng cao, chiếm khoảng 20% sản lợng thịt gà và trên 10%
tổng sản lợng thịt gia cầm (Đoàn Xuân Trúc (1999) [49].
Pháp có trên 20 tập đoàn chuyên sản xuất thịt gà chất lợng cao với trên
6000 trang trại chuyên nuôi gà Label Rouge.
Nhật Bản hiện nay thịt gà có chất lợng cao chiếm tới 13% thị trờng
thịt ở Nhật Bản và đang tăng trởng với mức 10% năm. Nhật Bản có hơn 120
loại gà chất lợng cao đang đ
ợc nuôi tại khắp các vùng miền trong cả nớc.
25