Tài liệu học, ôn tập môn nhà nước pháp luật đại cương - Pdf 34

I: Đặc trưng cơ bản của Nhà nước (Để phân biệt nhà
nước so với các tổ chức chính trị – xã hội trong xã hội có giai
cấp):
1.1. Nhà nước thiết lập quyền lực công cộng đặc biệt:
Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, quyền lực chưa tách khỏi xã hội mà gắn liền
với xã hội, hoà nhập với xã hội chưa có giai cấp nên chưa có nhà nước. Quyền lực đó do
toàn xã hội tổ chức ra, chưa mang tính giai cấp, phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng.
Khi xuất hiện Nhà nước, quyền lực công cộng đặc biệt được thiết lập. Chủ thể của
quyền lực này là giai cấp thống trị về kinh tế và chính trị. Để thực hiện quyền lực này và
để quản lý xã hội, nhà nước có một lớp người đặc biệt chuyên làm nhiệm vụ quản lý. Họ
tham gia vào cơ quan nhà nước và hình thành bộ máy cưỡng chế để duy trì địa vị và bảo
vệ lợi ích của giai cấp thống trị, bắt các giai cấp khác phải phục vụ theo ý chí của giai cấp
thống trị. Như vậy, quyền lực công cộng đặc biệt này đã tách khỏi xã hội, mang tính giai
cấp sâu sắc và chỉ phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị;
1.2. Nhà nước có lãnh thổ và phân chia dân cư theo lãnh thổ:
Lãnh thổ, dân cư là các yếu tố hình thành quốc gia. Quyền lực của Nhà nước được
thực hiện trên toàn bộ lãnh thổ, nhà nước thực hiện việc phân chia dân cư theo lãnh thổ
thành các đơn vị hành chính, không phụ thuộc vào chính kiến, huyết thống, nghề nghiệp
hoặc giới tính, … Việc phân chia này đảm bảo cho hoạt động quản lý của nhà nước tập
trung, thống nhất. Người dân có mối quan hệ với Nhà nước bằng chế định quốc tịch, chế
định này xác lập sự phụ thuộc của công dân vào một nước nhất định và ngược lại nhà
nước phải có những nghĩa vụ nhất định đối với công dân của mình.
1.3. Nhà nước có chủ quyền quốc gia:
Chủ quyền quốc gia là quyền tối cao của nhà nước về đối nội và độc lập về đối
ngoại. Tất cả mọi cá nhân, tổ chức sống trên lãnh thổ của nước sở tại đều phải tuân thủ
pháp luật của nhà nước. Nhà nước là người đại diện chính thức, đại diện về mặt pháp lý
cho toàn xã hội về đối nội và đối ngoại. Chủ quyền quốc gia thể hiện quyền độc lập tự
quyết của Nhà nước về những chính sách đối nội và đối ngoại, không phụ thuộc vào lực
lượng bên ngoài, chủ quyền quốc gia là thuộc tính gắn với Nhà nước.




2.1.2. Chính thể cộng hòa:
Quyền lực tối cao của nhà nước thuộc về một cơ quan được bầu ra trong một thời
gian xác định; ví dụ: Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa liên bang Đức... Chính thể
cộng hoà có 2 dạng:
- Cộng hoà quý tộc: quyền bầu cử để thành lập ra cơ quan đại diện (quyền lực)
nhà nước chỉ được dành cho tầng lớp quý tộc;
- Cộng hoà dân chủ: quyền bầu cử được quy định về mặt hình thức pháp lý đối
với toàn thể nhân dân. Hiện nay, các nhà nước hiện đại chỉ tồn tại hình thức chính thể
Cộng hoà dân chủ với các biến dạng chủ yếu là: Cộng hoà Tổng thống (Hợp chủng quốc
Hoa Kỳ…), Cộng hoà đại nghị (Cộng hòa Italia…), Cộng hoà hỗn hợp (Cộng hòa
Pháp…), Cộng hoà xã hội chủ nghĩa (Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).
2.2. Hình thức cấu trúc nhà nước:
Hình thức cấu trúc nhà nước là sự phân chia nhà nước thành các đơn vị hành chính
lãnh thổ và xác lập mối quan hệ cơ bản giữa các cơ quan nhà nước trung ương với địa
phương. Có hai loại hình thức cấu trúc nhà nước phổ biến:
- Nhà nước đơn nhất: có chủ quyền duy nhất, công dân có một quốc tịch, có một
hệ thống cơ quan nhà nước và một hệ thống pháp luật thống nhất; ví dụ: Vương quốc
Thụy Điển, Cộng hòa Cuba…;
- Nhà nước liên bang (do nhiều nhà nước thành viên hợp thành): vừa có chủ
quyền của nhà nước liên bang, vừa có chủ quyền của các nhà nước thành viên, công dân
có hai quốc tịch, có hai hệ thống cơ quan nhà nước và hai hệ thống pháp luật; ví dụ: Cộng
hòa liên bang Nga, Liên bang Braxin…
2.3. Chế độ chính trị: là tổng thể các phương pháp mà các cơ quan nhà nước sử
dụng để thực hiện quyền lực nhà nước. Có hai phương pháp cơ bản:
- Phương pháp dân chủ: dân chủ thật sự và dân chủ giả hiệu, dân chủ rộng rãi và
dân chủ hạn chế, dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp…;
- Phương pháp phản dân chủ: thể hiện tính độc tài, đáng chú ý là khi những
phương pháp này phát triển đến cao độ sẽ trở thành những phương pháp tàn bạo, quân
phiệt và phát xít.


+ Cưỡng chế.
Tuỳ vào điều kiện, hoàn cảnh, đặc thù của mỗi quốc gia mà nhà nước đó quyết
định sử dụng phương pháp nào nhiều hơn. Trong Nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa thì lấy
phương pháp giáo dục, thuyết phục làm phương pháp chính.
4. Chức năng của Nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa:
*Chức năng kinh tế
Trong mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, chức năng kinh tế của nhà nước có sự khác nhau
nhất định nhưng bao giờ nó cũng là chức năng cơ bản, quan trọng nhất của nhà nước ta.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chức năng kinh tế
của nhà nước Việt Nam có những nội dung chủ yếu sau đây:
- Phát triển kinh tế nhanh, có hiệu quả và bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ
cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong đó,
kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể phát triển nhiều hình thức hợp tác đa
dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt; tạo môi trường kinh doanh cho kinh tế cá thể, tiểu
chủ, kinh tế tư bản tư nhân phát triển; phát triển đa dạng kinh tế tư bản nhà nước; tạo điều
kiện để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi.
- Thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hình thành đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền
kinh tế.
* Chức năng xã hội
Chức năng xã hội của nhà nước là toàn bộ các mặt hoạt động của nhà nước nhằm
tác động vào các lĩnh vực cụ thể của xã hội. Trong điều kiện đất nước đang chuyển sang
cơ chế thị trường, chức năng xã hội của nhà nước hướng vào những mục tiêu cơ bản sau
đây:
- Xác định giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là
nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhà nước coi

các cơ quan chuyên môn trực thuộc;
- Các cơ quan xét xử bao gồm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Tòa án nhân dân cấp huyện và các Tòa án quân sự;
- Các cơ quan kiểm sát bao gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và các Viện kiểm sát quân sự.


1.2.2. Căn cứ vào phạm vi thực hiện thẩm quyền theo lãnh thổ: Bộ máy nhà
nước có thể được chia thành hai loại cơ quan sau đây:
- Các cơ quan nhà nước ở trung ương bao gồm Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính
phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các bộ, cơ quan ngang bộ;
- Các cơ quan nhà nước ở địa phương bao gồm Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân
dân các cấp, các cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân, Toà án nhân dân và
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.
1.2.3. Căn cứ vào chế độ làm việc: Bộ máy nhà nước có thể được chia thành ba
loại cơ quan sau đây:
- Các cơ quan nhà nước làm việc theo chế độ tập thể như Quốc hội, Hội đồng nhân
dân, Toà án nhân dân;
- Các cơ quan nhà nước làm việc theo chế độ thủ trưởng như Chủ tịch nước, Viện
kiểm sát nhân dân, các cơ quan chuyên môn trực thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân
các cấp.
- Các cơ quan nhà nước làm việc theo chế độ tập thể kết hợp với chế độ thủ trưởng
như Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp.

Vị trí, vai trò, chức năng của 1 số cơ quan nhà nước VN

1. Quốc hội:
1.1. Vị trí, tính chất pháp lý: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân
dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam”. Quốc hội có hai tính chất pháp lý sau:

các chức vụ cao cấp trong bộ máy nhà nước cũng như đóng vai trò điều phối hoạt động
giữa các cơ quan nhà nước then chốt, …


- Về đối ngoại, Chủ tịch nước là đại diện cao nhất và chính thức của nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong các quan hệ quốc tế, chính thức hoá các quyết định
về đối ngoại của Nhà nước và là biểu tượng cho chủ quyền quốc gia, …
- Để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chủ tịch nước được quyền ban
hành hai loại văn bản là lệnh và quyết định.
3. Chính phủ:
3.1. Vị trí, tính chất pháp lý:
“Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước
cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Chính phủ có hai tính chất sau
đây:
- Cơ quan chấp hành của Quốc hội:
+ Chính phủ do Quốc hội thành lập. Nhiệm kỳ của Chính phủ theo nhiệm kỳ của
Quốc hội;
+ Chính phủ phải báo cáo công tác và chịu trách nhiệm trước Quốc hội;
+ Chính phủ chịu trách nhiệm tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết do
Quốc hội ban hành.
- Cơ quan hành chính cao nhất của đất nước:
+ Chính phủ đứng đầu hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới
địa phương;
+ Chính phủ là lãnh đạo hoạt động quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội.
3.2. Chức năng của Chính phủ:
- Hoạt động quản lý nhà nước của Chính phủ là hoạt động chủ yếu, là chức năng
của Chính phủ. Chức năng quản lý nhà nước của Chính phủ có hai đặc điểm:
+ Chính phủ quản lý tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội;
+ Hoạt động quản lý của Chính phủ có hiệu lực trên phạm vi cả nước.



- Các chức năng cơ bản của Hội đồng nhân dân được cụ thể hoá thành những
nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân và được quy định trong Luật Tổ chức Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003.
5. Uỷ ban nhân dân các cấp:
5.1. Vị trí, tính chất pháp lý:
Theo quy định tại điều 123 Hiến pháp hiện hành, “Ủy ban nhân dân do Hội đồng
nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ
quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân”. Ủy ban nhân dân có hai
tính chất sau:
- Cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cùng cấp:
+ Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra;
+ Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm thi hành các nghị quyết của Hội đồng nhân
dân cùng cấp;
+ Ủy ban nhân dân phải báo cáo công tác và chịu trách nhiệm trước Hội đồng
nhân dân cùng cấp.
- Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương:
+ Kết quả bầu Ủy ban nhân dân phải được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp trên trực
tiếp phê chuẩn (đối với cấp tỉnh thì Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn);
+ Thủ tướng Chính phủ hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền
điều động, đình chỉ công tác, miễn nhiệm, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp dưới trực tiếp;
+ Ủy ban nhân dân phải chấp hành các mệnh lệnh, báo cáo công tác và chịu trách
nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên, trước hết là các cơ quan hành chính nhà nước
cấp trên.
5.2.2. Chức năng của Ủy ban nhân dân:
- Hoạt động quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân là hoạt động chủ yếu, là chức
năng của Ủy ban nhân dân. Chức năng quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân có hai

+ Kiểm sát hoạt động điều tra;


+ Kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân;
+ Kiểm sát hoạt động thi hành án;
+ Kiểm sát hoạt động tạm giữ, tạm giam người.
- Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân được cụ thể hóa thành nhiệm vụ, quyền
hạn của Viện kiểm sát nhân dân các cấp và được quy định trong Luật Tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân năm 2002.

V. Nhà nước pháp quyền
1. Định nghĩa nhà nước pháp quyền:
Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước với sự phân công lao
động khoa học, hợp lý giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, có cơ chế kiểm
soát quyền lực, nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật, nhà nước quản
lý xã hội bằng pháp luật, pháp luật có tính khách quan, nhân đạo, công bằng, tất cả vì lợi
ích chính đáng của con người.
2. Đặc điểm của nhà nước pháp quyền:
Hiện nay có nhiều quan điểm, lý luận về nhà nước pháp quyền, theo cách hiểu phổ
biến nhất, nhà nước pháp quyền được thể hiện ở những điểm như sau:
Thứ nhất, tổ chức nhà nước được thiết kế, hoạt động trên cơ sở pháp luật, bản thân
nhà nước cũng đặt mình trong khuôn khổ pháp luật. Hình thức tổ chức nhà nước được
xây dựng trên cơ sở của sự phân công lao động hợp lý giữa các loại cơ quan trong bộ
máy nhà nước: Lập pháp, hành pháp và tư pháp. Một hình thức nhà nước mà nền tư pháp
được tổ chức khoa học, có hiệu quả và độc lập chỉ tuân theo pháp luật. Trong nhà nước
pháp quyền phải hiện hữu một nền hành chính trong sạch, hiệu quả, phục vụ tốt những
nhu cầu đa dạng, chính đáng của cá nhân, tổ chức.
Thứ hai, một hình thức tổ chức nhà nước mà pháp luật có vị trí, vai trò xã hội to
lớn, là phương tiện điều chỉnh quan trọng hàng đầu đối với các quan hệ xã hội, là công cụ
của nhà nước và toàn xã hội. Nhấn mạnh đến vị trí, vai trò của pháp luật, song nhà nước

hệ xã hội phát triển theo một trật tự ổn định và tiến bộ.
2.3.4. Pháp luật tạo ra môi trường ổn định cho quan hệ quốc tế:


Pháp luật luôn có vai trò giữ gìn sự ổn định và trật tự xã hội. Sự ổn định quốc gia
là điều kiện quan trọng trong việc tạo dựng các mối quan hệ bang giao với các nước
khác. Điều đó thể hiện ở việc một mặt, hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia phải đầy đủ
và đồng bộ để điều chỉnh các chủ thể nước ngoài có quan hệ với chủ thể trong nước; mặt
khác, hệ thống pháp luật vừa phù hợp với điều kiện hoàn cảnh trong nước, vừa phù hợp
với xu hướng phát triển chung của toàn cầu và khu vực. Vai trò này ngày càng trở nên nổi
bật trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhất thể hóa kinh tế thế giới.

VI. Bản chất và các thuộc tính cơ bản của pháp
luật, so sánh với cái quy phạm xã hội khác
Bản chất và vai trò của pháp luật:
1. Bản chất của pháp luật:
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực
hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ
xã hội. Bản chất pháp luật được thể hiện qua hai nội dung sau đây:
1.1. Tính giai cấp:
- Pháp luật trước hết thể hiện ý chí của giai cấp thống trị;
- Nội dung pháp luật được quy định bởi điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp
thống trị;
- Mục đích pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển theo một trật
tự nhất định phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị.
1.2. Tính xã hội:
Bên cạnh việc thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, pháp luật còn thể hiện ý chí và
lợi ích của các tầng lớp, giai cấp khác trong xã hội:
- Pháp luật là phương tiện để con người xác lập các quan hệ xã hội;
- Pháp luật là phương tiện mô hình hoá cách thức xử sự của con người;

pháp cưỡng chế nhà nước.


3. Mối liên hệ giữa pháp luật với các hiện tượng xã hội khác:
3.1. Mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế:
- Sự phụ thuộc của pháp luật vào kinh tế: Các điều kiện, quan hệ kinh tế không
chỉ là nguyên nhân trực tiếp quyết định sự ra đời của pháp luật, mà còn quyết định toàn
bộ nội dung, hình thức, cơ cấu và sự phát triển của pháp luật.
- Sự tác động trở lại của pháp luật đối với kinh tế theo 2 hướng:
+ Tác động tích cực: ổn định trật tự xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển khi pháp
luật phản ánh đúng trình độ phát triển kinh tế - xã hội;
+ Tác động tiêu cực: cản trở, kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội khi pháp luật
phản ánh không đúng trình độ phát triển kinh tế - xã hội.
3.2. Mối quan hệ giữa pháp luật với nhà nước:
- Sự tác động của nhà nước đối với pháp luật: nhà nước ban hành và bảo đảm
cho pháp luật được thực hiện trong cuộc sống;
- Sự tác động của pháp luật đối với nhà nước: quyền lực nhà nước chỉ có thể
được triển khai và có hiệu lực trên cơ sở pháp luật. Đồng thời, nhà nước cũng phải tôn
trọng pháp luật.
3.3. Mối quan hệ giữa pháp luật với các quy phạm xã hội khác như quy phạm
đạo đức, quy phạm tôn giáo, quy phạm tập quán, quy phạm chính trị… Cụ thể:
- Nhà nước thể chế hoá nhiều quy phạm đạo đức, tập quán, tôn giáo, chính trị…
thành quy phạm pháp luật;
- Phạm vi và mục đích điều chỉnh của pháp luật so với các loại quy phạm xã hội
khác có thể thống nhất với nhau;
- Các loại quy phạm xã hội khác đóng vai trò hỗ trợ để pháp luật phát huy hiệu
lực, hiệu quả trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.


VII. Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức, các hình thức,

thì đạo đức biểu hiện đặc trưng cho xã hội ấy.
trong vòng trật tự.
- Việc thực thi mang tính tự giác, tự nguyện, tự - Mang tính bắt buộc, cưỡng chế, tất yếu.
thân.
- Căn cứ vào khách quan.
- Mang tính chủ quan.
- Hẹp hơn, vì có những điều luật pháp cho
- Phạm vi tác động của đạo đức mang tính rộng phép làm nhưng lại vi phạm đạo đức. Vd: việc
rãi hơn.
sử dụng súng ở Mỹ.
- Ở bên ngoài vì bị bắt buộc.
- Động cơ hành vi ở bên trong chủ thể nó thôi
thúc con người hành động.


* Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật:
- Đạo đức và pháp luật có mối liên hệ khăng khít với nhau. Pháp luật sẽ bị vi phạm nếu
xã hội có môi trường đạo đức tha hóa . Ngược lại, pháp luật không nghiêm chỉnh cũng ảnh
hưởng xấu đến đời sống môi trường đạo đức.
- Trong xã hội có giai cấp: thì pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, do vậy
giai cấp cầm quyền tiến bộ thì luật pháp cũng tiến bộ, vì tính nhân văn, nhân đạo thống nhất với
đạo đức. Trong xã hội càng phát triển thì những chuẩn mức càng được luật pháp hóa. Vì vậy mà
giữa đạo đức càng chặt chẽ hơn.
- Trong xã hội có giai cấp đối kháng: khi giai cấp cầm quyền tiến bộ thì luật pháp đề ra
cũng phù hợp với xã hội. Hoặc ngược lại, khi giai cấp cầm quyền mà bảo thủ lạc hậu thì luật
pháp nó chỉ bảo vệ lợi ích cho giai cấp thống trị.
- Trong xã hội chủ nghĩa:
+ Sự tồn tại của nhà nước XHCN là 1 tất yếu.
+ Còn nhà nước thì còn pháp luật, vì vậy nó vẫn là công cụ để điều tiết quản lý xã
hội, cho nên nó vẫn là nhà nước pháp quyền.

hội và mọi công dân.
- Đặc trưng của ý thức pháp luật:
+ Ý thức pháp luật có mối quan hệ biện chứng với tồn tại xã hội: Thể hiện ở hai
khía cạnh: Ý thức pháp luật vừa phụ thuộc vào tồn tại xã hội (do tồn tại xã hội quyết
định), vừa có tính độc lập tương đối (bảo thủ, kế thừa, lạc hậu, vượt trước so với tồn tại
xã hội);
+ Ý thức pháp luật là hiện tượng có tính giai cấp: Hiểu biết, thái độ của các giai
cấp đối với pháp luật là khác nhau, chỉ có ý thức pháp luật của giai cấp cầm quyền mới
được phản ánh trong pháp luật.
1.2 Mối quan hệ giữa ý thức pháp luật và pháp luật XHCN:
* Sự tác động của ý thức pháp luật đối với pháp luật XHCN:
- Ý thức pháp luật là tiền đề trực tiếp cho hoạt động xây dựng pháp luật, cụ thể là cho
hoạt động soạn thảo, xây dựng đề án, dự thảo văn bản pháp luật; là yếu tố chủ quan có ý nghĩa
quyết định đối với nội dung của văn bản pháp luật. Cần nâng cao ý thức pháp luật cho các nhà
làm luật và của cả nhân dân, những người góp ý kiến trong việc xây dựng các văn bản pháp luật..


- Ý thức pháp luật góp phần nâng cao việc thực hiện pháp luật. Đối với thực hiện
pháp luật, ý thức pháp luật cũng có vai trò to lớn, có tác động mạnh mẽ. Việc
thực hiện pháp luật phụ thuộc vào trình độ nhận thức pháp luật và tâm lý, tình
cảm pháp luật của con người. Nếu người kinh doanh tôn trọng pháp luật và có
đạo đức họ sẽ chấp hành pháp luật đúng đắn, không làm hàng giả, không xâm
phạm lợi ích, uy tín của cơ sở kinh doanh khác. Còn nếu ngược lại, họ sẽ có
hành vi như nói xấu cơ sở kinh doanh khác, hay làm hàng giả, hàng độc hại cho
sức khoẻ...
- Ý thức pháp luật là đảm bảo cho hoạt động áp dụng pháp luật đúng đắn, khách quan. Ý
thức pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng trong áp dụng pháp luật của các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền : chất lượng, hiệu quả, tính đúng đắn của các quyết
định áp dụng pháp luật phụ thuộc rất nhiều vào ý thức pháp luật của người cán
bộ áp dụng pháp luật. Ví dụ, để ra bản án đúng pháp luật "thấu tình, đạt lý",

dụng pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền... đều tác động đến ý thức
pháp luật trong nhân dân, củng cố, bồi dưỡng, giúp họ nhận thức đúng đắn hơn,
từ đó có tình cảm, niềm tin, lối sống tuân theo pháp luật, hình thành văn hoá
pháp lý trong xã hội. Trong thực tiễn, cần nắm vững mối quan hệ giữa ý thức
pháp luật và pháp luật để vừa hoàn thiện hệ thống pháp luật, vừa xây dựng,
nâng cao ý thức pháp luật cho con người; làm tốt công tác tuyên truyền, giáo
dục ý thức pháp luật đi đôi với rà soát văn bản pháp luật, kịp thời sửa đổi
những quy định bất hợp lý..., từng bước xây dựng nền văn hoá pháp luật trong
nhân dân.

Các biện pháp giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật:
- Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, giải thích pháp luật;
- Đưa việc giảng dạy pháp luật vào hệ thống các trường học;
- Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thực hiện pháp luật;
- Mở rộng dân chủ, công khai tạo điều kiện cho nhân dân tham gia một cách đông
đảo vào hoạt động xây dựng pháp luật;
- Đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật;
- Kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức, văn hoá, nâng cao trình độ
chung của nhân dân;
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng.

IX. Văn bản quy phạm pháp luật: khái niệm, các loại văn bản
quy phạm pháp luật, hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật.
Nguồn pháp luật : khái niệm, phân loại, nguồn pháp luật ở VN hiện
nay


Khái niệm:
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành, trong đó chứa đựng các quy tắc xử sự chung, được áp dụng nhiều lần trong đời

cách xử sự cho mình. Ví dụ: “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của
pháp luật” (Điều 57 Hiến pháp năm 1992);
- Quy phạm pháp luật hướng dẫn: là quy phạm có nội dung khuyên nhủ, hướng
dẫn các chủ thể tự giải quyết một số công việc nhất định. Ví dụ: “Người bị kết án có lý do
đáng được khoan hồng thêm như đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo,
thì Toà án có thể xết giảm vào thời gian sớm hơn… ” (Điều 59 Bộ luật Hình sự năm
1999).

Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật
Điều 78. Thời điểm có hiệu lực và việc đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật
1. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được quy định trong văn bản
nhưng không sớm hơn bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành.
Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật quy định các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp,
văn bản được ban hành để kịp thời đáp ứng yêu cầu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh thì có thể có
hiệu lực kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành nhưng phải được đăng ngay trên Trang thông tin
điện tử của cơ quan ban hành và phải được đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng; đăng
Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi chung là Công báo) chậm nhất
sau hai ngày làm việc, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành.
2. Văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng Công báo; văn bản quy phạm pháp luật
không đăng Công báo thì không có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp văn bản có nội dung thuộc bí
mật nhà nước và các trường hợp quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều này.
Trong thời hạn chậm nhất là hai ngày làm việc, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành, cơ quan ban
hành văn bản quy phạm pháp luật phải gửi văn bản đến cơ quan Công báo để đăng Công báo.
Cơ quan Công báo có trách nhiệm đăng toàn văn văn bản quy phạm pháp luật trên Công báo chậm
nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được văn bản.
Văn bản quy phạm pháp luật đăng trên Công báo là văn bản chính thức và có giá trị như văn bản
gốc.
Chính phủ quy định cụ thể về Công báo.
Điều 79. Hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật
1. Chỉ trong những trường hợp thật cần thiết, văn bản quy phạm pháp luật mới được quy

Khái niệm
Nguồn của pháp luật là tất cả các căn cứ được các chủ thể có thẩm quyền sử dụng làm cơ
sở để xây dựng, ban hành, giải thích pháp luật cũng như để áp dụng vào việc giải quyết các vụ
việc pháp lý xảy ra trong thực tế
Phân loại
Một số nguồn nội dung của pháp luật Việt Nam
Đường lối, chính sách của Đảng
Nhu cầu quản lý kinh tế – xã hội của đất nước
Các tư tưởng, học thuyết pháp lý
Các loại nguồn hỗn hợp
Các nguyên tắc chung của pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật
Các điều ước quốc tế



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status