Lao động nhập cư và vai trò của nó đối với phát triển nguồn nhân lực ở thành phố hồ chí minh (TT) - Pdf 34

1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử nhân loại, dân số, dân cư là một trong những điều kiện tất
yếu, khách quan hợp thành kết cấu tồn tại xã hội. Trong một phương thức sản
xuất vật chất nhất định của xã hội, yếu tố dân số, bao gồm cả chất lượng và số
lượng của nó, nhân tố con người sản xuất, nguồn nhân lực trong q trình sản
xuất vật chất, giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển và tiến bộ xã hội.
Trong thời đại tồn cầu hóa hiện nay, tính chất và đặc điểm của yếu tố dân số,
dân cư đã có những biến đổi. Người lao động đã ln có sự thay đổi mơi trường
lao động một cách năng động, linh hoạt. Lao động nhập cư gắn với hiện tượng
di dân, đã giữ một vị thế đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội
hiện nay. Di dân là một hiện tượng kinh tế – xã hội phổ biến, gắn liền với lòch sử phát
triển của xã hội loài người. Trong lịch sử, di dân luôn giữ vai trò rất quan trọng trong
quá trình phát triển dân số, kinh tế – xã hội của loài người - lòch sử của loài người luôn
gắn liền với quá trình di dân. Những người dân di cư được gọi là “lao động nhập cư”
hay “lao động tạm trú”. Ở Việt Nam, lực lượng lao động nhập cư có mặt trong hầu hết
các lónh vực đời sống xã hội của cả nước với tỷ lệ không nhỏ, góp phần quan trọng trong
việc thực hiện các mục tiêu tăng trưởng của các tỉnh, thành phố trong cả nước. Đặc biệt,
ở thành phố Hồ Chí Minh, do khoảng cách phát triển có sự cách biệt khá lớn so với các
tỉnh, thành khác của cả nước cho nên lao động nhập cư vẫn sẽ tiếp tục đến thành phố. Với
sự hiện diện của mình, một mặt, lao động nhập cư đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển
kinh tế, phát triển nguồn nhân lực của thành phố; mặt khác, lao động nhập cư cũng đặt
thành phố trước nhiều thách thức khơng nhỏ, trong đó có những vấn đề rất nan giải như:
vấn đề chính sách quản lý, đào tạo và sử dụng, vấn đề chính sách, nhà ở, đất đai, cư trú,
giáo dục, y tế. Qn triệt Nghị quyết số 16 – NQ/TW của Bộ Chính trị, hiện nay, Đảng bộ,
chính quyền và nhân dân thành phố đang nỡ lực phấn đấu xây dựng thành phố Hồ Chí
Minh trở thành một thành phố xã hội chủ nghĩa văn minh, hiện đại với vai trò đơ thị đặc
biệt, đi đầu trong sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố, đóng góp ngày càng lớn với
khu vực và cả nước; từng bước trở thành trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, thương mại,

những vấn đề bức thiết của chính quyền thành phố. Theo Tổng cục thống kê năm 2012,
dân số thành phố có 7.681,7 ngàn người. Trong đó, có trên 5,4 triệu người trong độ tuổi
lao động, chiếm 70,3% dân số; có khoảng 4,1 triệu người đang tham gia vào lực lượng lao
động của thành phố, chiếm 53,37% dân số (số người nhập cư vào thành phố bình quân
trong 3 năm 2010, 2011, 2012 là trên 200.000 người/năm – Tổng cục thống kê năm 2010,
2011, 2012). Trong tổng dân số của thành phố, có trên 2,2 triệu dân nhập cư, chiếm gần
30%. Cũng theo Tổng cục thống kê năm 2012, trong số này, có trên 1,66 triệu người đang
tham gia vào lực lượng lao động của thành phố, chiếm 40,49% lực lượng lao động của
thành phố, chiếm 75.45% tổng số dân nhập cư. Với cơ cấu và tỷ lệ như trên, có thể thấy
lao động nhập cư có vai trò đáng kể trong sự phát triển nguồn nhân lực, phát triển kinh tế xã hội thành phố trong những năm qua. Trong thời gian qua, mặc dù chính quyền thành
phố đã có nhiều chủ trương, chính sách thoáng hơn nhiều so với những năm trước đây để
quản lý, đào tạo và sử dụng lao động nhập cư. Tuy nhiên, với sự gia tăng ngày càng nhanh
lao động nhập cư, một số chủ trương, chính sách trở nên bất cập, đặc biệt là chưa có được
đánh giá đầy đủ về sự đóng góp của lao động nhập cư vào sự phát triển kinh tế nói chung,
nguồn nhân lực của thành phố nói riêng. Do đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu một cách thấu
đáo, đánh giá đúng đắn thực trạng, tác động của lao động nhập cư, cũng như nhận diện
những mặt tích cực và tiêu cực của lao động nhập cư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh,
nhằm đưa ra phương hướng và các giải pháp phát huy vai trò của lao động nhập cư trong
phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh, không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn
có ý nghĩa thực tiễn. Do đó, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài: “Lao động nhập cư và vai
trò của nó đối với phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh” làm luận án
tiến sỹ chuyên ngành chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề di dân, di cư nói chung, trong đó có lao động nhập cư, là một vấn đề lớn,
với nhiều nội dung sâu sắc, mang tính nhân văn và thực tiễn cao. Chính vì vậy, vấn đề


3

di dân, lao động nhập cư đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học với

lý của TS. Hoàng Văn Chức, Nxb. Chính trò quốc gia, Hà Nội, 2004 đã phân tích khá
rõ thực trạng, ngun nhân dẫn đến di dân, đặc điểm của di dân đồng thời đưa ra một số
giải pháp đối với vấn đề di dân. Trước tiên, tác giả đã nêu những nhận định khái qt
nhất về di dân: Di dân là một hiện tượng kinh tế – xã hội gắn liền với lòch sử phát
triển của xã hội loài người với những thay đổi của tự nhiên, xã hội và sự phát triển
không đồng đều về kinh tế – xã hội giữa các vùng, các quốc gia trên thế giới. Bên
cạnh đó, trong cơng trình của mình, tác giả cũng đã giới thiệu lại đònh nghóa của Liên


4

hợp quốc về di dân. Theo Liên hợp quốc thì Di dân là sự di chuyển trong không gian
của con người giữa một đơn vò đòa lý hành chính này vào một đơn vò đòa lý hành
chính khác, kèm theo sự thay đổi chỗ ở thường xuyên trong khoảng di dân xác đònh.
Theo tác giả, nguyên nhân cơ bản, có tính phổ biến, dẫn đến di dân là nguyên nhân
kinh tế. Bên cạnh nguyên nhân kinh tế còn có các nguyên nhân khác như: nguyên
nhân chính trò, tôn giáo, tâm lý, tình cảm, quốc phòng hoặc các nguyên nhân về điều
kiện tự nhiên (động đất, núi lửa,…) Trong công trình này, ngoài việc phân tích các
nguyên nhân dẫn đến di dân, tác giả còn đưa ra những nhận đònh về đặc điểm của di
dân. Theo đó, di dân có 3 đặc điểm chính: thứ nhất, con người di chuyển khỏi nơi cư
trú thường xuyên đến một nơi nào đó với một khoảng cách nhất đònh; thứ hai, người
di chuyển có mục đích, họ rời nơi ở cũ đến nơi ở mới thực hiện mục đích của mình;
thứ ba, thời gian ở lại nơi mới phải kéo dài trong khoảng thời gian xác đònh, tối thiểu
phải từ 6 tháng trở lên mới xác đònh đó là di dân. Ngoài ra, theo tác giả, chúng ta có
thể nhận biết di dân qua một đặc điểm nữa đó là sự di chuyển nơi ở và thay đổi nơi
làm việc, nghề nghiệp và các hoạt động sinh sống hằng ngày.
Chủ đề thứ hai, đó là các cơng trình liên quan đến thực trạng lao động nhập cư
và những vấn đề đặt ra về chính sách đối với lao động nhập cư tại thành phố Hồ Chí
Minh. Trong chủ đề thứ hai, có các tác phẩm như: Hội thảo quốc gia tăng cường năng
lực xây dựng chính sách di dân nội đòa Việt Nam, phần II của Bộ Nông nghiệp và phát

vực hạ tầng cơ sở, cụ thể là điện, nước, lao động nhập cư phải trả tiền điện, nước cao
hơn nhiều so với lao động sở tại. Đới với lĩnh vực giáo dục, mặc dù ngành giáo dục
khơng có chủ trương hạn chế lao động nhập cư nhưng việc thiếu trường, lớp là áp lực
lớn nên các trường đã có sự chọn lọc mà một trong những tiêu chí để chọn lọc chính là
hộ khẩu. Đới với lĩnh vực y tế, cơng trình cho rằng việc thu hút lao động nhập cư vào
các chương trình giảm nghèo, trong đó có hỡ trợ về y tế, vẫn còn có hạn chế. Đới với
lĩnh vực tiếp cận tín dụng, cơng trình cho rằng ngồi các lĩnh vực tín dụng có tính chất
xã hội từ thiện như Quỹ hội phụ nữ, Quỹ xóa đói giảm nghèo thì việc tiếp cận để vay
vốn từ ngân hàng còn rất khó khăn đối với lao động nhập cư bởi để được vay vốn từ
ngân hàng thì phải có các yếu tố để thế chấp và đảm bảo như: nhà, đất, hộ khẩu,…trong
khi lao động nhập cư thì khó hoặc khơng thể có các yếu tố này. Đới với lĩnh vực việc
làm, cơng trình khẳng định rằng lao động nhập cư hầu như khơng có cơ hội làm việc
trong khu vực nhà nước do khơng có hộ khẩu và khi làm việc trong khu vực tư nhân, họ
dễ bị người sử dụng lao động vi phạm về quyền lợi như: khơng ký hợp đồng lao động,
kéo dài thời gian thử việc, nợ bảo hiểm xã hội,… Đới với lĩnh vực hợ khẩu, cơng trình
cho rằng chính sách hộ khẩu với sự phân biệt người tại chỡ và người nhập cư, đã gia
tăng thêm tâm lý “ngụ cư” vốn tiềm tàng. Đồng thời việc ăn theo hộ khẩu của các chính
sách, quy định và giao dịch dân sự đã làm cho cuộc sống của lao động nhập cư vốn đã
có nhiều khó khăn lại tiếp tục phải gánh thêm rất nhiều khó khăn nữa. Đới với việc tham
gia đời sớng cợng đờng, cơng trình khẳng định rằng lao động nhập cư thường ít tham
gia các đồn thể trong cộng đồng. Điều này một phần do người nhập cư khơng muốn
tham gia nhưng phần lớn là do cách nhìn của người tại chỡ, người quản lý cộng đồng
khơng xem trọng vai trò của họ.
Chủ đề thứ ba là các cơng trình liên quan đến những giải pháp để khai thác và quản
lý có hiệu quả đối với lao động nhập cư tại thành phố Hồ Chí Minh. Trong chủ đề này, có
các cơng trình nghiên cứu khoa học như: Báo cáo thuyết minh tổng hợp “Quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế – xã hội thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2025” của Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh,
2013; Hành trình hợi nhập của di dân tự do vào thành phớ Hờ Chí Minh – nhìn từ góc đợ
kinh tế và xã hợi của Nguyễn Trọng Liêm và các thành viên, thành phố Hồ Chí Minh,

Thiềng - Vũ Hồng Ngân, Khó khăn của người di cư đến Hà Nợi và thành phớ Hờ Chí
Minh, Tạp chí Kinh tế và phát triển, Hà Nội, năm 2006; Phạm Thị Xn Thọ, Về quá trình
di dân ở thành phớ Hờ Chí Minh, Tạp chí Khoa học xã hội, thành phố Hồ Chí Minh, năm
1997; Lê Văn Năm, Di dân nơng thơn - đơ thị và sự phát triển đơ thị bền vững tại thành
phớ Hờ Chí Minh, Tạp chí Khoa học xã hội, thành phố Hồ Chí Minh, năm 1999. Ngồi ra,
còn nhiều cơng trình khác cũng trình bày nhiều khía cạnh khác nhau đối với vấn đề di dân
và lao động nhập cư.
Trong các cơng trình nghiên cứu trên, các tác giả đã tập trung làm rõ khái niệm di
dân, đặc điểm, xu hướng của di dân trên thế giới cũng như các quan điểm, các vấn đề đặt
ra đối với di dân và các giải pháp cho vấn đề di dân ở Việt Nam giai đoạn hiện nay. Tuy
nhiên, vấn đề “Lao đợng nhập cư và vai trò của nó đới với phát triển ng̀n nhân lực ở
thành phớ Hờ Chí Minh” cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống ở bất
kỳ cơng trình nào đã cơng bố.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu: luận án tập trung nghiên cứu về vấn đề lao động nhập cư,
thực trạng lao động nhập cư ở thành phố Hồ Chí Minh và về vai trò, tác động của lao
động nhập cư đối với sự phát triển nguồn nhân lực, phát triển kinh tế, xã hội ở thành


7

phố Hồ Chí Minh trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.
- Phạm vi nghiên cứu: luận án chỉ tập trung nghiên cứu về lao động nhập
cư, trong tổng thể nguồn nhân lực, trong phạm vi địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh hiện nay.
4. Mục đích, nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án là tập trung nghiên cứu, làm rõ vai trò to lớn của lao động
nhập cư cũng như sự tác động, ảnh hưởng của lao động nhập cư đối với sự phát triển
nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp góp
phần quản lý và khai thác có hiệu quả lao động nhập cư trên địa bàn thành phố Hồ Chí

nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó, trên phương diện thực tiễn, đề xuất
những phương hướng và giải pháp chủ yếu để quản lý và sử dụng hiệu quả lao


8

động nhập cư đối với sự phát triển lực lượng sản xuất và nguồn nhân lực ở thành
phố Hồ Chí Minh hiện nay, phục vụ sự nghiệp cơng nghiệp hóa – hiện đại hóa
của thành phố.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Nghiên cứu về lao động nhập cư và vai trò của nó đối với phát triển nguồn nhân
lực ở thành phố Hồ Chí Minh có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất sâu sắc đối với sự phát
triển kinh tế, xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Về lý ḷn, luận án đã góp phần khái qt hóa, hệ thống hố và làm rõ
những quan điểm về lao động nhập cư trên thế giới nói chung, ở Việt Nam nói
riêng, làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa người lao động nhập cư với phát
triển nguồn nhân lực; làm rõ sự tác động, ảnh hưởng to lớn của lao động nhập
cư đối với sự phát triển nguồn nhân lực nói riêng, với các yếu tố của lao động
sản xuất nói chung, ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Về ý nghĩa thực tiễn, từ thực trạng và giải pháp có tính định hướng đối với
lao động nhập cư ở thành phố Hồ Chí Minh mà luận án đề xuất, có thể góp phần
thiết thực vào việc phát triển, hồn thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả vai trò
quản lý nhà nước của chính quyền thành phố Hồ Chí Minh đối với vấn đề lao
động nhập cư.
Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và
giảng dạy chun ngành chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử chun ngành triết học chính trị, triết học xã hội,…trong các trường cao đẳng
và đại học.
8. Kết cấu của luận án
Ngồi phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận

giai đoạn thất nghiệp, mong muốn tìm việc làm. Thứ hai, có một đội ngũ lao động nhập
cư có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề cao. Tuy nhiên, có thể do thu nhập, môi
trường làm việc, các điều kiện để thỏa mãn đời sống tinh thần ở nơi xuất cư không đáp
ứng được nhu cầu của họ nên họ ra đi tìm đến những nơi phù hợp hơn với nhu cầu của
họ. Thứ ba, người lao động nhập cư sẵn sàng làm những loại công việc mà người lao
động sở tại không làm hoặc không thông thạo bằng lao động nhập cư. Thứ tư, người lao
động nhập cư tạo sự cạnh tranh sôi động của thò trường lao động.
2) Xu hướng của lao đợng nhập cư trên thế giới và Việt Nam hiện nay
Q trình lao động nhập cư thường diễn ra theo hai xu hướng chính. Trong đó, quá
trình đô thò hóa và sự hình thành các khu công nghiệp hấp dẫn lao động nhập cư là xu
hướng chủ yếu. Tìm kiếm môi trường sống và làm việc tốt hơn đối với những lao động có
trình độ chuyên môn cao là xu hướng chính thứ hai.
1.2. SỰ TÁC ĐỘNG BIỆN CHỨNG CỦA LAO ĐỘNG NHẬP CƯ ĐỐI VỚI
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
1.2.1. Khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả
năng huy động tham gia vào q trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong
hiện tại cũng như trong tương lai. Phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia là chính là
sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ
năng, kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo của con người và tinh thần cùng với
q trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực.
1.2.2. Vấn đề di dân và phát triển nguồn nhân lực trong thực tiễn đời sống xã
hội
Vấn đề di dân và phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nguồn nhân lực ln có mối
quan hệ biện chứng. Di dân vừa là nguyên nhân lại vừa là hệ quả của quá trình phát
triển. Di dân góp phần nâng cao chất và gia tăng số lượng của nguồn nhân lực – một yếu
tố để phát triển nguồn nhân lực. Ngược lại, phát triển nguồn nhân lực lại là tiền đề để di
dân hay lao động nhập cư có động lực để tiếp tục dấn thân vào q trình di chuyển, q



nhau; và như vậy, đã có nhiều quan niệm khác nhau về lao động. Tiếp cận trên phương
diện lịch sử, triết học và kinh tế - chính trị học, tổng hợp tồn bộ các quan niệm khác nhau
về lao động, luận án đã khái qt rằng “lao động là hoạt động có mục đích của con người
trong những lĩnh vực, ngành, nghề kinh tế khác nhau, nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất,
các sản phẩm tinh thần để đáp ứng nhu cầu của xã hội”. Trong lịch sử nhân loại, hoạt động
lao động gắn liền với con người – chủ thể của tiến trình lao động, sản xuất ra của cải vật
chất và tinh thần của xã hội - con người là nhân tố đặc biệt quan trọng trong hoạt động lao
động. Trong khi đó, con người – lao động – bị phụ thuộc và ảnh hưởng bởi các yếu tố tự
nhiên, mơi trường sống, mơi trường lao động xã hội,… Do vậy, sự dịch chuyển lao động
động, di cư, di dân,… là hiện tượng tất yếu khách quan và phổ biến trong lịch sử nhân loại,
đã là ngun nhân chủ yếu tạo ra hiện tượng lao động nhập cư. Và khi bàn về lao động
nhập cư, đã có nhiều quan niệm khác nhau; trong đó, luận án đã khái qt “Lao động nhập


11

cư là những người lao động di chuyển từ nơi này sang nơi khác để làm việc, sinh sống” để
xác định khái niệm lao động nhập cư một cách chung nhất.
2. Trong quá trình vận động và phát triển của lịch sử xã hội, do sự phát triển sản
xuất, dịch chuyển cơ cấu kinh tế, thay đổi sự phân công lao động, những biến đổi về chính
trị - xã hội đã làm cho vấn đề lao động nhập cư trở thành yếu tố phổ biến. Chúng ta biết
rằng, lao động nhập cư liên quan trực tiếp đến vấn đề di dân, di cư, dịch chuyển lao động
xã hội. Lịch sử loài người luôn gắn liền với quá trình di cư, di dân của người lao động.
Vấn đề di dân, lao động di cư, là hiện tượng xã hội phổ biến, mang tính quy luật, một yếu
tố tất yếu của lịch sử, gắn liền với quá trình phát triển kinh tế - xã hội đối với mỗi quốc gia
cũng như đối với toàn bộ thế giới nói chung. Lịch sử di dân, di cư trên thế giới chứng minh
rằng đã có rất nhiều những thay đổi to lớn, với ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phân
bố cơ cấu dân cư giữa các châu lục. Chẳng hạn các cuộc di dân với cường độ lớn, quy mô
rộng từ các nước châu Âu sang châu Mỹ, châu Đại dương; từ châu Phi đến châu Mỹ, châu
Âu; từ châu Á đến châu Âu, Bắc Mỹ,… Ở Việt Nam chúng ta, trong lịch sử cũng đã có


cư, đánh giá đúng đắn sự đóng góp to lớn của lao động nhập cư đối với nguồn nhân lực và
phát triển nguồn nhân lực sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng và hồn thiện chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, vùng, miền, khu vực, từng quốc gia
trong từng thời kỳ phát triển khác nhau.
Chương 2
THỰC TRẠNG VÀ VAI TRỊ CỦA LAO ĐỘNG NHẬP CƯ
ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
2.1. THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG NHẬP CƯ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH HIỆN NAY
2.1.1. Khái qt q trình phát triển lao động nhập cư và sự biến động cơ cấu
dân số ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ 1975 đến nay
Từ năm 1975 đến nay, việc nhập cư vào thành phố Hồ Chí Minh có thể chia thành
hai giai đoạn: giai đoạn nhập cư tự giác và giai đoạn nhập cư tự phát. Giai đoạn nhập cư tự
giác có thể tính từ sau 1975 đến năm 1986. Giai đoạn nhập cư tự phát, từ năm 1986 đến
nay. Từ 2010 đến nay, trung bình mỡi năm có 200.000 người nhập cư.
2.1.2. Quy mơ và đặc điểm của lao động nhập cư, nhân tố con người trong lực
lượng sản xuất, ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Quy mơ của lao động nhập cư ở thành phố Hồ Chí Minh
Theo số liệu của Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh năm 2010, giai
đoạn 1975 - 1979, trung bình hàng năm, tỷ lệ dân nhập cư tăng 5,2%; giai đoạn 1984 1989 tăng 2,1%; giai đoạn 1994 - 1999 tăng 8,91%; giai đoạn 1999 - 2009 tăng 13,67%.
Và trong 3 năm 2010 - 2012, trung bình hàng năm thành phố có khoảng 200.000 người
nhập cư. Hiện nay, một phần ba dân số thành phố - 30,1% - là dân nhập cư.

Đặc điểm của lao động nhập cư ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Đặc điểm thứ nhất, lao động nhập cư phần lớn có độ tuổi trẻ do xuất cư chủ yếu từ
nơng thơn, những nơi thiếu việc làm hoặc có việc làm nhưng thu nhập thấp. Đặc điểm thứ
hai, lao động nhập cư thường gắn liền với tính khơng ổn định. Đặc điểm thứ ba, thành
phần người lao động nhập cư thường phức tạp, do nguồn gốc xuất cư khác nhau. Đặc

Dự báo sự phát triển lao động nhập cư
Thành phố dự báo lao động nhập cư sẽ tiếp tục đến thành phố và xu hướng này còn
tiếp diễn chừng nào khoảng cách phát triển giữa thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh
thành khác vẫn còn cách biệt khá lớn như hiện nay.
Những vấn đề đặt ra về chính sách xã hội đối với lao động nhập cư ở thành phố
Hồ Chí Minh hiện nay
Về các chính sách quản lý, đào tạo và sử dụng đối với lao động nhập cư
Trước hết, do không có hộ khẩu thường trú, người nhập cư không có điều kiện
hoặc bò hạn chế trong khi xin việc trong khu vực nhà nước, hạn chế về học hành, chăm
sóc sức khỏe, vay vốn tín dụng,… Ngồi ra, người lao động nhập cư không được tham
gia thi tuyển vào công chức nhà nước; không thể hoặc rất khó khăn trong việc chứng
thực hồ sơ lý lòch để xin việc làm và không được hưởng chế độ trợ cấp làm việc xa
thành phố khi làm việc tại các đơn vò của thành phố quản lý đóng tại đòa bàn của các
tỉnh, thành khác.
Về các chính sách kinh tế - xã hội đối với lao động nhập cư
Hiện nay, khó khăn về chỡ ở của lao động nhập cư đứng thứ nhì sau những khó
khăn về việc làm. Tiếp đến, về y tế, người lao động nhập cư không được hưởng một
cách đầy đủ, toàn diện và thường xun các chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng
của thành phố như: chương trình chăm sóc sức khoẻ phụ nữ, quản lý thai nhi, giáo dục
sức khoẻ… Ngồi ra, về giáo dục, do không nằm trong kế hoạch chung của năm học nên


14

số con em người lao động nhập cư ở thành phố cần phải tiếp nhận vào trường học tập, đã
ảnh hưởng nhất đònh đến thành phố, trong việc thực hiện các chuẩn đònh mức của Bộ
Giáo dục - Đào tạo về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bò, kinh phí của các
trường học,…. Song song đó, về quyền lợi hưởng thụ điện, nước, lao động nhập cư
thường phải chòu giá điện, nước cao hơn rất nhiều so với người dân sở tại, cao từ 2 đến 3
lần đối với điện và cũng mức tương tự như thế, đối với nước, so với giá quy đònh. Mặt

cho thị trường sức lao động của thành phố sôi động hơn, tạo ra sự cạnh tranh, tác động
đến nguồn lao động tại chỗ, thúc đẩy người lao động nâng cao trình độ văn hóa, trình độ
tay nghề, nâng cao trình độ chun mơn, nghiệp vụ, tăng năng suất lao động; góp phần
thúc đẩy q trình trao đổi, giao lưu về kinh tế, văn hóa và kỹ thuật, khuyến khích việc


15

trao đổi các sản phẩm hàng hóa giữa nơi xuất cư và nhập cư. Lao động nhập cư cũng
góp phần thúc đẩy sự phát triển các ngành nghề dòch vụ, cung cấp các dòch vụ cho dân
cư đô thò, hình thành thò trường lao động phù hợp. Đồng thời, lao động nhập cư còn là
nguồn cung cấp nhân lực có chất lượng cao cho các lĩnh vực, các ngành nghề kinh tế, xã
hội của thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực, lao động
nhập cư cũng có những tác động tiêu cực đối với quá trình phát triển nguồn nhân lực,
phát triển kinh tế, xã hội của thành phố. Chẳng hạn như, lao động nhập cư góp phần làm
gia tăng dân số cơ học của thành phố, làm gia tăng số lao động thất nghiệp ở thành phố;
gia tăng áp lực cho hoạt động phòng, chống tệ nạn xã hội của thành phố; tăng áp lực
trong việc giải quyết vấn đề nhà ở; tạo áp lực cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật, tạo khó khăn,
phức tạp cho việc quản lý dân cư, quản lý nhân khẩu của thành phố,…
3. Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh vẫn là trung tâm kinh tế,
xã hội lớn của của cả nước, có sức lan tỏa và thu hút lao động rất mạnh mẽ. với những lợi
thế đặc biệt, trong những thập kỷ tới, lao động nhập cư (cả trong và ngồi nước) vẫn chọn
thành phố Hồ Chí Minh là điểm đến lý tưởng. Và, với sự tiếp tục gia tăng số lượng lớn, lao
động nhập cư sẽ đặt ra cho thành phố Hồ Chí Minh những khó khăn, thách thức khá lớn
về các phương diện chính sách xã hội, chính sách quản lý, đào tạo và sử dụng, các chính
sách lớn về kinh tế, xã hội đối với lao động nhập cư. Do vậy, đối với chính quyền thành
phố Hồ Chí Minh, việc nhận thức đúng đắn, đầy đủ những thuận lợi cũng như khó khăn từ
việc gia tăng dân số về quy mơ, số lượng; sự gia tăng về quy mơ và cơ cấu do lao động
nhập cư tạo ra, là vấn đề đặc biệt quan trọng. Bởi lẽ nếu dự báo đúng đắn, chính xác sự gia
tăng lao động nhập cư, gia tăng dân cư thành phố, nhận thức đầy đủ những khó khăn,

Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh văn minh, hiện đại với vai trò đơ thị đặc biệt, đi
đầu trong sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố, đóng góp ngày càng lớn với khu vực
và cả nước.
3.1.3. Quản lý và sử dụng lao động nhập cư phải dựa trên đặc điểm, điều kiện,
thực tiễn của thành phố
Về kinh tế - xã hội, với vị thế đầu tàu kinh tế của cả nước, thành phố Hồ Chí Minh
có nhiều lợi thế, tiềm năng về kinh tế, nhiều cơ hội về lao động, việc làm, học tập. Về
điều kiện tự nhiên, thành phố Hồ Chí Minh có đòa giới hành chính chung với nhiều tỉnh,
thành của cả nước. Với những lợi thế đó, thành phố ln có sức hút mạnh mẽ khơng chỉ
đối với cư dân ở những vùng lân cận, mà còn có sức hút mạnh mẽ đối với cư dân ở nhiều
vùng khác nhau của cả nước. Nhận thức sâu sắc những lợi thế và trách nhiệm đối với cả
nước, thành phố ln đặt ra những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tương xứng với tiềm
năng, vị thế, tầm vóc của một đơ thị đặc biệt.
Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015
– 2020, tầm nhìn đến năm 2025
Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh từng bước trở thành trung tâm lớn về kinh tế, tài
chính, thương mại, khoa học - cơng nghệ của đất nước và khu vực Đơng Nam Á; góp
phần tích cực đưa nước ta cơ bản trở thành nước cơng nghiệp theo hướng hiện đại vào
năm 2020. Phát triển thành phố Hồ Chí Minh thành trung tâm văn hóa, thể thao, trung tâm
đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Vùng và cả nước; đảm bảo tốc độ tăng trưởng
kinh tế theo hướng bền vững, phát triển kinh tế đi đơi với bảo vệ mơi trường, bảo đảm
quốc phòng, an ninh và trật tự an tồn xã hội trên địa bàn.
3.2. GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, SỬ DỤNG HIỆU QUẢ LAO ĐỘNG NHẬP CƯ
ĐỂ GĨP PHẦN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC, YẾU TỐ CON NGƯỜI
TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT, Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN
NAY
3.2.1. Nhóm giải pháp về chính sách tổ chức, quản lý lao động nhập cư
Giải pháp về quản lý dân cư, chính sách quản lý lao động nhập cư cần chuyển từ
việc áp dụng các biện pháp hành chính đơn thuần với mục tiêu hạn chế sang áp dụng
các biện pháp quản lý hành chính tự nguyện, khuyến khích khai báo nhằm tăng cường



Đới với giải pháp về nhà ở, chính quyền thành phố nên quan tâm hơn nữa đến
việc tạo điều kiện cho người có thu nhập thấp, lao động nhập cư có thể mua được nhà ở
phù hợp với hồn cảnh, điều kiện kinh tế của họ.
Đới với giải pháp về lao động, việc làm, thành phố cần có quy đònh về việc đề nghò
các doanh nghiệp cần phải tạo cơ hội bình đẳng như nhau cho lao động là người thành
phố và lao động nhập cư từ khâu tuyển dụng đến việc đào tạo, cơ hội phát triển,...
Đới với giải pháp về cơ sở hạ tầng, thành phố cần có phương án quy hoạch cụ thể
nâng cấp, cải tạo, xây dựng mới các hệ thống đường xá, đường tải điện và cấp thốt nước
một cách đồng bộ, có hiệu quả lâu dài.
3.2.3. Nhóm giải pháp về chính sách y tế, giáo dục, văn hóa đối với lao động
nhập cư
Đới với giải pháp về y tế, ngành y tế thành phố có thể mở rộng dòch vụ bảo hiểm y


18

tế tự nguyện cho đối tượng là người nhập cư.
Đới với giải pháp về giáo dục, thành phố đã có chủ trương chính sách quy đònh rất
cởi mở trong lónh vực giáo dục - đào tạo, đó là tất cả học sinh dù có hay không có hộ
khẩu thường trú ở thành phố Hồ Chí Minh vẫn được theo học ở các trường trên toàn đòa
bàn thành phố.
Đối với giải pháp về văn hóa, để nâng cao trình độ văn hóa, đời sống tinh thần cho
lao động nhập cư, trước tiên, thành phố cần phải giải quyết có hiệu quả vấn đề nhà ở,
việc làm cho lao động nhập cư - như đã trình bày ở trên.
3.2.4. Nhóm giải pháp về các chính sách xã hội khác đối với lao động nhập cư
Đới với giải pháp về các vấn đề xã hợi, một mặt thành phố cần tăng cường tun
truyền phổ biến pháp luật, kể cả pháp luật lao động, kiến thức về hôn nhân gia đình, sinh
sản, kỹ năng sống,…để nâng cao nhận thức, rèn luyện kỹ năng sống cho họ, mặt khác


2. Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm đô thị lớn nhất nước, xét cả trên
phương diện quy mô dân cư và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Mặt khác, thành phố Hồ Chí Minh có số lượng lao động nhập cư chiếm 30% dân số thành
phố, số lượng cụ thể lên đến vài triệu người – đây là đặc điểm riêng có của thành phố. Do
đó, để quản lý và sử dụng lực lượng lao động nhập cư có hiệu quả, chính quyền thành phố
cần phải có phương hướng, mục tiêu chiến lược về vấn đề này. Trong quá trình nghiên
cứu, luận án đã chỉ ra định hướng rằng, việc quản lý, sử dụng lao động nhập cư, phát triển
nguồn nhân lực phải xuất phát từ chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của thành phố trong
thời kỳ mới; phải xuất phát từ phương hướng, mục tiêu chung và mục tiêu kinh tế - xã hội
cụ thể để có giải pháp quản lý, sử dụng lao động nhập cư tốt nhất, tối ưu nhất. Hơn nữa, để
có cơ chế chính sách quản lý, sử dụng lao động nhập cư có hiệu quả thiết thực, hạn chế
được các yếu tố tiêu cực, việc quản lý, sử dụng lao động nhập cư cần phải dựa trên các đặc
điểm riêng của thành phố, các điều kiện cụ thể và hoàn cảnh thực tiễn khách quan của
thành phố. Chỉ có như vậy mới có thể xây dựng được các giải pháp với các bước đi cụ thể,
hợp lý nhằm quản lý, sử dụng lao động nhập cư, góp phần phát triển toàn diện các lĩnh
vực kinh tế - xã hội của thành phố nói riêng và đất nước nói chung.
3. Từ thực trạng lao động nhập cư trên địa bàn thành phố hiện nay, căn cứ vào quan
điểm, phương hướng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố; đồng thời, trên
cơ sở dự báo xu hướng phát triển lao động nhập cư vào thành phố trong giai đoạn sắp tới,
tác giả luận án đã đề xuất các giải pháp nhằm góp phần tổ chức, quản lý, sử dụng lao động
nhập cư có hiệu quả thiết thực. Hệ thống đó gồm 4 giải pháp, vừa có tính chất định hướng
và vừa có tính chất cụ thể, kiến nghị với chính quyền thành phố, tham khảo, có thể sử
dụng. Đó là nhóm các giải pháp về chính sách tổ chức, quản lý lao động nhập cư; nhóm
giải pháp về chính sách kinh tế và hỗ trợ đời sống người lao động nhập cư; nhóm giải
pháp về chính sách y tế, giáo dục, văn hóa và nhóm giải pháp về các chính sách xã hội
khác liên quan đến lực lượng lao động nhập cư. Đó là những giải pháp cần thiết, có tính
khả thi, nếu áp dụng toàn diện và triệt để thì có thể quản lý và sử dụng lao động nhập cư
một cách hiệu quả, góp phần vào việc phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí
Minh.

các tỉnh phía Bắc và miền Trung, đến làm việc ở các đồn điền và hầm mỏ ở
các tỉnh Nam Bộ. Sau khi đánh thắng thực dân Pháp, Việt Nam bò chia cắt
thành hai miền Nam – Bắc. Ở miền Nam, chiến tranh là tác nhân quan trọng,
khiến cho nhiều người phải rời bỏ quê hương, di chuyển đến sinh sống ở các
đô thò lớn. Ở miền Bắc, một số lượng lớn dân cư được tổ chức tái đònh cư lên
những vùng kinh tế mới, chủ yếu là dân cư từ những đòa phương đất chật,
người đông thuộc đồng bằng sông Hồng, chuyển đến các khu vực dân cư và ít
dân, với mục đích phân bố lại dân số, phân bố lại yếu tố lao động trong lực
lượng sản xuất cho thích hợp. Sau khi thống nhất đất nước vào năm 1975,
chính phủ đã thực hiện chương trình di chuyển một lượng lớn dân cư từ thành
phố về nơng thơn, nhằm giảm bớt dân số và áp lực xã hội ở các trung tâm đô
thò lớn và làm giảm bớt sự mất cân bằng dân số giữa hai miền Nam – Bắc. Từ
thời kỳ đổi mới kinh tế 1986 đến nay, vấn đề người lao động di cư và nhập cư,
là những hiện tượng xã hội diễn ra mạnh mẽ và rất phổ biến ở Việt Nam. Các
dòng dân di cư, trong giai đoạn sau đổi mới năm 1986, khơng còn tập trung vào
các vùng kinh tế mới nữa, mà đã được chuyển sang các chương trình tái định cư,
lồng ghép với chương trình phủ xanh đất trống, đồi trọc và các chương trình
phục hồi ven biển, theo mục tiêu chiến lược kinh tế - xã hội của quốc gia. Hiện
tượng di cư tự do trong giai đoạn này cũng bắt đầu phát triển, nó phản ánh sự
lựa chọn hợp lý của người di cư, đối với sự thay đổi các cơ hội kinh tế của các
vùng, miền khác nhau. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, mà phần lớn
tập trung ở các đô thò lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, việc người
dân di chuyển từ nơi này sang nơi khác, từ vùng có tiềm lực kinh tế thấp đến


21

vùng có tiềm lực kinh tế cao, từ các vùng nông thôn đến các đô thò để tìm
kiếm cơ hội mới, là một hiện tượng phổ biến có tính quy luật. Và hiện nay, di
dân là một vấn đề lớn mà Việt Nam đang phải đối mặt, phải tập trung nghiên

lao động nhập cư là một bộ phận khơng thể tách rời giữa các nền kinh tế, lao
động nhập cư là nguồn lực quan trọng của cả hai nơi: nơi họ ra đi và nơi họ tìm
đến. Vì thế, vấn đề di dân, lao động nhập cư đối với nguồn nhân lực, phát triển
nguồn nhân lực, ln có mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với nhau. Di dân vừa là


22

nguyên nhân, lại vừa là hệ quả của quá trình phát triển nguồn nhân lực, phát
triển lực lượng sản xuất. Di dân góp phần nâng cao chất và gia tăng số lượng
của nguồn nhân lực – một yếu tố quan trọng để phát triển nguồn nhân lực, yếu
tố con người trong lực lượng sản xuất, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã
hội.
2. Về thực trạng, nhìn chung, người dân nhập cư đến thành phố Hồ Chí
Minh rất đa dạng về thành phần. Trong quá trình hội nhập, bản thân người lao
động nhập cư luôn rất nỗ lực để tồn tại, thích nghi được với môi trường thành
phố. Vấn đề đầu tiên và quan trọng nhất đối với người lao động nhập cư là
việc làm. Tùy vào đặc điểm cá nhân, mỗi người lao động nhập cư sẽ có khả
năng tiếp cận khác nhau với những cơ hội về việc làm khác nhau. Hầu hết
người lao động nhập cư đến thành phố đều rất năng động. Vì thế, họ tiếp cận
nguồn việc làm nhanh hơn người dân tại chỗ, bởi vì việc làm là nhu cầu đầu
tiên, cũng là điều kiện tiên quyết, cơ bản, có tính quyết định đối với sự tồn tại
của họ ở thành phố. Người lao động nhập cư chấp nhận làm những công việc
mà nhiều người dân thành phố không làm. Điều này cho thấy triển vọng lớn
về khả năng hội nhập về việc làm của người nhập cư trong môi trường thành
phố. Với tỷ lệ rất lớn, lao động nhập cư đã có những đóng góp đáng kể vào sự
phát triển nguồn nhân lực, kinh tế – xã hội của thành phố: góp phần to lớn
trong việc cung cấp nguồn lao động dồi dào và đa dạng cho nguồn nhân lực
của thành phố Hồ Chí Minh; góp phần làm cho thò trường sức lao động trên đòa
bàn thành phố sôi động hơn, tạo ra sự cạnh tranh, tác động đến lao động tại

tầng và các dòch vụ của thành phố. Do đó, thành phố cần xây dựng một chiến
lược cụ thể về phát triển kinh tế – xã hội, được kế hoạch hóa một cách phù
hợp và thực hiện một cách đồng bộ; cần phải xây dựng hệ thống giải pháp có
hiệu quả về việc làm, nhà ở, cơ sở hạ tầng, an sinh xã hội,… nghóa là phải xây
dựng một môi trường kinh tế – xã hội có khả năng thu hút, chọn lọc, điều tiết
một cách tối ưu số lượng và cơ cấu lao động nhập cư. Có như vậy thì về góc độ
kinh tế, thành phố sẽ xứng tầm là trung tâm kinh tế của cả nước, về khía cạnh
nhân văn, thành phố sẽ đạt được mục tiêu là thành phố “Văn minh – hiện đại –
nghĩa tình” mà thành phố đã đặt ra. Điều quan trọng là để có được hệ thống giải
pháp khả thi cho những vấn đề được đặt ra đối với người lao động nhập cư,
chính quyền thành phố cần có cái nhìn tồn diện, đánh giá đúng đắn và đầy đủ
thực trạng của người lao động nhập cư đồng thời xác định đúng, cụ thể những
vấn đề cần phải giải quyết ở từng giai đoạn nhất định, hợp lý.
3. Lao động nhập cư là một hiện tượng có tính quy luật, đã, đang và sẽ
có ý nghóa rất lớn trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của nước ta nói
chung, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Trên con đường công nghiệp hóa và
hiện đại hóa, tuy còn tiếp tục phát triển và mở rộng, nhưng khác với các
không gian kinh tế – xã hội, không gian đòa lý của thành phố Hồ Chí Minh chỉ
có thể mở rộng tới một mức độ nhất đònh. Bên cạnh đó, trong những thời điểm
khác nhau, thành phố sẽ có những cơ cấu kinh tế khác nhau, gắn liền với nhau
trong một đònh hướng với quan hệ và cấu trúc phù hợp; cần tới một lực lượng
lao động nhất đònh có trình độ và phẩm chất tương ứng. Đây là những giới hạn
khắc nghiệt trong việc tiếp nhận người nhập cư, những giới hạn mà nếu vượt
qua sẽ gây ra những biến động khơng nhỏ cho đời sống kinh tế – xã hội thành
phố. Và dù cho thành phố Hồ Chí Minh có thể thực hiện hay chưa thể thực hiện
được các giải pháp có hiệu quả đối với những vấn đề khó khăn của lao động


24


giáo dục, văn hóa và nhóm giải pháp về các chính sách xã hội khác đối với lao
động nhập cư.


25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status