Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing xuất khẩu tại Công ty Cổ Phần Ong Mật Đồng Nai đến năm 2020 - Pdf 34

1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do thực hiện đề tài
Mật ong là chất ngọt không lên men, do ong lấy mật hoa hoặc dịch tiết từ bộ
phận sống khác trên cây chế tạo ra, sau khi kiếm về chế biến và trộn với những chất
liệu đặc biệt rồi bảo quản đạt độ chín trong bánh tổ mật. Mật ong và các sản phẩm
từ ong khá đa dạng và có giá trị, được sử dụng một cách rộng rãi trong đời sống xã
hội, từ các sản phẩm thô cho tới các sản phẩm tinh chế, từ lương thực thực phẩm
được sử dụng phổ biến trong đời sống hàng ngày của người dân cho tới các mặt
hàng dược phẩm cao cấp. Do đó, các sản phẩm này cũng chịu những quy định khá
chặt chẽ về tiêu chuẩn chất lượng trong khâu nuôi trồng, thu hoạch, bảo quản và chế
biến. Nuôi ong là một ngành sản xuất có giá trị lớn, nguồn hàng xuất khẩu thu lợi
nhuận rất cao và nhu cầu ngày càng tăng trên thị trường thế giới. Ngành sản xuất
ong có xu hướng phát triển mạnh trong các thập niên vừa qua tại nhiều địa phương
ở nước ta, trong đó có Đồng Nai.
Đồng Nai là một tỉnh miền Đông Nam Bộ thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió
mùa, có 2 khí hậu: mưa, nắng rõ rệt. Nhờ vậy cây trồng và thảm thực vật phát triển
quanh năm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi ong trong tỉnh và
các vùng lân cận. Cây trồng chủ yếu tạo nên nguồn mật là cao su chiếm khoảng
60.000 ha, cây chôm chôm 5.000 ha, cà phê và nhiều loại cây trồng khác như: bắp,
đậu, lúa, keo …và một số thảo mộc để phát triển ngành nuôi ong.
Vấn đề sản xuất, tiêu thụ mật ong trong và ngoài nước từ lâu đã là vấn đề
được các cấp lãnh đạo rất quan tâm. Theo thống kê, Việt Nam hiện đứng thứ sáu về
xuất khẩu mật ong trên thế giới và thứ hai ở châu Á. Năm 2011, ngành nuôi ong sản
xuất được trên 30.000 tấn mật ong, trong đó xuất khẩu đạt 27.000 tấn với kim ngạch
gần 80 triệu USD.
Mật ong có nhiều giá trị về dinh dưỡng cũng như giá trị kinh tế và lợi thế
nguồn mật như vậy mà xuất khẩu mật ong của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế,
chưa được phát triển mạnh, giá cả còn thấp, hiệu quả mang lại chưa cao. Điều đó
cho thấy chắc chắn ta còn nhiều mặt yếu xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau.

công ty.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp xử lý số liệu tại bàn : thu thập và phân tích số liệu qua các báo

cáo và tài liệu của Công ty. Các số liệu sau khi thu thập sẽ so sánh, phân tích, tổng
hợp thông qua các kỳ báo cáo.
Các phương pháp thống kê: phương pháp so sánh, phương pháp phân tích,
phương pháp tổng hợp và phương pháp điều tra thực tế.
Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Sử dụng bảng câu hỏi đã được soạn
trước để phỏng vấn các chuyên gia, những nhà quản lý của Công ty Cổ Phần Ong
Mật Đồng Nai và một số nhà quản lý có kinh nghiệm nghiên cứu trong cùng lĩnh
vực.


3

5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận của marketing xuất nhập khẩu.
Chương 2. Thực trạng hoạt động marketing xuất khẩu tại Công ty Cổ Phần Ong
Mật Đồng Nai
Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing xuất khẩu tại Công ty
Cổ Phần Ong Mật Đồng Nai đến năm 2020.


4

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING XUẤT NHẬP KHẨU.
1.1.


và có khái niệm sau:


5

Marketing xuất khẩu (Export Marketing): Là hoạt động marketing nhằm
giúp các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm ra thị trường bên ngoài. Như vậy,
marketing xuất khẩu khác marketing nội địa bởi nhà marketing xuất khẩu phải
nghiên cứu các nền kinh tế mới, kể cả chính trị, luật pháp, môi trường văn hóa – xã
hội đều khác với các điều kiện, môi trường trong nước. Điều này buộc doanh nghiệp
phải thay đổi chương trình marketing thích ứng với những môi trường mới để sản
phẩm có thể thâm nhập được vào thị trường nước ngoài.
1.2.

CHỨC NĂNG CỦA MARKETING XUẤT NHẬP KHẨU.

Xuất phát từ sự khác biệt giữa thị trường nước ngoài với thị trường nội địa và
giữa các thị trường nước ngoài với nhau, để đảm bảo lợi ích tối đa cho doanh
nghiệp, marketing xuất khẩu thực hiện những chức năng cơ bản:
 Thiết lập hệ thống quan sát hữu hiệu, tập hợp các thị trường để nhận biết
một cách nhanh chóng các biến động và nếu có thể thì dự báo trước các
biến động đó.
 Xác lập khả năng phản ứng nhanh đối với các điều kiện đặc biệt và đồng
thời là khả năng thích nghi nhanh chóng từ phía dịch vụ hành chính.
 Thiết lập được hệ thống theo dõi kết quả và kiểm tra hiệu quả các hoạt
động đã cam kết bất chấp những khó khăn phát sinh do sự khác biệt về
môi trường kế toán, sự biến động về tiền tệ và khác biệt về “văn hóa quản
lý doanh nghiệp”.
 Hình thành khả năng sáng tạo và áp dụng những thay đổi trong kỹ thuật
thu thập, xử lý thông tin và kỹ thuật hoạt động trên thị trường để bao quát

xuống và có thể gặp khó khăn trong cạnh tranh.

-

Làm cho sản phẩm thích ứng với điều kiện từng thị trường nước ngoài:
bằng cách thiết kế lại mẫu mã, kiểu dáng, bao bì nhằm tăng thêm sức hấp
dẫn. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải chấp nhận thêm các chi phí về nghiên
cứu và phát triển sản phẩm.

-

Sáng tạo sản phẩm mới: với chính sách này đòi hỏi các doanh nghiệp
luôn phải sáng tạo ra những sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu thị
trường để tồn tại và phát triển.

 Bao bì hàng hóa xuất khẩu: bao bì luôn gắn liền với sản phẩm vì vậy nó phải
phù hợp với tập quán về văn hóa, sở thích, thói quen, quy định luật pháp của
thị trường nước ngoài. Ngoài ra, bao bì đòi hỏi phải giữ được chất lượng
hàng hóa, bảo vệ sản phẩm, …Bên cạnh đó, bao bì còn có tác dụng quảng
cáo và có thể làm tăng giá trị của sản phẩm.
 Nhãn hiệu hàng hóa: có mục đích truyền đạt thông tin đến người tiêu dùng
nhằm giúp khách hàng tránh nhầm lẫn với các sản phẩm khác đồng thời nó
cũng ràng buộc các nhà sản xuất với các sản phẩm của mình. Nhãn hiệu đòi
hỏi phải rõ nét, đặc trưng về biểu tượng, màu sắc hấp dẫn người mua. Nội
dung nhãn hiệu cần thể hiện rõ: xuất xứ hàng hóa, tên và địa chỉ nhà sản
xuất, thành phần cấu tạo, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, tiêu chuẩn đăng ký
chất lượng…


7

chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng nhằm đạt hiệu quả tối đa với chi
phí thấp nhất; là cầu nối giữa nhà sản xuất trong nước với người tiêu dùng nước
ngoài. Tuỳ thuộc vào tính chất của sản phẩm mà doanh nghiệp có thể tổ chức các


8

kênh phân phối khác nhau. Việc phân phối các sản phẩm quốc tế thường được thực
hiện qua các hình thức sau: bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng, bán buôn, bán
lẻ, bán qua các đại lý, bán qua các chi nhánh, cửa hàng…
Và chính sách phân phối sản phẩm xuất khẩu phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
-

Môi trường: chính trị, văn hóa, tập quán, thói quen tiêu dùng…

-

Khả năng công ty xuất khẩu: về tài chính, nhãn hiệu sản phẩm và các
hoạt động marketing để tiếp cận những nhà nhập khẩu cũng như hệ thống
phân phối ở nước ngoài.

-

Những đặc điểm sản phẩm: mỗi loại sản phẩm đều có tính chất lý hóa
nhất định, do đó cần chọn kênh phân phối thích hợp.

1.3.4. Chính sách xúc tiến sản phẩm quốc tế.
Khuyếch trương hay truyền thông Marketing bao gồm các hoạt động chủ yếu
là quảng cáo, yểm trợ sản phẩm và xúc tiến. Các hoạt động này nhằm mục tiêu cung
cấp và truyền các thông tin cần thiết về sản phẩm cho khách hàng và nhà cung cấp.

và nhân khẩu

Trung gian
marketing

Môi trường công nghệ
và tự nhiên
Hệ thống lập kế
hoạch
marketing

Hệ thống thông
tin marketing
Sản phẩm

Người
cung ứng

ông
Phân
phối

Khách hàng
mục tiêu
Xúc tiến
hỗn hợp

Hệ thống
kiểm tra
marketing

khả năng cạnh tranh trên thị trường mạnh hay yếu, văn hóa tổ chức tốt hay chưa
tốt,… đều xuất phát từ con người.
Để giúp doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu
quả lâu dài, có khả năng xây dựng và phát triển tổ chức bền vững, nhà quản trị cần
có những tiêu chuẩn căn bản là: kiến thức, các kỹ năng (chuyên môn, tư duy) và đạo
đức nghề nghiệp. Nói cách khác, nhà quản trị cần phải có Tài và Đức để lèo lái
doanh nghiệp thành công trên con đường phát triển. Bên cạnh đó, số lượng và chất


10

lượng công nhân viên cũng ảnh hưởng đến kế hoạch marketing xuất khẩu của công
ty.
Việc phân tích cần xem xét và đánh giá những khía cạnh cơ bản sau: các kỹ
năng chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp trong hành vi ứng xử và những kết quả đạt
được trong quá trình thực hiện các chức năng quản trị và những lợi ích mà nhà quản
trị mang lại cho doanh nghiệp.
1.4.1.2.

Nguồn lực vật chất.

Nguồn lực vật chất bao gồm nhiều yếu tố như: vốn sản xuất, nhà xưởng, máy
móc thiết bị, nguyên vật liệu dự trữ,… Những yếu tố này có vai trò làm giảm chi
phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm góp phần tạo ra các sản phẩm có lợi thế
cạnh tranh.
Phân tích và đánh giá các yếu tố này để xác định khả năng hỗ trợ vào việc
nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhiều hay ít, có
điều kiện thuận lợi hay khó khăn trong việc đáp ứng các nhu cầu luôn thay đổi của
khách hàng trong quá trình cạnh tranh. Việc phân tích và đánh giá đúng mức các
nguồn lực vật chất là cơ sở quan trọng giúp nhà quản trị các Doanh nghiệp hiểu

khả năng cạnh tranh lâu dài của doanh nghiệp. Để có thể cạnh tranh và đứng vững
được trên thị trường trong và ngoài nước lâu dài, các doanh nghiệp cần quan tâm
đúng mức việc hình thành và phát triển các giá trị trong văn hóa tổ chức. Vì vậy,
các nhà quản trị, nhất là nhà quản trị cấp cao phải có vai trò tích cực trong việc tiến
hành phân tích các giá trị văn hóa tổ chức hiện tại, không ngừng củng cố và nâng
cao các giá trị này trong tương lai.
1.4.2. Môi trƣờng bên ngoài.
1.4.2.1.

Môi trƣờng vĩ mô

Môi trường nhân khẩu học
Nhân khẩu học nghiên cứu các vấn đề về dân số và con người như quy mô,
mật độ, phân bố dân cư, tỷ lệ sinh, tỷ lệ tử, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp...Môi
trường nhân khẩu học là mối quan tâm lớn của các nhà hoạt động thị trường, bởi vì
nó bao hàm con người và con người tạo ra các loại thị trường cho doanh nghiệp.
Các nhà marketing thường quan tâm tới môi trường nhân khẩu trước hết là ở
quy mô và tốc độ tăng dân số. Bởi vì, hai chỉ tiêu đó phản ảnh trực tiếp quy mô nhu
cầu tổng quát trong hiện tại và tương lai và do đó nó cũng phản ảnh sự phát triển
hay suy thoái của thị trường. Ngoài ra các chỉ tiêu khác về tỷ lệ sinh, giới tính, nghề
nghiệp...và sự biến động của các chỉ tiêu đó cũng ảnh hưởng đến hoạt động
marketing của doanh nghiệp mà khi hoạch định các chương trình marketing các nhà
quản trị marketing cần đặc biệt quan tâm.
Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế có ảnh hưởng quyết định đến hoạt động marketing xuất
khẩu. Nó quyết định sức hấp dẫn của thị trường nước ngoài thông qua việc phản
ánh tiềm năng thị trường và hệ thống cơ sở hạ tầng của một quốc gia. Việc xác định
và đánh giá mức độ hấp dẫn của thị trường có thể căn cứ vào những yếu tố sau:



cho phép nắm bắt hành vi, thái độ, sở thích...liên quan đến sản phẩm và đến hoạt
động marketing xuất khẩu của một doanh nghiệp.


13

Văn hóa bao gồm nhiều yếu tố như: ngôn ngữ và sự truyền tin, tôn giáo, giá
trị và thái độ, phong cách và phong tục, yếu tố vật chất, yếu tố thẩm mỹ, yếu tố giáo
dục, yếu tố cơ cấu xã hội.
Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên bao gồm nhiều thành tố có ảnh hưởng nhiều hay ít đối
với hoạt động của các tổ chức nói chung và doanh nghiệp nói riêng. Các yếu tố tiêu
biểu như: thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng, tài nguyên thiên nhiên,... ảnh hưởng đến
sản lượng, vùng nguyên liệu, đến quyết định về chiến lược kinh doanh của doanh
nghiệp. Những yếu tố này vừa là cơ hội để con người khai thác, tạo ra các nguồn
lực mới phục vụ các nhu cầu của con người. Bên cạnh đó, chúng có thể là những
nguy cơ mà con người luôn phải có giải pháp đối phó để tồn tại và thích nghi với
những biến đổi liên tục của môi trường thiên nhiên. Do đó, tùy theo phạm vi hoạt
động, các nhà quản trị chiến lược cần có đầy đủ những thông tin về các yếu tố thiên
nhiên có ảnh hưởng nhằm có giải pháp chiến lược thích hợp.
Môi trường chính trị- pháp luật
Môi trường chính trị - pháp luật có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động
marketing xuất khẩu và thường được nghiên cứu theo 2 phương diện.
 Môi trường của nước xuất khẩu:
Môi trường này có ảnh hưởng đến marketing xuất khẩu của các công ty xuất
khẩu thông qua việc tạo cơ hội xuất khẩu, áp dụng các biện pháp bảo vệ xuất khẩu,
hình thành các khu vực sản xuất cho xuất khẩu. Các yếu tố cơ bản của môi trường
chính trị- pháp luật của nước xuất khẩu bao gồm: Cấm vận và trừng phạt kinh tế,
kiểm soát xuất khẩu (kích thích, yểm trợ, quản lý và hạn chế xuất khẩu), kiểm soát
nhập khẩu: thuế, giấy phép, điều tiết hành vi kinh doanh quốc tế

nghiệp,... Trên cơ sở đó, các nhà quản trị chiến lược sẽ quyết định cải tiến, nghiên
cứu và ứng dụng công nghệ thích hợp với những ngành kinh doanh hiện tại, tận
dụng các cơ hội mới về công nghệ để đa dạng hóa sản phẩm và phát triển các ngành
hàng mới,... nhằm tạo lợi thế cạnh tranh lâu dài trên thị trường trong và ngoài nước.
Yếu tố công nghệ tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, vừa là cơ hội để ứng dụng và nâng cao chất lượng sản phẩm, vừa là nguy cơ
khi mà yêu cầu đối với sản phẩm của khách hàng ngày càng khắt khe. Khi nhận
diện thực tế để đánh giá khả năng thích nghi của từng doanh nghiệp với các yếu tố
công nghệ có ảnh hưởng đến các tiến trình hoạt động, các nhà quản trị có thể xác
định được các yếu tố này đang là cơ hội hay nguy cơ đối với doanh nghiệp.
1.4.2.2.

Môi trƣờng vi mô

Đối thủ cạnh tranh
Nhìn chung mọi công ty đều phải đối đầu với các đối thủ cạnh tranh khác
nhau. Đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của công ty tại thị
trường nước ngoài đặc biệt là các doanh nghiệp Việt Nam, những người đến sau. Vì
vậy, doanh nghiệp cần chú ý không những đến các đối thủ hiện tại mà còn phải
nghiên cứu cả các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn trên các phương diện: chiến lược kinh
doanh, chiến lược marketing, điểm mạnh, điểm yếu...của đối thủ.
Khách hàng
Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định
sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Bởi vì khách hàng tạo nên thị trường,
quy mô khách hàng tạo nên quy mô thị trường. Vì vậy, doanh nghiệp phải thường
xuyên theo dõi khách hàng và tiên liệu những biến đổi về nhu cầu của họ. Để việc
nắm và theo dõi thông tin về khách hàng nước ngoài, doanh nghiệp thường tập
trung vào các loại thị trường khách hàng như sau:



- Những người môi giới thương mại: đó là những người hỗ trợ công ty tìm
kiếm khách hàng hay trực tiếp bán sản phẩm của công ty cho những khác hàng đó.
Ưu điểm của họ là có khả năng tài chính và trình độ chuyên môn cao nên tạo thuận
tiện về địa điểm, thời gian và thủ tục mua hàng cho khách hàng. Nhưng khi sử dụng


16

những người môi giới thương mại thì khả năng tiếp xúc trực tiếp với người mua
nước ngoài của công ty bị hạn chế.
- Các công ty chuyên tổ chức lưu thông hàng hóa họ tạo ra lượng dự trữ sản
phẩm và vận chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi cần thiết, đảm bảo tích trữ và
bảo quản hàng hóa trên đường đưa chúng đến nơi cần thiết.
- Các tổ chức dịch vụ marketing là những công ty nghiên cứu marketing,
những công ty quảng cáo... giúp công ty sản xuất định hướng chính xác hơn và đưa
hàng đến những thị trường thích hợp.
- Các tổ chức tài chính - tín dụng như ngân hàng, các công ty tín dụng, các
công ty bảo hiểm...hỗ trợ công ty đầu tư cho các thương vụ và bảo hiểm cho những
rủi ro của hàng hóa.
Công chúng trực tiếp
Đó là bất kỳ một nhóm, một tổ chức nào có mối quan tâm thực sự hoặc có
thể sẽ quan tâm hay ảnh hưởng tới khả năng đạt được các mục tiêu của doanh
nghiệp. Các giới công chúng sẽ ủng hộ hoặc chống lại các quyết định marketing của
doanh nghiệp, do đó có thể tạo thuận lợi hay gây khó khăn cho doanh nghiệp. Để
thành công, doanh nghiệp phải phân loại và thiết lập mối quan hệ đúng mức với
từng nhóm công chúng trực tiếp. Người ta thường phân thành 3 loại:
- Công chúng tích cực là nhóm quan tâm tới doanh nghiệp với thái độ thiện
chí.
- Công chúng tìm kiếm là nhóm mà công ty đang tìm sự quan tâm của họ.
- Công chúng không mong muốn là nhóm mà doanh nghiệp cố gắng thu hút

để đánh giá khách quan các giải pháp khả thi có thể được lựa chọn để từ đó chọn ra
giải pháp phù hợp nhất.
1.5.1. Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong – IFE.
Sau khi phân tích tình hình nội bộ thì việc cuối cùng là xây dựng ma trận
đánh giá các yếu tố bên trong. Ma trận IFE tóm tắt và đánh giá những mặt mạnh yếu
của các bộ phận kinh doanh chức năng, đồng thời cung cấp cơ sở để xác định và
đánh giá mối quan hệ giữa các bộ phận này. Ma trận được tiến hành theo 5 bước:
Bước 1: Lập danh mục từ 10 đến 20 yếu tố bao gồm những điểm mạnh và
điểm yếu ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp.
Bước 2: Xác định mức quan trọng cho mỗi yếu tố từ không quan trọng (0,0)
đến quan trọng nhất (1,0). Tầm quan trọng được ấn định cho mỗi yếu tố nhất định
cho thấy mức quan trọng tương đối của yếu tố đối với kết quả hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Tổng cộng của tất cả các mức độ quan trọng này phải bằng 1,0.
Bước 3: Phân loại cho các yếu tố: 4 là điểm mạnh nhiều, 3 cho điểm mạnh ít,
2 là điểm yếu ít và 1 là điểm yếu nhiều. Sự phân loại này dựa trên cơ sở doanh
nghiệp.


18

Bước 4: Điểm quan trọng = mức quan trọng * phân loại
Bước 5: Cộng tổng số điểm quan trọng của tất cả các yếu tố để xác định tổng
số điểm quan trọng của ma trận.
Tổng số điểm của ma trận nằm trong khoảng từ 1 đến 4 điểm, sẽ không phụ
thuộc vào số lượng các yếu tố trong ma trận. Nếu tổng số điểm dưới 2,5 thì doanh
nghiệp yếu về nội bộ, ngược lại tổng số điểm trên 2,5 thì doanh nghiệp mạnh về nội
bộ.
1.5.2. Ma trận hình ảnh cạnh tranh.
Ma trận hình ảnh cạnh tranh so sánh giữa doanh nghiệp với các đối thủ cạnh
tranh chủ yếu dựa trên các yếu tố ảnh hưởng đến các khả năng cạnh tranh của các

quan trọng của các yếu tố phải bằng 1,0.
Bước 3: Phân loại từ 1 đến 4 cho từng yếu tố ảnh hưởng đến mức độ phản
ứng của doanh nghiệp đối với các yếu tố này. Trong đó 4 là phản ứng tốt, 3 là phản
ứng trên trung bình, 2 là phản ứng trung bình và 1 là ít phản ứng.
Bước 4: Điểm quan trọng của từng yếu tố = mức quan trọng * phân loại
Bước 5: Cộng tất cả các số điểm về tầm quan trọng của các yếu tố để xác
định tổng số điểm của ma trận.
Tổng số điểm của ma trận nằm trong khoảng từ 1 đến 4 điểm, sẽ không phụ
thuộc vào số lượng các yếu tố trong ma trận. Nếu tổng số điểm là 2,5 thì doanh
nghiệp phản ứng trung bình với những cơ hội và nguy cơ.
1.5.4. Ma trận SWOT.
Ma trận SWOT liệt kê tất cả các cơ hội, các nguy cơ, các điểm mạnh và điểm
yếu trong nội bộ doanh nghiệp, theo thứ tự và vị trí thích hợp. Căn cứ vào mối quan
hệ giữa các yếu tố, các nhà quản trị sẽ tiến hành lựa chọn những giải pháp phù hợp
thông qua việc kết hợp điểm mạnh – cơ hội (S – O), điểm mạnh – nguy cơ (S – T),
điểm yếu – cơ hội (W – O), điểm yếu – nguy cơ (W – T). Ma trận SWOT thường
đưa ra 4 nhóm giải pháp cơ bản:
S – O : Các giải pháp dựa trên điểm mạnh của doanh nghiệp để khai thác các
cơ hội bên ngoài.
S – T : Các giải pháp dựa trên điểm mạnh của doanh nghiệp để hạn chế các
nguy cơ từ bên ngoài.
W – O : Các giải pháp này giảm điểm yếu bên trong nội bộ để tận dụng các
cơ hội bên ngoài.
W – T : Các giải pháp này giảm điểm yếu bên trong nội bộ để hạn chế các
nguy cơ từ bên ngoài.


20

Các nhà quản trị không bao giờ xem xét tất cả các giải pháp khả thi có lợi

và nhu cầu ngày càng tăng trên thị trường thế giới. Ngành sản xuất ong có xu hướng
phát triển mạnh trong các thập niên vừa qua tại nhiều địa phương ở nước ta. Nhưng
do kỹ thuật nuôi và quản lý đàn ong còn nhiều hạn chế nên năng suất mật còn thấp.
Nếu quản lý tốt đàn ong theo mùa vụ có thể tăng năng suất mật lên 2-3 lần.


21

Xưa kia việc khai thác mật ong đơn giản: gác kèo đối với loại ong khoái (tên
khoa học là Apis Dorsata) hoặc nuôi ong trong bọng cây, đối với loại ong ruồi (Apis
Florea) hoặc ong nội địa (Apis Cerena). Ngày nay việc nuôi ong trong thùng với cầu
di động (kiểu thùng Langstroth) "mang tính chất công nghiệp" được phát triển rộng
rãi. Cầu ong làm bằng sáp có đục lỗ sẵn để ong làm tổ đẻ trứng. Mỗi thùng ong có
10 cầu. Tuy nhiên việc nuôi ong trong thùng với cầu di động chỉ thực hiện được với
giống ong nội địa (Apis Cerena), còn những giống ong khác vẫn phải khai thác theo
điều kiện tự nhiên.
Việt Nam thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với điều kiện thiên nhiên ưu
đãi. Nhờ vậy cây trồng và thảm thực vật phát triển quanh năm tạo điều kiện thuận
lợi cho việc phát triển nghề nuôi ong. Cây trồng chủ yếu tạo nên nguồn mật là mật
ong, cây chôm chôm, cà phê và nhiều loại cây trồng khác như: bắp, đậu, lúa, keo
…và một số thảo mộc để phát triển ngành nuôi ong.
Ở những năm đầu thập niên 90, Việt Nam đã bắt đầu xuất khẩu mật ong với
số lượng rất ít chỉ khoảng vài chục tấn một năm. Ngành ong mật Việt Nam hoàn
toàn mang tính nhỏ, lẻ và lạc hậu so với sự phát triển của ngành ong mật trên thế
giới. Ngày nay, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu mật ong
có uy tín trên thị trường thế giới với sản lượng 27.000 tấn/năm với kim ngạch gần
80 triệu USD. Năm 2011, cả nước sản xuất được trên 30.000 tấn mật ong. Việt Nam
hiện đứng thứ 6 trên thế giới, thứ 2 châu Á về xuất khẩu mật ong.
Năm 2011 nền kinh tế toàn cầu gặp nhiều khó khăn biến động, ảnh hưởng
lớn đến thị trường tiêu thụ mật ong trên toàn thế giới. Việt Nam chủ yếu xuất khẩu

Tiêu thụ trong nước hàng năm chỉ chiếm từ 10 - 15 % tổng sản lượng sản
phẩm. Bên cạnh đó, việc tiêu thụ bán lẻ cũng gặp nhiều khó khăn như mức thu nhập
còn thấp, do thói quen sử dụng mật ong của người dân chưa phổ biến, kỹ thuật và
nhận thức của người nuôi ong còn hạn chế.
Một vùng trồng cây nguồn mật, phấn thuận lợi cho nuôi ong nhưng không sử
dụng carbendazim sẽ được xúc tiến xây dựng. Việt Nam đang cố gắng để giải quyết
vấn đề mật ong có tồn dư carbendazim bằng cách
 Mở rộng thị trường xuất khẩu khác ngoài Mỹ.
 Làm việc với những người nông dân trồng những loại cây trồng công
nghiệp để ngăn ngừa việc sử dụng carbendazim.
 Phát triển việc thu hoạch những loại mật ong từ những cây trồng không
cần phun thuốc trừ nấm carbendazim.
 Làm việc với Cục quản lý Dược phẩm và Thực phẩm để có thể đề xuất
mức tồn dư carbendazim hợp lý hoặc lùi thời gian áp dụng.


23

 Chỉ chuyển đàn ong đến nguồn mật, phấn sau khi nông dân đã hoàn thành
việc phun thuốc trừ nấm.
Ngày nay, việc xuất khẩu mật ong đến các thị trường khó tính như châu Âu,
Mỹ không còn là việc quá khó. Ngành ong mật đang phấn đấu nâng cao trình độ sản
xuất, quản lý chất lượng để đủ khả năng đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị
trường. Mật ong Việt Nam đã thực sự có uy tín về chất lượng cũng như số lượng
trên thị trường mật ong thế giới.

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Trong chương 1, tác giả chủ yếu đề cập các cơ sở lý luận cơ bản của đề tài có thể
tóm tắt một số điểm chính sau:
 Trình bày cơ sở lý luận về marketing xuất khẩu.

Công ty Cổ phần Ong mật Đồng Nai có tên giao dịch đối ngoại là: DongNai
Honeybee Corporation (APIDONA), trụ sở hiện đang đặt tại: 143 Phạm Văn Thuận,
Phường Thống Nhất, TP.Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai. Ngay từ khi mới ra đời và nhất
là kể từ khi chuyển sang Công ty Cổ phần, thì vấn đề chất lượng và uy tín là tôn chỉ
luôn được Công ty đặt lên hàng đầu. Chính vì vậy, trong những năm qua, mặc dù
nền kinh tế thế giới chịu nhiều biến động do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh
tế tại Mỹ và các quốc gia vùng châu Á - Thái Bình Dương; đồng thời việc kinh
doanh xuất khẩu của các Công ty trong nước gặp nhiều khó khăn bởi sự cạnh tranh
khốc liệt từ các quốc gia khác trên thế giới, nhưng hoạt động sản xuất - kinh doanh
của Công ty Cổ phần Ong mật Đồng Nai vẫn rất ổn định.
Đặc biệt, nhờ xử lý thông tin giá cả thị trường kịp thời và thường xuyên tổ
chức hướng dẫn, hỗ trợ và phối hợp tốt với các chủ trại nuôi ong theo hướng sạch,
đảm bảo an toàn, chất lượng cao, nên các sản phẩm mật ong xuất khẩu của Công ty
luôn được thị trường thế giới chấp nhận, trong đó có cả các thị trường khó tính, có
yêu cầu khắt khe nhất về chất lượng sản phẩm như thị trường Bắc Mỹ, EU và Nhật
Bản. Riêng trong 5 năm gần đây, bình quân mỗi năm Công ty Cổ phần Ong mật
Đồng Nai đã xuất sang thị trường các nước nói trên hơn 3.000 tấn mật và khoảng
100 tấn sáp ong, đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 6,0 triệu USD/năm.
Bên cạnh việc xuất khẩu, trong những năm qua, Công ty Cổ phần Ong mật
Đồng Nai còn quan tâm sản xuất một khối lượng lớn các sản phẩm đặc trưng như:


25

mật ong nguyên chất, mật ong nghệ, sữa ong chúa, phấn hoa,... để cung cấp cho nhu
cầu tiêu dùng trên thị trường nội địa. Hiện nay, lực lượng lao động chủ yếu tại Công
ty cổ phần ong mật Đồng Nai rất gọn nhẹ: chỉ có 72 người, nhưng đã tạo dựng được
mối quan hệ bền vững với hơn 450 trại nuôi ong và tạo công ăn việc làm cho hơn
2.000 lao động ở nông thôn, góp phần mang lại lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội tại
các địa phương.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status