Kết quả bước đầu sử dụng kháng nguyên chế tạo từ ấu trùng Cysticercus tenuicollis để chẩn đoán bệnh trên lợn và dê tại Thái Nguyên - Pdf 34

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRIỆU THỊ NẢY
Tên đề tài:
“KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU SỬ DỤNG KHÁNG NGUYÊN CHẾ TẠO TỪ ẤU

TRÙNG CYSTICERCUS TENUICOLLIS ĐỂ CHẨN ĐOÁN BỆNH TRÊN
LỢN VÀ DÊ TẠI THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành:

Chăn nuôi Thú y

Khoa:

Chăn nuôi Thú y

Khoá học:

2011 - 2015

Thái Nguyên, năm 2015



ThS. Nguyễn Thu Trang

Thái Nguyên, năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRIỆU THỊ NẢY
Tên đề tài:
“KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU SỬ DỤNG KHÁNG NGUYÊN CHẾ TẠO TỪ

ẤU TRÙNG CYSTICERCUS TENUICOLLIS ĐỂ CHẨN ĐOÁN BỆNH
TRÊN LỢN VÀ DÊ TẠI THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành:

Chăn nuôi Thú y

Khoa:

Chăn nuôi Thú y

Khoá học:

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang
Hình 4.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn tại
thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên ................................ 32
Hình 4.2. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê tại các
địa phương, tỉnh Thái Nguyên .................................................... 34


iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT

: Số thứ thự

Cs

: Cộng sự

Nxb

: Nhà xuất bản

KCTG

: Ký chủ trung gian

Cys. Tenuicoliss


2.2. Bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở một số
loại gia súc...................................................................................................17
2.2.1. Đặc điểm dịch tễ học bệnh Cysticercus tenuicollis ..........................17
2.2.2. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis
gây ra ...........................................................................................................19
2.2.2.1. Đặc điểm gây bệnh của ấu trùng Cysticercus tenuicollis ..............19


vi
2.2.2.2. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh do ấu trùng Cysticercus
tenuicollis gây ra .........................................................................................20
2.2.3. Chẩn đoán bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ..................21
2.2.4. Phòng, trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ....................21
2.2.4.1. Phòng bệnh .....................................................................................21
2.2.4.2. Điều trị ...........................................................................................22
2.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ..........................................24
2.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước......................................................24
2.3.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài ..................................................25
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU...........................................................................................27
3.1. Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu ..........................................27
3.2. Vật liệu nghiên cứu ..............................................................................27
3.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................28
3.3.1. Tình hình mắc bệnh ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê và lợn tại
tỉnh Thái Nguyên.........................................................................................28
3.3.2. Tỷ lệ các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh ........28
3.3.3. Nghiên cứu chế tạo kháng nguyên phục vụ việc chẩn đoán bệnh ....28
3.3.4. Thử nghiệm kháng nguyên trong chẩn đoán bệnh Cysticercus
tenuicollis ở dê và lợn trên thực địa ............................................................28
3.4. Phương pháp nghiên cứu......................................................................28



1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Từ trước đến nay, chó luôn được xem là người bạn trung thành và thân
thiết với con người. Ở Việt Nam, chó được nuôi để giữ nhà, làm cảnh nhưng
bệnh ở chó thường rất ít được quan tâm đến. Tuy nhiên, chó thường mắc nhiều
bệnh ký sinh trùng như giun, sán, ve, ghẻ, rận,... Những bệnh này thường
không có triệu chứng rõ ràng, không gây chết ngay nhưng làm cho con vật gầy
còm, chậm lớn, giảm sức đề kháng. Hơn nữa, các ấu trùng của sán dây ký sinh
ở các vật nuôi khác và gây bệnh, làm thiệt hại đến giá trị kinh tế trong ngành
chăn nuôi và ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Một trong những ấu trùng đó
là Cysticercus tenuicollis, đây là ấu trùng của sán dây Taenia hydatigena, gây
bệnh trên lợn, dê, cừu, trâu, bò, thỏ, ngựa, kể cả con người.
Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], Vương Đức Chất và cs (2004) [1],
trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt
thuộc họ chó và mèo. Một trong những loài sán dây gây ra tác hại lớn cho chó
đó là sán dây Taenia hydatigena. Sán dây Taenia hydatigena ký sinh làm cho
chó gầy yếu, suy nhược, thiếu máu, có hội chứng viêm ruột, giảm khả năng
sinh sản và sẽ chết do kiệt.
Bệnh Cysticercus tenuicollis phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt
là những nơi nuôi nhiều chó và chế độ kiểm soát giết mổ không nghiêm ngặt.
Khi nhiễm nhẹ, chức năng của các khí quan rối loạn không rõ. Số lượng ấu sán
nhiều gây rối loạn chức năng các khí quan trong xoang bụng, gây hiện tượng
hoàng đản, con vật mất tính thèm ăn, sốt cao. Số lượng ấu sán nhiều còn gây
chèn ép các khí quan trong xoang bụng, xoang ngực, có thể có triệu chứng của
viêm màng bụng cấp tính.

động viên sâu sắc của gia đình và bạn bè. Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân
thành trước sự giúp đỡ quý báu đó.
Em xin chúc các thầy giáo, cô giáo luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc
và thành đạt trong cuộc sống, có nhiều thành công trong giảng dạy và
nghiên cứu khoa học.
Trong quá trình viết khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót. Em
kính mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy cô để khóa
luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 27 tháng 05 năm 2015
Sinh viên

Triệu Thị Nảy


5

Giống Spirometra Mueller, 1937
Loài Spirometra erinacei-europaei
(Rudolphi, 1819) Mueller, 1937
Loài Spirometra mansonoides
(Mueller, 1935) Mueller, 1937
Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900
Phân bộ Hymenolepidata Skrjabin, 1940
Họ Dipylidiidae Mola, 1929
Giống Dipylidium Leuckart, 1863
Loài Dipylidium caninum Leuckart, 1758
Phân bộ Tta Skrjabin et Schulz, 1937
Họ Taeniidae Ludwig, 1886
Giống Taenia Linnaeus, 1758

Diphyllobothrium latum mà là loài Diphyllobothrium mansoni. Sự phán đoán
này không dựa trên mẫu nên không có sự mô tả loài. Theo Yamaguti (1959),
loài Diphyllobothrium mansoni là tên đồng vật của loài Spirometra erinaceieuropaei thuộc giống Spirometra (họ Diphyllobothriidae).
Theo tài liệu mới nhất về họ Diphyllobothiidae của các tác giả
Delaimure S. L., Skrjabin A. S., Serdukov A. M. (1985) Diphyllobothrium
mansoni không là tên động vật của một loài nào trong họ này. Khi nói về lịch
sử nghiên cứu loài Diphyllobothrium latum, các tác giả còn cho rằng, loài
Spirometra erinacei-europaei của vùng nam bán cầu là một định dạng sai lầm
và cho rằng chính loài này là Diphyllobothrium latum. Tuy nhiên, các tác giả
có ý định xem xét vị trí phân loại của giống Spirometra Mueller, 1937 và
muốn coi giống này là giống chuẩn để thành lập họ Spirometridae (dẫn theo
Nguyễn Thị Kỳ, (2003) [4].
Nguyễn Thị Kỳ (2003) [4] cho biết: ở Việt Nam, hiện loài
Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans còn chưa rõ vị trí phân


7

loại và không có mẫu. Nguyễn Thị Kỳ (2003) [4], đã xem xét lại toàn bộ vị trí
phân loại và tình trạng mẫu, tình hình nghiên cứu về từng loài, đã tu chỉnh
một loài Spirometra erinacei- europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937.
Hiện nay trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và
các thú ăn thịt thuộc họ chó, mèo (Vương Đức Chất và cs, 2004 [1]).
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [14], nghiên cứu giun sán ký sinh ở
Việt Nam phát hiện thấy các lớp giun sán ký sinh định danh như sau: lớp
Trematoda, lớp Nematoda và lớp Cestoda; trong lớp Cestoda dê bị nhiễm các
loài Taenia hydatigena và Moniezia expansa.
2.1.1.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây chó
* Đặc điểm chung:
Phan Thế Việt và cs (1977) [14], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], (2003) [4],

bộ Cyclophyllidea).
Chiều dài của sán dây chó dao động từ 0,5 mm đến hàng chục mét. Cơ
thể sán dây phủ lớp biểu bì, đến lớp hạ bì, rồi đến lớp cơ vòng, cơ dọc. Phần
bên trong chứa đầy nhu mô. Bên trong lớp cơ là các khí quan của sán. Sán
dây chó cũng giống các sán dây khác ở đặc điểm không có hệ tiêu hóa, sán
lấy thức ăn bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể.
Hệ thần kinh ở sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh trung
ương nằm ở trên đầu, từ đó có các dây thần kinh chạy dọc cơ thể. Có hai dây
phát triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu
nối ngang.
Hệ tuần hoàn và hệ hô hấp tiêu giảm. Hô hấp theo kiểu yếm khí.
Hệ bài tiết của sán dây cấu tạo theo kiểu nguyên đơn thận, gồm 2 ống
chính từ đầu sán đi về cuối thân và thông với lỗ bài tiết. Ngoài ra, ở mỗi đốt
sán còn có những ống ngang nối liền với 2 ống chính.


9

Hầu hết các loài sán dây là lưỡng tính: Trong mỗi đốt thường có một hệ
sinh dục (gồm một cơ quan sinh dục đực và một cơ quan sinh dục cái) phát
triển ở các giai đoạn khác nhau, ít khi có hai hệ sinh dục hoặc hơn. Sự phát
triển của hệ sinh dục theo một thứ tự nhất định: Ở các đốt non cơ quan sinh
dục chưa phát triển, sau đó hình thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan
sinh dục cái. Sau khi thụ tinh, cơ quan sinh dục đực teo dần còn lại cơ quan
sinh dục cái. Ở các đốt già, trứng chứa đầy trong tử cung.
Hệ sinh dục đực gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh và các tuyến sinh dục. Số
lượng tinh hoàn trong mỗi đốt có từ một đến hàng trăm và là dấu hiệu để phân
loại mỗi loài. Từ tinh hoàn có nhiều ống dẫn tinh nhỏ đi ra và hợp lại với
nhau thành ống dẫn tinh, ống này đổ vào cơ quan giao phối là lông gai. Lông
gai nằm trong nang lông gai. Phần cuối ống dẫn tinh có thể phình ra gọi là túi

* Đặc điểm hình thái, kích thước của một số loài sán dây ký sinh ở chó:
- Giống Dipylidium Leuckart, 1863
Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], (2003) [4], Nguyễn Thị Lê và cs (1996)
[10], cho biết:
+ Loài Dipylidium caninum: Cơ thể dài 15 - 17 cm, gồm 80 - 250 đốt.
Đầu rộng 0,24 - 0,50 mm. Đầu có vòi hình chóp, có 4 - 10 hàng móc, mỗi
hàng có từ 16 - 20 móc, móc hàng trên cùng dài 0,013 - 0,016 mm, móc hàng
cuối cùng dài 0,003 - 0,008 mm. Lỗ sinh dục kép, mở ra ở hai bên đốt. Túi
sinh dục dài 0,1 - 0,3 mm, đáy hướng lên phía trên đốt. Buồng trứng phân
thùy hình quạt. Tuyến noãn hoàng hình khối. Đốt già chứa nang trứng, mỗi
nang chứa 3 - 30 trứng, có kích thước 0,026 - 0,060 mm. Phôi 6 móc có kích
thước 0,020 - 0,036 mm.
- Giống Taenia Linnaeus, 1758
Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], (2003) [4], Nguyễn Thị Lê và cs (1996)
[10], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5], cho biết:


11

+ Loài Taenia hydatigena: Dài 5000 mm gồm 550 - 700 đốt rất rộng.
Đầu hình quả lê hay hình thận, đường kính 1 mm, vòi có 26 - 44 móc, xếp
thành hai hàng, móc hàng trên dài 0,170 - 0,022 mm, có mỏm rất cong, móc
hàng dưới dài 0,110 - 0,160 mm, có lưỡi rất cong, các giác bám gần nhau và
có đường kính 0,110 mm, cổ dài 0,500 mm. Có 600 - 700 tinh hoàn ở giữa
các ống bài tiết. Xung quanh noãn hoàng, buồng trứng, ống dẫn tinh và âm
đạo không có tinh hoàn, ống dẫn tinh có dạng túi hẹp uốn khúc nhiều, không
có túi tinh. Nang lông gai hình trụ dài 0,450 mm, rộng 0,130 mm, buồng
trứng hai thùy ở nửa dưới của đốt, cạnh phía không lỗ lớn hơn phía có lỗ,
noãn hoàng là ống hẹp kéo dài theo chiều ngang, thể Melis tròn ở giữa buồng
trứng và noãn hoàng, phần đầu âm đạo phình rộng, sau hẹp dần, tới thùy

Bảng 4.6. Kết quả thử nghiệm kháng nguyên trong chẩn đoán bệnh ở
lợn trên thực địa .......................................................................... 40
Bảng 4.7. Kết quả thử nghiệm kháng nguyên trong chẩn đoán bệnh ở dê
trên thực địa ................................................................................ 41


13

vàng, vỏ ngoài sinh ra vỏ trong, vỏ trong gọi là vỏ mầm, sinh ra từ phía trong
xoang nang, mỏng, không màu, là thành mô sinh ra nang, có thể sinh ra một
nang cùng lúc tạo thành đầu phôi và nang thứ hai (nang con).
- Giống Multiceps Goeze, 1782
Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], (2003) [4], Nguyễn Thị Lê và cs
(1996) [10]:
+ Loài Multiceps multiceps: Sán dài 400 - 1000 mm, gồm 200 - 250
đốt, rộng gần 5 mm. Đầu hình quả lê và có đường kính 0,800 mm. Vòi có
đường kính 0,300 mm, có 22 - 32 móc, xếp thành hai hàng, móc hàng một dài
0,150 mm, hàng hai dài 0,090 - 0,130 mm. Giác bám có đường kính 0,290 0,300 mm. Cổ dài 2 - 3 mm. Ống dẫn tinh bắt đầu ở phía có lỗ, gần thân giữa
của tử cung, uốn khúc và đi vào nang lông gai. Nang có dạng quả lê dài 0,315
- 0,350 mm, rộng 0,110 - 0,145 mm. Buồng trứng có hình cánh bướm, ở gần
bờ dưới đốt, hai thùy gần như bằng nhau và có hình bầu dục, noãn hoàng hình
ba góc, ở sát bờ dưới đốt. Thể Melis nhỏ ở giữa buồng trứng và noãn hoàng.
Âm đạo có dạng ống cong xuống một thùy của buồng trứng và phình rộng
thành túi chứa tinh, tử cung có thân giữa và mỗi bên có 9 - 12 nhánh, trứng có
đường kính 0,029 - 0,037 mm, có vỏ dày 0,004 mm.
Ấu trùng Coenurus cerebralis là một nang lớn, hình tròn hay bầu dục,
vỏ mờ đục, mềm ở trong có rất nhiều đầu sán dính vào, trong nang là chất
dịch không màu, số lượng dịch thay đổi phụ thuộc vào kích thước nang. Kích
thước nang khác nhau, phụ thuộc vào mức độ phát triển, vị trí não ký sinh và
loại động vật.

+ Loài Spirometra erinacei-europae
Vòng đời phát triển của Spirometra erinacei-europae có sự tham gia
của vật chủ trung gian thứ nhất là các các loài giáp xác, KCTG bổ sung là cá.
Trứng được thải ra ngoài theo phân chó không có phôi, ở trong nước, trứng


15

nở ra ấu trùng có những lông nhỏ xung quanh thân gọi là Coracidium, được
vật chủ trung gian thứ nhất là các loài giáp xác thuộc giống Mesocyclops,
Eucyclops nuốt. Trong cơ thể bọ nước, Coracidium phát triển thành dạng ấu
trùng đặc biệt - Procercoid. Trong trường hợp cá nuốt phải bọ nước bị nhiễm
Procercoid thì ấu trùng Procercoid sẽ phát triển thành dạng ấu trùng mới Plerocercoid. Chó ăn cá có ấu trùng Plerocercoid sẽ nhiễm sán, sau 15 - 18
ngày sẽ xuất hiện trứng trong phân chó thải ra.
+ Loài Spirometra mansonoides
Vòng đời phát triển cần có sự tham gia của vật chủ trung gian thứ nhất
là các loài giáp xác nước ngọt (Copepods), vật chủ trung gian thứ hai là
những loài chim, rắn, bò sát, lưỡng cư, động vật gặm nhấm. Trứng theo phân
chó ra ngoài, trải qua lần lượt các giai đoạn ở vật chủ trung gian thứ nhất và
thứ hai, trở thành ấu trùng gây bệnh Plerocercoid. Chó ăn phải vật chủ trung
gian chứa ấu trùng sẽ bị nhiễm sán. Sau 10 - 30 ngày ấu trùng phát triển thành
sán trưởng thành.
+ Loài Dipylidium caninum
Vòng đời của loài này có sự tham gia của vật chủ trung gian là các loài
bọ chét giống Ctenocephalides. Đốt sán già thải ra ngoài có mang theo nang
trứng. Đốt sán vỡ ra, trứng ở ngoài tự nhiên được các vật chủ trung gian nuốt
vào, phát triển thành ấu trùng. Chó ăn phải bọ chét có ấu trùng sẽ bị nhiễm
sán dây. Sau 3 - 4 tuần ấu trùng phát triển thành sán dây trưởng thành.
+ Loài Taenia hydatigena
KCTG là lợn, trâu, bò, dê, cừu. Vòng đời bắt đầu từ khi đốt sán già rụng

như là những cơ thể độc lập với nhiều cơ quan riêng biệt và hoàn toàn độc
lập. Nhờ có sự hóa đốt mà khả năng sinh sản của sán dây tăng lên gấp bội.
Trong cùng một lúc, ở những đốt thành thục của sán dây có thể sinh ra hàng
chục triệu trứng. Ngoài ra, sự hóa đốt còn có lợi cho sán dây về những mặt
khác. Đó là do có đốt sán già lần lượt đứt và thải ra môi trường bên ngoài mà



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status