TIỂU LUẬN MÔN TÔN GIÁO HỌC ĐẠI CƯƠNG - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA VĂN – XÃ HỘI
--------------------------------

BÀI TIỂU LUẬN
KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN TÔN GIÁO HỌC ĐẠI CƯƠNG
Đề tài:
SỰ TÁC ĐỘNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA THUYẾT NHÂN
QUẢ, NGHIỆP BÁO CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI QUAN NIỆM,
THÁI ĐỘ SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn

:

Lớp học phần
:
Nhóm sinh viên thực hiện:
STT
1
2
3
4
5

Mã sinh viên
DTZ1156140052
DTZ1156140033
DTZ1156140030
DTZ1156140048
DTZ0956130088

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển Phật giáo Việt Nam..................................................................11
1.2.1 Quá trình Phật Giáo du nhập vào Việt Nam.............................................................................11
1.2.3 Một số đặc điểm của Phật giáo Việt Nam................................................................................12
Tiểu kết chương 1.................................................................................................................................15
CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA THUYẾT NHÂN QUẢ, NGHIỆP BÁO CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI
VỚI QUAN NIỆM, THÁI ĐỘ SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT NAM....................................................................16
2.1 Nội dung cơ bản của thuyết nhân quả của Phật giáo..................................................................16
2.1.1 Khái niệm thuyết nhân quả......................................................................................................16
2.1.2 Nội dung của thuyết nhân quả.................................................................................................16
2.1.3 Biểu hiện của thuyết nhân quả................................................................................................17
2.2 Nội dung cơ bản của thuyết nghiệp báo.....................................................................................18
2.2.1 Khái niệm thuyết nghiệp báo...................................................................................................18
2.2.2 Nội dung thuyết nghiệp báo....................................................................................................19
2.2.3 Biểu hiện của nghiệp báo.........................................................................................................20
2.3 Những tác động và ảnh hưởng của thuyết nhân quả, nghiệp báo đối với quan niệm, thái độ
sống của người Việt Nam..................................................................................................................21
2.3.3 Thể hiện qua đời sống, lời ăn tiếng nói hàng ngày...................................................................23
2.3.4 Thể hiện qua các loại hình văn hóa nghệ thuật........................................................................26
2.4 Vai trò của thuyết nhân quả, nghiệp báo đối với thái độ sống của con người hiện nay..............31
Tiểu kết chương 2.................................................................................................................................34
KẾT LUẬN..............................................................................................................................................35
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................................................37

2


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phật giáo là tôn giáo du nhập vào Việt Nam từ rất lâu và thực sự đã trở
thành một góc trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam. Phật giáo được

trù đạo đức của Phật giáo và phân tích rõ them một số nội dung của chúng.
Ngoài ra còn một số bài viết :
- “Nghiệp hay định luật đạo đức nhân quả” của Thích Phước Sơn.
- “Nhận thức về Nhân quả và Nghiệp” của tác giả Thích Giác Khang.
- “Nghiệp là một định luật luân lý của đạo đức” của Ni Sinh: Thích nữ
Diệu Minh.
Nhìn chung các bài viết đều có khai thác một cách khái quát, hoặc là một
khía cạnh về các vấn đề liên quan đến Phật giáo. Ở từng góc độ thì họ lại
tiếp cận và có quan điểm khác nhau cũng như hướng đi khác nhau.
Hiện, chúng tôi chưa thấy một công trình hay bài viết nào có tính hệ thống
về công việc mà chúng tôi tiến hành. Xuất phát từ những suy nghĩ và phát
hiện như trên, đã chỉ cho chúng tôi những công việc cần phải làm.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu được nội dung cơ bản của thuyết nhân quả, nghiệp
báo của Phật giáo, qua đó tìm ra những ảnh hưởng, tác động của nó
đối với quan niệm, thái độ sống của người Việt Nam.
- Nghiên cứu đề tài này nhóm còn góp phần làm tư liệu cho việc
nghiên cứu sau này và nhóm cũng muốn được đóng góp một phần nho
bé của mình vào việc nghiên cứu những ảnh hưởng của Phật giáo đối
với người Việt Nam.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tiếp cận cơ sở, đặc điểm, những phạm trù cơ bản của Phật giáo.
- Tiếp cận những tín ngưỡng, tâm lý, quan niệm sống của người
Việt Nam.

4


- Góp phần lý giải sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam, đặc
biệt là những tác động, ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo đối với người


Vài nét về Phật giáo

1.1.1 Sự ra đời của Phật Giáo
Tôn giáo là một nhu cầu của bộ phận văn hóa tinh thần của từng con người,
từng cộng đồng xã hội. Trong đó Phật giáo là một trào lưu tôn giáo với cái đích
là hướng con người tới sự giải thoát khoi nỗi thống khổ. Nó xuất hiện vào cuối
thế kỉ thứ VI trước công nguyên ở Ấn Độ thuộc vùng đất Nêpan ngày nay.
Đạo Phật ra đời trên nền tảng của một nền văn hóa, văn minh lớn – Văn minh
Vêđa với người sáng lập là Thích Ca Mâu Ni. Sự ra đời của đạo Phật thể hiện
tinh thần phản kháng của những người nghèo chống lại thuyết bốn đẳng cấp của
đạo Bà la môn, tìm con đường giải thoát con người khoi nỗi thống khổ triền
miên trong xã hội nô lệ Ấn Độ.
Theo đạo Bà la môn, mỗi người thuộc một đẳng cấp nhất định: Bà la môn,
quý tộc, bình dân gồm người buôn bán, thợ thủ công, nông dân và nô lệ… tức là
có bốn đẳng cấp là Tăng lữ - đẳng cấp cao quý nhất là Bà la môn sinh ra từ
miệng của đấng tối cao là thần Sáng Tạo Brahmâ và thấp hèn nhất là nô lệ.
Người đẳng cấp nào sẽ mãi mãi thuộc đẳng cấp ấy, không thể thay đổi.
Đạo Bà la môn chủ trương đại sát sinh và hiến tế nên gia súc bị giết chết rất
nhiều để hiến tế, thậm chí tế cả người. Đối với phụ nữ, chồng chết phải hoa
thiêu và vợ cũng phải hoa thiêu theo… Chính từ những bất bình đẳng của việc
phân chia đẳng cấp này đã dẫn đến những mâu thuẫn lớn trong xã hội, nó đã trở
thành một trong những cơ sở để Phật giáo ra đời.
Là một đạo giáo hòa bình tràn đầy đức tính từ bi, trí tuệ dũng cảm, bình
đẳng, vô ngã, vị tha,…hiện nay Phật giáo lan khắp ra năm châu bốn biển. Không
chỉ thu hẹp trong vùng Châu Á như trước đây, mà nó còn được truyền đi khắp
các xứ lân cận với số tín đồ chính thức khoảng trên 300 triệu người.

6


7


đường dẫn tới cõi Niết bàn. Vua cha sợ ngài xuất gia không ai nối nghiệp trị vì,
nên tìm cách giữ chân ngài bằng thú vui ngũ dục và cưới vợ sớm lúc ngài 16
tuổi. Vợ ngài là công chúa Da Du Ðà La, con gái của vua Thiện Giác, một nước
láng giềng và sinh một con trai đặt tên là La Hầu La (có nghĩa một sợi giây trói
buộc). Tuy nhiên, trên mặt Thái tử luôn luôn lộ nét buồn kín đáo và, ngài đã nói
với vua cha xin đi xuất gia để tìm phương cứu mình, cứu đời nhưng không được
chấp thuận, sau đó đang đêm ngài bo hoàng cung với ngôi vị cao quý, bo cả
người vợ đẹp và con trai, một mình tầm sư học đạo. Bấy giờ, thái tử vừa tròn hai
mươi chín tuổi.
Đi sâu vào rừng đến bờ sông Anoma, ngài cắt tóc và thay đổi y phục trao
lại bảo Xa nặc đem về dâng Phụ hoàng và to rõ sự tình. Từ đây, Thái tử đã trở
thành một đạo sĩ và dấn thân trên đường tìm đạo. Ngài đi đến thành Vương xá
(RajagrÌha) xứ Ma kiệt đà, tìm đến các vị Đạo sĩ Bà la môn mà tham khảo
phương pháp tu hành. Sau một thời gian tu luyện, Ngài không thoa mãn. Ngài
liền vào rừng Ưu lâu tần loa xứ Phật đà già da (Bouddhagaya) tu hạnh ép xác,
một ngày chỉ ăn một hạt mè, hạt gạo và suy nghĩ trong sáu năm, song vẫn thấy
vô hiệu. Ngài nhận thấy lối tu khổ hạnh ấy không phải là lối tu giải thoát. Và sau
khi nhận bát sữa của nàng Tu xà đề dâng cúng, thân thể bình phục, tâm hồn sảng
khoái, ngài đến dưới gốc cây bồ đề ngồi trên thảm tọa và nói rằng: "Nếu không
tìm ra chân lý thì thà chết ta không rời thảm tọa này". Sau khi thiền định dưới
gốc cây Bồ đề 49 ngày, ngài chứng đắc quả vị Phật thấy rõ chân lý cuộc đời. Khi
đó ngài tròn 35 tuổi.
Từ khi thành đạo, ngài du hóa khắp nơi, thuyết pháp, giáo hóa độ sinh,
đem lại lợi ích cho rất nhiều người tin theo đạo ngài . Qua bốn mươi chín năm
trải thân hành đạo không ngừng nghỉ, ngài nhập diệt tại rừng Sala song thọ, khi
ấy ngài tám mươi tuổi.
1.1.3 Giáo lý cơ bản của Phật Giáo

là 8 điều khổ. Sâu xa hơn, bản chất của năm nhóm thân tâm. Ngũ uẩn là
các điều kiện tạo nên cái ta, đều là khổ.

9


2. Tập đế là chân lý về nguyên nhân của các nỗi khổ. Nguyên nhân chủ yếu
là luân hồi, mà nguyên nhân của luân hồi là nghiệp, sở dĩ có nghiệp là do
long ham muốn như ham sống, ham lạc thú, ham giàu sang…
3. Diệt đế là chân lí về sự chấm dứt các nỗi khổ. Đạo Phật cho rằng, con
người có khả năng thoát khoi sự khổ đau, ràng buộc của thế gian để đạt
tới sự giải thoát rốt ráo, tuyệt đối (Niết Bàn). Muốn đạt đến Niết Bàn thì
phải chấm dứt luân hồi.
4. Đạo đế: chân lý về con đường dẫn đến bất diệt khổ. Phương pháp để đạt
sự diệt khổ là con đường diệt khổ tám nhánh, Bát chính đạo. Không thấu
hiểu Tứ diệu đế được gọi là vô minh.
Phật xác nhận ba đắc tướng của cuộc đời là vô thường, vô ngã và vì vậy mà
con người phải chịu khổ. Nhận thức ba dấu ấn, đặc trưng này của sự vật đồng
nghĩa bước đầu đi vào đạo Phật.
Khổ được giải thích là xuất phát từ ái và vô minh và một khi dứt được
những nguyên nhân đó thì ta có thể thoát khoi vòng sinh tử hữu luân. Cơ chế
làm cho chúng sinh còn vướng mãi trong vòng sinh tử được đạo Phật giải thích
bằng thuyết Duyên khởi pi. Chấm dứt luôn hồi, vòng sinh tử đồng nghĩa với việc
chứng ngộ Niết bàn. Theo con đường dẫn đến Niết-bàn là Bát chính đạo.
Bát chính đạo bao gồm:
1. Chính kiến: Gìn giữ một quan niệm xác đáng về Tứ diệu đế và giáo lí vô ngã.
2. Chính tư duy: Suy nghĩ hay có một mục đích đúng đắn, suy xét về úy
nghĩa của bốn chân lí một cách không sai lầm.
3. Chính nghĩa: Không nói dối hay không nói phù phiếm.
4. Chính nghiệp: Tránh phạm giới luật.

Con đường gián tiếp: Qua các vị cao tăng Trung Quốc trong quá trình
hành hương về đất Phật qua đường bộ còn gọi là con đường tơ lụa con đường
này nối liền Đông Tây, phát xuất từ vùng Đông Bắc Ấn Độ hoặc phía Trung Á,
một nhánh của đường tơ lụa đi từ Châu Âu qua các vùng thảo nguyên và vùng sa
mạc ở Trung Á tới Lạc Dương bằng phương tiện lạc đà. Cũng có thể các thương
nhân và tăng sĩ qua vùng Tây Tạng và các triền sông Mekong, sông Hồng, sông
Đà mà vào Việt Nam. Cuốn Lịch sử Phật Giáo Việt Nam (Hà Nội, 1988) có nói
rõ: "Các thương nhân xuất phát từ Trung Ấn có thể dùng tuyến đường bộ ngang
qua đèo Ba Chùa và theo sông Kanburi mà xuống Châu Thổ Mênam, bằng
11


tuyến đường hiện nay vẫn nối liền cảng Moulmein với thành phố Raheng, nằm
trên một nhánh của con sông Mênam (…) chính tuyến đường này dẫn tới vùng
Bassak ở trung lưu sông Mekong, địa bàn của vương quốc Kambijan. Vương
quốc này có thể là do những di dân Ấn Độ thành lập trước công nguyên. Rất có
thể các tăng sĩ Ấn Độ vào đầu công nguyên đã theo con đường này mà đến đất
Lào, rồi từ đây vượt Trường Sơn sang Thanh Hóa hay Nghệ An".
1.2.2 Quá trình phát triển của Phật giáo ở Việt Nam
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm. Nó đã ăn sâu bám rễ trong
đời sống nhân dân Việt Nam.
Giai đoạn từ cuối thế kỷ I đến thế kỷ X, đạo Phật đã từng bước hình thành
và khẳng định vị trí, vai trò trong đời sống văn hóa, tinh thần của dân tộc. Đến
thời nhà Lý, nhà Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh và trở thành Quốc giáo
ảnh hưởng tới mọi vấn đề trong cuộc sống. Đến đời Hậu Lê, Nho giáo nổi lên
với vai trò Quốc giáo giữ địa vị chính yếu về tư tưởng, chính trị, đạo đức khiến
Phật giáo đi vào suy thoái.
Đến đầu thế kỷ XVII, vua Quang Trung cố gắng chấn hưng đạo Phật,
chỉnh đốn xây chùa mang lại nhưng bước tiến mới cho đạo Phật nhưng vì một
số nguyên nhân chủ quan và khách quan nên phong trào không đạt được nhưng

tất cả cùng tiếp nhận Nho giáo để làm nên “Tam giáo đồng nguyên” (cả ba tôn
giáo có cùng một gốc) và “Tam giáo đồng quy” (cả ba tôn giáo có cùng mục
đích). Ba tôn giáo trợ giúp lẫn nhau: Nho giáo lo tổ chức xã hội, Đạo giáo lo thể
xác con người, Phật giáo lo tâm linh, kiếp sau của con người. Trong nhiều thế
kỷ, hình ảnh “Tam giáo tổ sư” với Thích Ca Mâu Ni ở giữa, Lão Tử ở bên trái,
Khổng Tử ở bên phải đã in sâu vào trong tâm tức mọi người Việt.
Ngoài ra Phật giáo Việt Nam còn được hòa trộn với tất cả các tôn giáo
khác để hình thành Đạo Cao Đài vào tháng 10 năm 1926 với quan điểm là
“Thiên tân hợp nhất” và “Vạn giáo nhất lý”.
Phật giáo Việt Nam có sự dung hòa giữa các tông phái
Các tông phái Phật giáo Đại thừa sau khi du nhập vào Việt Nam đã trộn
lẫn với nhau. Dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi pha trộn với Mật giáo. Nhiều vị
thiền sư đời Lý Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không,… đều gioi
13


pháp thuật và có tài thần nông biến hóa. Thiền tông còn kết hợp với Tịnh Độ
tông như là trong việc tụng niệm Phật A Di Đà và Bồ Tát.
Các điện thờ ở chùa miền Bắc vô cùng phong phú các loại tượng Phật, Bồ
Tát, La Hán của các tông phái khác nhau. Các chùa miền Nam còn có xu hướng
kết hợp Tiểu thừa với Đại thừa. Nhiều chùa mang hình thức Tiểu thừa (thờ Phật
Thích Ca Mâu Ni, sư mặc áo vàng) nhưng lại theo giáo lý Đại thừa; bên cạnh
Phật Thích Ca Mâu Ni còn có các tượng phật nho khác, bên cạnh áo vàng còn có
áo nâu, áo lam.
Phật giáo Việt Nam mang tính hài hòa âm dương
Sau tính tổng hợp thì hài hòa âm dương là một trong những đặc tính khác
của lối tư duy nông nhiệp, nó ảnh hưởng đến Phật giáo Việt Nam làm cho Phật
giáo Việt Nam thiên về nữ tính.
Các vị Phật Ấn Độ xuất thân là nam giới, khi vào Việt Nam bị biến thành
“Phật ông – Phật bà”. Phật Bà Quan Âm (biến thể của Quán Thế Âm Bồ Tát) là



CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA THUYẾT NHÂN
QUẢ, NGHIỆP BÁO CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI QUAN NIỆM,
THÁI ĐỘ SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
2.1 Nội dung cơ bản của thuyết nhân quả của Phật giáo
2.1.1 Khái niệm thuyết nhân quả
Giáo lý Phật giáo cho rằng: “Nhân” là nguyên nhân, “Quả” là kết quả.
Nhân là cái mầm. Quả là cái hạt, cái trái do mầm ấy phát sinh. Nhân là năng lực
phát động, Quả là sự hìnhthành của năng lực phát động ấy. Nhân và quả là hai
trạng thái nối tiếp nhau mà có. Nếu không có nhân thì không có quả, nếu không
có quả thì không có nhân.
Trong thế giới tương quan của hiện tượng, mỗi hiện hữu đều có nguyên
của nó. Nguyên nhân của sự có mặt của các hiện hữu gọi là nhân và hiện hữu gọ
là quả. Mỗi hiện tượng vừa là kết quả vừa là nguyên nhân. Tương quan nhân
thành quả ấy gọi là tương quan duyên sinh.
2.1.2 Nội dung của thuyết nhân quả
Nhân thế nào thì quả thế ấy: Một người chủ nông trại nọ muốn mình thu
hoạch được nhiều đậu thì tất nhiên phải gieo trồng hạt giống đậu.
Một nhân không thể sinh ra quả: sự vật trong vũ trụ này đều là sự tổ hợp
của nhiều nhân duyên. Cho nên không có một nhân nào, có thể tự tác thành kết
quả được, nếu không có sự giúp đỡ của nhiều nhân khác.
Trong nhân có quả, trong quả có nhân: trong nhân đã có sẵn mầm mống
của quả. Mỗi vật, vì thế, đều có thể gọi là nhân hay quả được: đối với quá khứ
thì nó là quả nhưng đối với tương lai thì nó là nhân. Nhân và quả là sự tiếp nối
và đắp đổi cho nhau.
Sự chuyển biến từ nhân thành quả có lúc nhanh nhưng cũng có lúc chậm,
chứ không phải bao giờ cũng đồng nhất trong một khoảng thời gian nhất định.
Vì thế các nhà nghiên cứu đã phân loại nhân quả thành nhân quả đồng thời và
nhân quả khác thời.

“Dục tri tiền thế nhân
Kim sanh thọ giả thị
17


Dục tri lai thế quả
Kim sanh tác giả thị.”
Tạm dịch:
“Muốn biết nhân đời trước
Xem thọ nhận đời này
Muốn biết quả đời sau
Xem tạo tác đời này.”
Cái thông dụng trong cuộc sống này, chánh báo và y báo của mình, xem
thử mình mang thân như thế nào, con người có hạnh phúc hay không, nghèo hay
giàu, ngu hay trí… cứ nghiệm lại mà biết rằng nhân đời trước mình tạo là nhân
gì. Một cái ăn, một cái uống, một cái mặc cũng đều do tạo nhơn lành hay dữ ở
kiếp trước. Muốn biết kết quả kiếp sau ra sao, nơi kiếp này hãy suy xét sự tạo
tác của thân - khẩu - ý của mình ra sao. Nếu chúng ta có chánh kiến về nhân quả
sẽ có thể biết được quá khứ, hiện tại, vị lai của mình và người như thế nào, từ đó
quyết chí tiến tu để mỗi ngày được thăng hoa hơn trên lộ trình tu tập.
Qua thuyết nhân quả của Đạo Phật cho chúng ta thấy có sự tái sanh, luân
hồi, có quả báo khổ vui trong các kiếp sống. Các vị Đạt Lai Lạt Ma bên Tây
Tạng đã nói đến thuyết tái sinh, đi tìm hậu thân và các cõi sống. Thân ngũ uẩn
của chúng ta đều do nghiệp lực mỗi người vẽ ra mà có sự sai biệt về hình dáng,
tính cách, hoàn cảnh. Cho nên, mình là Thượng đế của chính mình, tự tạo ra
hoàn cảnh chánh báo và y báo cho chính mình. Người hiểu đạo lý, niềm tin này
làm cho họ tự ý thức dè dặt, thận trọng trong mọi ý nghĩ, lời nói, việc làm của
mình, chuyên tu ba nghiệp cho được thanh tịnh, ngõ hầu chuyển hóa bản thân,
gia đình và xã hội đều dứt ác hành thiện.
2.2 Nội dung cơ bản của thuyết nghiệp báo

đâu hay hạnh phúc. Nhưng khổ đâu hay hạnh phúc là những cảm nhận của riêng
mỗi con người khác nhau và nó là những pháp sinh diệt, tương tục trên cơ sở
tâm lý khác nhau. Vì thế, sẽ không có một khuôn mẫu ước lệ nào có thể quy ước
một cách đầy đủ về nghiệp. Tuy nhiên, cơ sở của nghiệp là tâm (ý), do đó, khảo
sát về nghiệp chính là khảo sát về cuội nguồn của tâm.

19


2.2.3 Biểu hiện của nghiệp báo
Nghiệp báo hoạt đọng theo ba mặt: thân, lời, ý. Nó sản sinh ra bao loại
hậu quả: xấu, không xấu, trung tính. Một số biểu hiện của nghiệp báo mà ai
cũng có thể vướng vào nếu có cách sống gây nghiệp báo.
Hiện báo nghiệp: là sự báo ứng ngay trong đời sống hiện tại, ví như sống thất
nhân tâm hôm nay, thì không lâu sau đó một thời gian sẽ bị người khác ứng xử
như thế. Sự báo ứng này, không cần phải đợi đến kiếp sau. Quả báo này gọi là
hiện báo hay họa báo. Trong dân gian Việt Nam có câu thành ngữ nói về loại
quả báo này: “ Đời xưa trả bão thì chầy, đời nay trả bão một giây nhãn tiền”.
Sinh báo nghiệp: sinh báo là gây nghiệp trong đời sống này đến đời sống kế
tiếp sau mới chịu trả bó. Kinh Phật nói : “Muốn biết nhân kiếp trước, hãy xem
sự sống ở kiếp này. Muốn biết kiếp sau ta sống ra sao, hãy xem xét bản thân
mình sống thế nào trong hiện tại”.
Hậu báo nghiệp: Hậu báo là quả báo, khi gây nghiệp ở kiếp này, nhưng báo
ứng đến lâu và rất lâu sau đó, có khi sau ba, bốn, trăm, nghàn năm sau mới tới,
thậm chí đến vô lượng kiếp sau khi hội tụ đủ nhân duyên mới chịu quả báo.
Định báo nghiệp: đây là quả báo người gây nghiệp trước đó nhất định phải
gánh chịu, không tránh được.
Cộng báo nghiệp: Cộng báo hay còn cộng nghiệp. Quả báo này thể hiện cùng
một lúc nhiều người, một nhóm người, thậm chí cả một cộng đồng người phải
gánh chịu. Ví như một gia đình, có người cha bị bệnh nằm bệnh viện, thì cả nhà:

phóng sinh thả chim, đời nay đông con nhiều cháu”, hay là “Kiếp trước hay
phóng sinh thả cá, đời nay sống lâu”. Cái quan niệm về nhân quả trong đạo Phật
này đã in sâu vào trong tiềm thức của mỗi một con người, chính vì thế mà người
ta dù theo Phật hay không theo Phật cũng đều hướng tâm tới việc yêu thương
muôn loài.
Cũng xuất phát từ tinh thần từ bi của đạo Phật, tục lễ bố thí luôn hiện hữu
trong đời sống tinh thần của người Việt. Người dân cũng thích làm phước, bố thí
và sẵn sang giúp đỡ kẻ nghèo khó hoạn nạn. Bởi lẽ, người ta quan niệm rằng
21


việc gì cũng có cái nhân quả của nó, giúp đỡ kẻ khó ăn mày là tu nhân tích đức
cho con cháu về sau. Phật dạy: “Kiếp trước cơm gạo bố thí người nghèo, đời
nay có ăn, có mặc”. Chính vì quan niệm nhân quả này mà người ta cũng hướng
tới cái việc thiện nhiều hơn. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại ngày nay thì những
biểu hiện mang tính chất hình thức này ngày càng bị thu hẹp. Thay vào đó người
ta tham gia vào những đợt cứu trợ đồng bào gặp thiên tai, hoạn nạn, hoàn cảnh
sống khó khăn đúng với truyền thống đạo lí của dân tộc:
“Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”
• Ảnh hưởng qua tục cúng rằm, mùng một và lễ chùa.
Theo đúng truyền thống tập tục cúng rằm mùng một là tập tục cúng sóc
vọng, tức là ngày mặt trăng mặt trời thông suốt nhau, cho nên tổ tiên, thần thánh có
thể liên lạc, thông thương với con người, sự cầu nguyện sẽ đạt tới sự cảm ứng với
các cõi giới khác và sự cảm thông sẽ được thiết lập là ngày trong sạch để các vị
tăng kiểm điểm hành vi của mình, gọi là ngày Bồ tát và ngày sám hối, người tín đồ
về chùa để tham dự lễ sám hối, cầu nguyện bo ác làm lành và sửa đổi thân tâm.
Theo quan niệm của Phật giáo và sự ảnh hưởng mạnh mẽ của thuyết nhân
quả, thì những người con dân dù theo Phật hay không theo Phật thì người ta vẫn
luôn có niềm tin rằng làm việc thiện sẽ gặp điều thiện, làm việc ác sẽ gặp điều

mọi người Việt Nam. Mọi người dù là những tín đồ Phật giáo hay đơn thuần chỉ
là những người ngoài cuộc, nhưng khi nói đến nhân quả dường như tất cả đều
tin tưởng và chấp nhận. Điều đó đã được thể hiện rõ nét qua lời ăn tiếng nói của
mọi người dân Việt.
Trong cuộc sống xã hội ngày càng phát triển như hiện nay, đời sống ngày
càng nâng cao thì lời ăn tiếng nói là một sức mạnh vô song. Ta thấy có người
khi nói dù chỉ một lời nói ai nghe cũng ưa, cũng thương mến, có cảm tình, tin
tưởng và cũng đều nghe là làm theo. Cũng có người khi nói làm cho người nghe
khó chịu, bực bội. Do vậy lời ăn tiếng nói hàng ngày mang đạm tính chất của
nhân quả và nghiệp báo trong Đạo Phật. Lời ăn tiếng nói phải đúng phép để
tránh nghiệp dữ do lời nói gây ra.

23


Lời nói có tác động lợi hoăc hại, tốt hoặc xấu có thể sảy ra ngay sau tức
thì, cũng có thể để lại hậu quả cho sau này hoặc kiếp sau. Lời nói có thể là
nghiệp lành nếu lời nói gây ra những hậu quả tốt làm lợi cho người khác hoặc
cho cộng đồng. Lời nói có thể là nghiệp ác nếu lời nói gây ra những hậu quả xấu
làm hại cho người khác hoặc làm hại cho cộng đồng.
Lời nói được thể hiện trong các quan hệ giao lưu giữa gia đình, bạn bè,
hàng xóm, láng giềng, quan hệ làm ăn, buôn bán, quan hệ chủ tớ, quan hệ giao
lưu với các tổ chức, đoàn thể chính quyền… Trong quan hệ đó, có khi chỉ cần
một lời nói mà làm hong việc lớn, có khi chỉ cần một câu nói mà bị vạ lây, bị
kiện tụng, thậm chí là bị tù tội chỉ vì người nghe không vừa tai, nên đặt điều vu
cáo. Tai họa xảy ra thường là do lời nói gây lên tác hại.
Trong quan hệ gia đình : Người con không được ăn nói hỗn láo với cha
mẹ, không được nặng lời, đôc ác với cha mẹ. Đạo lý làm con phải phụng dưỡng
cha mẹ không chỉ hành động chăm sóc đời sống mà cả lời ăn tiếng nói hàng
ngày cũng tuân theo đạo lý làm con. Trong xã hội Việt nam hiện nay, cuộc sống

Người nói dối vì khoe khoang thường là kẻ ham danh, thích địa vị, thích
mọi người nể phục mình, cho mình là thông minh tài gioi hơn người .
Người nói dối vì vụ lợi thường là kẻ tham lam, thích tiền tài, ham giàu
một cách không chính đáng, làm giàu không bằng sức lao động và tài năng trí óc
của mình. Họ ham lợi chỉ vì lợi nhuận mà mắc tội nói dối tội lừa lọc.
Mỗi lời nói của chúng ta nói ra là một kết quả mà chúng ta nhận được.nếu
chúng ta luôn nói đúng, giữ đúng lời nói và làm những gì mình nói thì chúng ta
đã đạt được một kết quả cao chính đáng với sức lao động của mình. Luôn tôn
trọng lời nói của cha mẹ, và mọi người xung quanh thì sẽ tạo cho ta một cuộc
sống yên vui và hạnh phúc và được mọi người kính nể.
Lời nói khi được nói ra thì cần phải có trách nhiệm. Trong cuộc sống
ngoài những lời nói trong quan hệ ngoại giao bình thường giữa con người với
con người, còn có những lời nói của những người có trách nhiệm vơi vận mệnh
của một cá nhân một tập thể, một địa vị, hoặc với cả một đất nước. Những lời
nói của những người như thế phải có chính pháp mới đạt được thành tựu mong

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status