Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
------------------ NGUYỄN THỊ LAN NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN,
NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA MỘT SỐ GIỐNG
DƯA CHUỘT LAI F1 TRỒNG TẠI GIA LỘC, HẢI DƯƠNG
VỤ ĐÔNG 2007 VÀ XUÂN HÈ 2008
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số : 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN THỊ MINH HẰNG
HÀ NỘI, 2008
i
LỜI CAM ĐOAN
đỡ với tinh thần trách nhiệm cao và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi
hoàn thành luận án này.
TS. Đào Xuân Thảng và bộ môn Rau Viện CLT - CTP đã giúp đỡ và
chỉ bảo tôi trong suất quá trình làm đề tài tại viện.
Tập thể Thầy, Cô giáo khoa Nông Học, đặc biệt các Thầy, Cô giáo
trong Bộ môn Rau – Quả của trường Đại Học Nông nghiệp Hà Nội đã trực
tiếp giảng dạy và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn
này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp, gia đình và
người thân đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tiến hành đề tài.
Hà Nội, ngày 18 tháng 09 năm 2008
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Lan iii
MỤC LỤC
PHẦN I. MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích và yêu cầu 3
1.2.1. Mục đích 3
1.2.2. Yêu cầu 3
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.3.1. Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Nguồn gốc, phân bố và phân loại cây dưa chuột 4
4.3. Đặc trưng hình thái thân, lá của các giống dưa chuột 51
4.3.1. Lá dưa chuột 51
4.3.2. Thân cây dưa chuột 53
4.4. Đặc điểm ra hoa đậu quả của các giống dưa chụôt 53
4.5. Tình hình sâu bệnh trên các giống dưa chuột 57
4.5.1. Về sâu hại 57
4.5.2. Về bệnh hại 57
4.6. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống dưa chuột
trồng ở vụ đông 2007 và xuân hè 2008 60
4.6.1. Số quả trên cây 60
4.6.2. Khối lượng trung bình quả 61
4.6.3. Năng suất cá thể của các giống dưa chuột 61
4.6.4. Năng suất lý thuyết và năng suất thương phẩm 61
4.7. Chất lượng quả dưa chuột 64
4.7.1. Đặc điểm hình thái và cấu trúc quả dưa chuột 64
4.7.2. Chất lượng hoá sinh và cảm quan của các giống dưa chuột 67
PHẦN V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70
5.1. Kết luận 70
5.2. Đề nghị 71
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AVRDC Asian Vegetable Development Center
(Trung tâm nghiên cứu phát triển rau châu á)
Viên CLT- CTP :
ViÖn c©y L−¬ng thùc – C©y thùc PhÈm
FAO Food and Agriculture Orangition
(Tổ chức nông lương của Liên Hợp Quốc)
CS Cộng sự
4.11. Đặc điểm ra hoa đậu quả của các giống dưa chuột ở vụ xuân hè
2008
55
4.12. Tình hình sâu bệnh hại trên các giống dưa chuột ở vụ đông 2007 58
4.13. Tình hình sâu bệnh hại trên các giống dưa chuột ở vụ xuân hè2008 59
4.14. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống dưa
chuột ở vụ đông 2007
62
4.15. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống dưa
chuột ở vụ xuân hè 2008
63
4.16. Đặc điểm hình thái, cấu trúc quả của các giống dưa chuột vụ đông
2007
65
4.17. Đặc điểm hình thái, cấu trúc quả của các giống dưa chuột vụ xuân
hè 2008
66
4.18. Một số chi tiêu sinh hoá của các giống dưa chuột trong vụ xuân hè 2008 69
vii
DANH MỤC ĐỒ THỊ
STT Tên hình Trang
4.1. Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống dưa
chuột trong vụ đông 2007
36
4.2. Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống dưa
chuột ở vụ xuân hè 2008
36
4.3. Động thái ra lá của các giống dưa chuột ở vụ đông 2007 41
4.4. Động thái ra lá của các giống dưa chuột ở vụ xuân hè 2008 41
kim ngạch xuất khẩu đạt mức tiêu thụ 960 triệu USD [4]. Dưa chuột là một
trong số những cây được ưu tiên phát triển ở nhiều địa phương. Dưa chuột là
loại rau ăn quả có thời gian sinh trưởng ngắn trồng được nhiều vụ trong năm,
đồng thời lại có tiềm năng năng suất cao (trung bình đạt 40-60 tấn/ha), nên
dưa chuột là một trong những loại rau chủ lực trong cơ cấu thâm canh tăng vụ
nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích, tăng thu nhập cho người
lao động. Dưa chuột được sử dụng rộng rãi trong mỗi bữa ăn hàng ngày với
nhiều hình thức chế biến như: ăn tươi, muối mặn, đóng hộp, dầm giấm…làm
phong phú và tăng chất lượng rau ăn hàng ngày, đồng thời giải quyết được
tình trạng rau giáp vụ.
Về mặt dinh dưỡng, xét trên kết quả phân tích hoá sinh trong quả dưa
chuột [37] thành phần hóa học: Nước 95g%; protit 0.8g%; glucid 3g%;
xenlulo 0.7g%; tro 0.5g% và theo mg%: Ca 23mg; P 27mg; Fe 15mg; Các
vitamin A, B1, B2, PP và C. Trong 100g quả dưa chuột tươi cung cấp cho cơ
2
thể 16 calo.
Ngoài giá trị dinh dưỡng dưa chuột cũng mang lại giá trị kinh tế cao:
dưa chuột là nguồn nguyên liệu phong phú cho các nhà máy chế biến. Đặc
biệt dưa chuột muối đóng hộp là loại mặt hàng chủ lực trong số các món rau
quả được chế biến xuất khẩu mà thế giới quan tâm.
Hiện nay dưa chuột được trồng ở khắp nơi, đứng thứ 6 trong số các rau
trồng trên thế giới. Theo tổng kết của FAO năm 1993 diện tích trồng dưa
chuột trên thế giới là 1.178.000ha, năng suất 15,56 tấn/ha và sản lượng đạt
1.832.968 tấn. ở Việt Nam trong những năm gần đây, cây dưa chuột đã trở
thành cây rau quan trọng trong sản xuất. Mặc dù sản phẩm dưa chuột chế biến
đang có thị trường rộng lớn trên thế giới nhưng thực tế nghề sản xuất dưa
chuột của nước ta vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và
xuất khẩu. Nguyên nhân chủ yếu là do người nông dân thiếu bộ giống tốt cho
các vùng sinh thái. Các giống dưa chuột hiện trồng phổ biến trong sản xuất
chủ yếu là các giống địa phương như Tam Dương, Phú Thịnh, Yên Mỹ, Nam
Tìm ra được giống có khả năng thích ứng rộng có thể trồng nhiều vụ và
nhiều vùng sinh thái khác nhau.
Qua đánh giá về đặc điểm nông sinh học của các giống có thể phát hiện được
các tính trạng quý (năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh hại, chịu
nóng, chịu rét) phục vụ cho công tác chọn tạo giống dưa chuột chất lượng cao.
4
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Xác định thời vụ trồng thích hợp cho các giống dưa chuột đồng thời
chọn được giống có tính thích ứng rộng với nhiều thời vụ nhằm đáp
ứng nhu cầu rải vụ, kéo dài thời gian cho thu hoạch của sản xuất.
- Kết quả của đề tài góp phần bổ sung các giống chất lượng cao vào cơ
cấu giống dưa chuột ở vùng Đồng Bằng sông Hồng nhằm tăng năng suất, chất
lượng và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất.
thành 7 loại phụ. Trong số này ssp. Agrostis Gab. Là dưa chuột hoang dại
đứng riêng, còn lại 6 loại phụ khác thuộc dạng cây trồng.
1.ssp. Europaeo - americanus Fil.- loại phụ Âu Mỹ, có diện phổ
biến rộng nhất.
2.ssp. Occidentali - asiaticus Fil - Tây Á, phổ biến ở Trung và Tiểu Á:
Iran, Apganixtan, Azecbaigian.
3.ssp. Chinensio Fil. - Trung Quốc, được trồng nhiều trong nhà kính ở
6
Châu Âu, dạng quả ngắn thụ phấn nhờ côn trùng và quả dài không qua thụ phấn.
4.ssp. Indico - japonicus Fil: Ấn Độ - Nhật Bản, các giống dưa chuột
Việt Nam thuộc nhóm này.
5.ssp. Himalaicus Fil., Himalaia.
6.ssp. Hermaphroditus Fil.- dưa chuột lưỡng tính.
2.2. Đặc điểm thực vật học của cây dưa chuột
Cây dưa chuột là cây một năm, thân thảo, thân leo hay bò, có phủ
lớp lông dày. Chiều cao cây thay đổi rất lớn phụ thuộc vào giống và điều
kiện trồng trọt.
Rễ cây dưa chuột: cây dưa chuột có rễ phát triển yếu, trong đất có thành
phần cơ giới trung bình chỉ dài 10–15 cm. Hệ rễ chiếm 1,5% toàn bộ trọng
lượng cây, với hệ thống rễ phân bố trên bề mặt rộng chừng 60-90 cm. Ở nhóm
có thời gian sinh trưởng dài, bộ rễ cùng các cơ quan trên bề mặt đất phát triển
mạnh hơn. Tuy nhiên, ở các giống lai F1 tất cả các pha sinh trưởng bộ rễ phát
triển mạnh và có khối lượng lớn hơn so với các cặp bố mẹ. Do vậy, mức độ
phát triển bộ rễ ở giai đoạn đầu là một trong những tính trạng có tương quan
chặt chẽ tới năng suất cây sau này [25].
Lá dưa chuột có bản lá hình trái tim có xẻ thuỳ nông sâu khác nhau tuỳ
từng loại giống, ở các kẽ lá có tua cuốn. Trong quá trình dịch chuyển từ vùng
nhiệt đới ẩm tới vùng đồng bằng, sa mạc và canh tác trong nhà kính, khả năng
ra tua cũng yếu hơn. Quy trình tiến hoá này kéo dài hàng ngàn năm. Cùng với
sự đột biến tự nhiên và phương thức trồng trọt, dạng dưa chuột bụi không leo,
đặc biệt là nhiệt độ thấp dưới 0
0
C có tuyết và khi nhiệt độ về ban đêm trong
khoảng 3-4
0
C [9]. Dưa chuột thuộc nhóm cây ưa nhiệt, yêu cầu khí hậu ấm áp
và khô ráo để sinh trưởng và phát triển. Nhiệt độ thích hợp cho dưa chuột sinh
trưởng và phát triển là từ 25-30
0
C. Nhiệt độ cao hơn sẽ làm cho cây ngừng
8
sinh trưởng và nếu kéo dài nhiệt độ từ 35-40
0
C cây sẽ chết [35]. Nhiệt độ
dưới 15
0
C cây sẽ bị rối loạn quá trình đồng hóa và dị hóa, cây sinh trưởng kém,
nhiệt độ thấp kéo dài các giống sinh trưởng rất khó khăn, đốt ngắn, lá nhỏ, hoa
đực màu nhạt, vàng úa. Ở 5
0
C hầu hết các giống dưa chuột bị chết rét, khi nhiệt
độ lên tới 40
0
C cây ngừng sinh trưởng hoa cái không xuất hiện, lá bị héo [5]. Hạt
dưa chuột có sức sống cao, khỏe, hạt có thể nảy mầm ở nhiệt độ thấp từ 12-13
0
C.
Nhiệt độ đất tối thiểu phải đạt 16
0
C, ở nhiệt độ này hạt có thể nảy mầm sau 9-16
Nam và Trung Quốc có sức chịu lạnh cao hơn các giống Châu Âu và Châu
9
Mỹ [32].
Khi nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, phát triển,
ra hoa mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới sự nở hoa cũng như quá trình thụ tinh
thụ phấn [22]. Theo Yoshihari Ono hoa bắt đầu nở ở nhiệt độ 15
0
C (sáng
sớm) và bao phấn mở ở nhiệt độ 17
0
C. Nhiệt độ thích hợp cho sự nảy mầm
của hạt phấn 17-24
0
C, nhiệt độ quá cao, hay quá thấp so với ngưỡng nhiệt độ
này đều làm giảm sức sống hạt phấn, đó cũng chính là nguyên nhân gây giảm
năng suất của giống.
2.3.2. Ánh sáng
Dưa chuột thuộc nhóm cây ưa ánh sáng ngày ngắn, độ dài chiếu sáng
thích hợp cho cây sinh trưởng phát dục là 10-12 giờ/ngày. Phản ứng của dưa
chuột đối với ánh sáng còn phụ thuộc vào giống và thời vụ gieo trồng [5].
Ánh sáng có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình quang hợp của cây trồng nói
chung và dưa chuột nói riêng. Cường độ sáng thích hợp cho dưa chuột sinh
trưởng, phát triển, giúp cho cây tăng hiệu suất quang hợp, tăng năng suất, chất
lượng quả và rút ngắn thời gian lớn của quả trong khoảng từ 15000-17000 lux
[34,35].
Độ dài ngày và cường độ chiếu sáng không phải là chỉ tiêu duy nhất
đặc trưng cho ảnh hưởng của ánh sáng đến hoạt động sống của cây. Công
trình nghiên cứu của nhiều tác giả cho phép rút ra kết luận rằng chiếu sáng bổ
sung tia hồng ngoại lên cây sẽ kích thích sự phát triển của cây ngày dài và ức
2.3.3. Nước
Dưa chuột là cây vừa kém chịu hạn lại kém chịu úng, vì dưa chuột có
nguồn gốc ở vùng ven rừng ẩm ướt, bộ rễ phát triển kém, hệ rễ phân bố ở tầng
đất mặt [33]. Trong thân cây nước chiếm 91,3%, trong quả có chứa tới 93-
95% nước, bộ lá dưa chuột to, hệ số thoát hơi nước lớn nên dưa chuột yêu cầu
độ ẩm cao, là cây đứng đầu về nhu cầu nước trong họ bầu bí, độ ẩm đất thích
hợp cho cây dưa chuột là: 85-90%, độ ẩm không khí:90-95%. Trong giai đoạn
11
ra quả phải giữ ẩm thường xuyên từ 90-100% độ ẩm đồng ruộng. Dưa chuột
kém chịu hạn, nếu thiếu nước cây không những sinh trưởng kém mà còn tích
lũy chất cucurbitancin gây đắng trong quả [1]. Chất này thường tập chung
nhiều ở phần cuối thân và dưới lớp vỏ cây. Khi thiếu nước nghiêm trọng sẽ
xuất hiện quả dị hình, quả bị đắng và cây dễ bị nhiễm virus. Thời kỳ cây ra
hoa tạo quả yêu cầu lượng nước cao nhất. Hạt nảy mầm, yêu cầu lượng nước
bằng 50% khối lượng hạt.
Trong suất quá trình sinh trưởng phát triển, dưa chuột yêu cầu một
lượng nước khá lớn vì vậy cần cung cấp đủ và kịp thời nước cho cây đặc biệt
là ở thời kỳ khủng hoảng nước của cây (giai đoạn cây con và khi cây ra hoa
hình thành quả, quả rộ).
2.3.4. Quan hệ với điều kiện dinh dưỡng khoáng.
Như đã nói ở trên cây dưa chuột có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới ẩm
nên cây đã quen thích nghi với điều kiện dinh dưỡng đầy đủ trên bề mặt của
lớp đất rừng nhiệt đới ẩm. Do bộ rễ kém phát triển, sức hấp thu của rễ lại yếu
nên dưa chuột có yêu cầu nghiêm khắc về đất hơn các cây khác trong họ. Đất
trồng thích hợp là đất có thành phần cơ giới nhẹ như đất cát pha, đất thịt nhẹ,
độ pH thích hợp từ 5,5-6,5. Trong nghiên cứu của mình Flatocovva B. (1958)
đã xác định nồng độ trung bình của các nguyên tố khoáng trong dịch bào để
cây cho năng xuất cao là: 2.500-3.500 mg/ kg nitơ; phốt pho từ 150- 225; kali
4.500-6000; magiê: 300-400; clo: gần 200, khi so sánh với các cây trồng khác
tác giả đã khẳng định nồng độ dịch bào bình thường của dưa chuột cao hơn
- Thiếu kali: cây sinh trưởng chậm, lá xanh nhạt bề mặt lá xuất hiện
những đám màu xanh, trắng xen kẽ nhau, mép lá xoăn lại, lá non mất diệp lục.
- Thiếu Magiê: Cây sinh trưởng chậm, lá nhỏ, rải rác những đốm lá
chết trên phiến lá. Sau những đốm lá chết đó lan rộng ra và kết hợp với nhau
làm lá khô, cuối cùng chết cả lá.
- Thiếu lưu huỳnh: Lá cuối cùng có màu xanh nhạt, những lá dưới có
màu xanh bình thường.
- Thiếu lân: Cây sinh trưởng chậm, lá chuyển từ màu xanh đậm sang
màu ghi làm lá khô và chết.
- Thiếu canxi: Cây sinh trưởng bình thường, lá ít màu xanh (ít diệp lục)
mép lá xoăn, khô cứng.
13
- Thiếu Bo: Cây sinh trưởng chậm, lá trở nên dày, xanh đậm, đỉnh ngọn
khô héo, những lá gốc chuyển màu nâu và xoăn mép lá lại [1].
2.4. Tình hình nghiên cứu về chọn tạo giống dưa chuột trong và ngoài
nước
2.4.1. Tình hình nghiên cứu về chọn tạo giống dưa chuột trên thế giới
Dưa chuột là loại rau ăn quả thương mại quan trọng, là cây rau
truyền thống nó được trồng lâu đời trên thế giới và trở thành thông dụng
của nhiều nước.
Công tác nghiên cứu về cây dưa chuột đã được nhiều nhà nghiên
cứu trên thế giới quan tâm. Đặc biết là công tác chọn tạo giống đã thu hút
được sự tham gia của một số lượng khá lớn các nhà khoa học. Bởi vì
giống là tiền đề cho hiệu quả kinh tế cao ở một vùng sinh thái nhất định.
Chọn giống là tạo ra sự tiến hoá có định hướng làm thay đổi các vật liệu
có sẵn trong tự nhiên theo ý muốn của con người, hình thành nên kiểu di
truyền mới đạt hiệu quả cao hơn.
Hiện nay, đã giải quyết nhu cầu của sản xuất và xuất khẩu dưa
chuột, mục tiêu của các cơ quan khoa học là tập trung vào nghiên cứu
Giống dưa chuột lai hiện nay có giá trị kinh tế cao, rất nhiều ưu điểm
trong việc tăng năng suất, đem lại lợi nhuận cao, thời gian cho thu hoạch dài,
khi trồng trong nhà kính ở các nước Tây Âu, đậu quả tập trung thích hợp cho
thu hoạch bằng máy và chống được nhiều loại bệnh. Tất cả các giống lai hiện
nay đều là giống 100% hoa cái và không có hạt (trong trường hợp trồng trong
nhà kính ở Tây Âu) và chống được rất nhiều bệnh.
Sau đây là một số giống dưa chuột ở Ấn Độ:
+ Giống Straight Eight: là một giống chín sớm thích hợp với vùng cao,
gai trắng, quả dài trung bình, dày, giòn, tròn, màu xanh vừa, cũng được tạo ra
15
từ trung tâm vùng IARI, Katrai ( thung lũng Kuhy) [22].
+ Giống Pointette: Giống này có quả màu xanh đậm dài 20-25 cm.
Nguồn gốc từ Nam Carolina của Mỹ chống được bệnh phấn trắng, sương mai,
thán thư và đốm lá [22].
Công tác khảo nghiệm các tập đoàn giống để xác định ra các giống
thích hợp, phục vụ cho sản xuất đã được nghiên cứu nhiều như:
- Tại học viện nông nghiệp Jimiriazep từ những năm 60 của thế kỷ XX
trở lại đây đã tiến hành thu thập và nghiên cứu một tập đoàn hết sức phong
phú (khoảng 8000 mẫu giống). Mục đích là nghiên cứu và khai thác nguồn
gốc, sự tiến hoá, đặc điểm sinh thái, sinh lý, miễn dịch của tập đoàn dưa
chuột. Dựa trên những kết quả thu được Viện sỹ Taraconov.G đã tạo ra các
giống dưa chuột lai TCXA nổi tiếng và có năng suất kỷ lục 25-40 kg/m
2
ở
trong nhà ấm [48].
- Ở Liên Xô cây dưa chuột được xếp là cây rau đứng thứ 3 sau cải bắp
và cà chua. Trong các nhà ấm trồng rau, diện tích dưa chuột lên tới 80- 90%.
Ngay từ đầu thành lập Viện cây trồng liên bang Nga đã xúc tiến kế hoạch
nghiên cứu và thu thập các nguồn gen dưa chuột trên khắp thế giới. Viện sỹ
Vavilov và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu và lai tạo ra những loại hình
Ngoài bệnh sương mai, phấn trắng cũng là bệnh gây nguy hiểm không
ít cho sinh trưởng, phát triển của cây dưa chuột. Có nhiều ý kiến của các nhà
khoa học về bản chất di truyền khả năng chống chịu bệnh phấn trắng của cây
dưa chuột, đặc tính này mang tính lặn đa gen và đã đưa ra khẳng định rằng
tính chống chịu này ít nhất có hai gen lặn sph và e quyết định, trong nhiều
trường hợp có các gen bổ sung như sph-1, sph-2, l-1, l-2…[46].
Để tăng cường sức mạnh cho AND của dưa chuột, Jack Staub, một nhà di
truyền thực vật thuộc Sở nghiên cứu nông nghiệp-Bô nông nghiệp Mỹ đang tìm
cách tăng cường cho cơ sở di truyền của dưa chuột. Nhìn bên ngoài thì dưa chuột
17
có cơ sở di truyền hạn chế khiến loại cây này dễ bị tấn công bởi các mầm bệnh
hay các bệnh tự nhiên. Phương pháp của Staub là đưa thêm nhiều đặc tính hoang
dã vào ADN của dưa chuột. Ông Staub và các nhà khoa học Trung Quốc cũng
đã lai chéo thành công các giống dưa chuột hoang dã của Trung Quốc với một
giống đang canh tác. Giống dưa chuột hoang dã này có tính kháng bệnh héo
thân, có thể kháng cả giun tròn và một số loại virus khác [50].
Năng suất của dưa chuột phụ thuộc vào yếu tố cơ bản là di truyền và
điều kiện ngoại cảnh trong đó điều kiện ngoại cảnh hết sức quan trọng, một
giống có tỷ lệ hoa cái cao nhưng tỷ lệ đậu quả không cao cũng cho năng
suất thấp.
Giới tính và đặc điểm nở hoa của dưa chuột: Bất kỳ loài thực vật
nào có sinh sản hữu tính cũng biểu hiện đặc điểm giới tính riêng biệt của
mình. Nghiên cứu dạng hoa, mức độ biểu hiện giới tính và giới hạn biến đổi
đặc tính này không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực tế to
lớn. Trong việc giải quyết vấn đề năng suất và chất lượng sản phẩm các cây
trồng trong đó có cây dưa chuột [20].
Ở dưa chuột, tỷ lệ hoa đực/cái là chỉ tiêu hết sức quan trọng trong việc
hình thành năng suất. Sự thay đổi tỷ lệ này khống chế bởi nhiều yếu tố bên
trong và bên ngoài. Vì thế mà người làm công tác giống phải tìm hiểu chi tiết
nhằm tăng hiệu quả của công việc.