1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập kinh tế như hiện nay, các doanh nghiệp đòi hỏi ngày
càng cao tay nghề của nhân viên để đáp ứng được yêu cầu công việc của doanh
nghiệp mình. Trong đó có nhân viên kế toán, những người giúp cho nhà quản trị của
doanh nghiệp nắm được tình hình tài chính của doanh nghiệp từ đó đưa ra các quyết
định quản trị phù hợp.
Đặc biệt khi nền kinh tế đang chịu ảnh hưởng của hậu khủng hoảng, các
doanh nghiệp làm ăn gặp nhiều khó khăn như hiện nay, thì hầu hết các doanh
nghiệp đều muốn tiết kiệm các khoản chi phí từ đào tạo lại nhân viên, nhưng vẫn
phải đảm bảo chất lượng công việc.
Nhận thức được thực tiễn Khoa Kế toán - Quản trị của Trường Cao Đẳng
Nghề Lilama 2 đã không ngừng nâng cao về chuyên môn, nghiệp vụ cũng như kết
hợp nhiều phương pháp giảng dạy tích cực. Tuy nhiên việc giảng dạy kế toán thực
hành hiện nay tại trường vẫn chưa mang lại hiệu quả cao. Với hướng phát triển nâng
tầm trường lên học viện thì việc xây dựng phòng thực hành kế toán sát với thực
tiễn là điều cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy tại Khoa và giúp cho
các bạn sinh viên sau khi ra trường đáp ứng được yêu cầu công việc tại doanh
nghiệp.
Để đáp ứng nhu cầu trên, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu là “Xây
dựng phòng thực hành kế toán doanh nghiệp tại Trƣờng cao đẳng nghề Lilama
2” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ. Với mong muốn xác định được các yếu tố tác
động trực tiếp đến việc xây dựng phòng thực hành kế toán, từ đó hình thành mô
hình thực hành kế toán phù hợp phục vụ nhu cầu giảng dạy tại Khoa Kế toán - Quản
trị và nhu cầu học tập, việc làm cho sinh viên của Khoa.
2. Tổng quan các đề tài nghiên cứu có liên quan
-
Võ Văn Nhị (2011), Xây dựng mô hình tổ chức kế toán cho doanh
ACMAN (2014).
Từ việc phân tích bản chất tài chính kế toán và khảo sát thực tế công việc kế
toán tại doanh nghiệp phòng kế toán ảo ACPro được mô phỏng và xây dựng thành 2
phần đó là mô hình ACPro và kho dữ liệu ACPro. Mô hình ACPro giúp học viên
được thực hành trực tiếp trên hệ thống chứng từ, sổ kế toán, báo cáo. Kho dữ liệu
ACPro là hệ thống dữ liệu kế toán của các doanh nghiệp tiêu biểu cho từng lĩnh vực
kinh doanh cụ thể.
3. Mục tiêu của đề tài
-
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về kế toán, thực hành kế toán và phòng
thực hành kế toán doanh nghiệp.
-
Đánh giá thực trạng công tác đào tạo thực hành kế toán doanh nghiệp tại
trường Cao Đẳng Nghề Lilama 2.
-
Khảo sát và xác định các yếu tố tác động trực tiếp đến việc xây dựng mô
hình kế toán thực hành trong giảng dạy tại Trường Cao Đẳng Nghề Lilama 2
3
-
Xây dựng phòng thực hành kế toán doanh nghiệp tại Trường Cao đẳng nghề
Lilama 2.
Qua nghiên cứu kết quả thu được sẽ giúp cho Ban lãnh đạo nhà trường, Khoa
Kế toán Quản trị nắm bắt được các yếu tố quan trọng trong việc giảng dạy
thực hành kế toán để từ đó có những định hướng, biện pháp cũng như là sự
đầu tư nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy cho ngành kế toán
hiện nay tại trường. Mặc khác cũng giúp cho các bạn sinh viên sau khi ra
trường có thể đáp ứng được nhu cầu về công việc tại các doanh nghiệp.
7. Mục đích của đề tài:
-
Phục vụ cho công tác giảng dạy chuyên ngành kế toán doanh nghiệp tại
Trường Cao đẳng nghề Lilama 2 theo hướng tiếp cận thực tế, khoa học và
chuyên nghiệp.
-
Tập trung nhiều vào thực hành chuyên môn.
-
Tạo môi trường làm việc giống phòng thực hành kế toán được tổ chức tại các
doanh nghiệp.
-
Tạo cơ hội cho sinh viên trau dồi kiến thức đã học qua việc đóng vai để giải
quyết các công việc cụ thể.
-
nghiệp.
9. Kết cấu dự kiến của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, phụ lục, danh mục, kết luận, tài liệu tham khảo,… bài
nghiên cứu khoa học này được chia thành 3 chương với nội dung như sau:
Chƣơng 1: Tổng quan về phòng thực hành kế toán doanh nghiệp trong
trƣờng học.
Chƣơng 2: Thực trạng công tác đào tạo thực hành kế toán doanh nghiệp
tại Trƣờng cao đẳng nghề Lilama 2
Chƣơng 3: Xây dựng phòng thực hành kế toán doanh nghiệp tại Trƣờng
cao đẳng nghề Lilama 2
5
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ PHÒNG THỰC HÀNH KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP
TRONG TRƢỜNG HỌC
Trong chương 1 này tác giả sẽ trình bày các vấn đề tổng quan về kế toán doanh
nghiệp và về phòng thực hành kế toán doanh nghiệp trong trường học. Các vấn đề
này đều đựa trên cơ sở lý thuyết cơ bản nhằm giúp đề tài có tính khoa học và chặt
chẽ đồng thời làm nền tảng để tiến hành phân tích thực trạng ở chương 2.
1.1 . Tổng quan về kế toán doanh nghiệp
1.1.1. Các khái niệm liên quan
Theo Điều lệ tổ chức kế toán nhà nước (ban hành kèm theo Nghị định
-
25/HĐBT, ngày 18/03/1989), khái niệm về kế toán của Việt Nam được định nghĩa
như sau “Kế toán là công việc ghi chép, tính toán bằng con số dưới hình thức giá
trị, hiện vật và thời gian lao động, chủ yếu dưới hình thức giá trị để phản ánh kiểm
6
-
Là một hệ thống tin phải có tính hữu dụng cho các đối tượng sử dụng
ở bên trong đơn vị nhằm thực hiện các chức năng quản trị và cho các đối tượng bên
ngoài có thể hiểu, đánh giá đúng tình hình tài chính và tình hình kinh doanh của đơn
vị nhằm thực hiện các quyết định kinh doanh.
-
Ngoài ra, khi nghiên cứu bản chất kết toán dưới khía cạnh khoa học
và nghệ thuật thì có thể thấy rằng khi nghiên cứu là một hệ thống thông tin trong hệ
thống quản lý thì đó là một khoa học về quá trình thu thập thông tin, xử lý, tổng hợp
và chuyển tải thông tin thông qua một hệ thống các phương pháp mang tính đặc thù.
Còn khi nghiên cứu kế toán dưới góc độ là một công cụ quản lý thì đó là một nghệ
thuật vận dụng công cụ này vào điều kiện cụ thể về môi trường pháp lý và kinh
doanh trong hoạt động của một tổ chức, để tạo ra những thông tin hữu ích cao cho
các đối tượng sử dụng.
Tóm lại dù nghiên cứu kế toán dưới góc độ nào thì bản chất của kế toán đều
phải được xác định rằng kế toán có hai chức năng là chức năng thông tin và chức
năng kiểm tra. Hai chức năng này gắn kết với nhau và tạo cho kế toán có vai trò đặc
biệt quan trọng đối với quản lý hoạt động kinh tế nói chung và quản lý hoạt động
của từng đơn vị kế toán nói riêng.
1.1.3. Vai trò của kế toán trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
Trước kia người ta thường quan niệm rằng công việc kế toán chẳng qua
là ghi chép và giữ sổ. Tuy nhiên, cùng với quá trình đổi mới, phát triển theo nền
kinh tế thị trường, hoà nhập kinh tế quốc tế, vị trí vai trò của kế toán ngày càng
+
Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo qui định của pháp luật.
- Nhiệm vụ của tổ chức hạch toán kế toán: để thực hiện được chức năng thông
tin và kiểm tra của mình, tổ chức hạch toán kế toán trong doanh nghiệp kinh doanh
thương mại phải thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
+
Lựa chọn hình thức tổ chức hạch toán kế toán thích hợp với quy mô
thông tin và trình độ cán bộ của đơn vị.
+
Xác định phương thức tổ chức bộ máy kế toán và xây dựng mô hình
tổ chức bộ máy kế toán phù hợp với điều kiện và đặc điểm kinh doanh của doanh
nghiệp.
+
Phân công lao động kế toán hợp lý.
+
Vận dụng hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán, hệ
thống báo cáo kế toán,…vào công tác kế toán hàng ngày một cách có hiệu quả nhất.
+
Xây dựng quy trình thu thập và xử lý thông tin khoa học, cung cấp
Giá gốc:
Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của tài sản được tính theo
số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của
tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận. Giá gốc của tài sản không được thay
đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể.
-
Phù hợp:
Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một
khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến
việc tạo ra doanh thu đó gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của kỳ trước
hoặc chi phí phải trả nhưng liên đến doanh thu của ký đó.
-
Nhất quán:
Các chính sách và phương pháp kế toán doanh nghiệp đã chọn phải được áp
dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm. Trường hợp có thay đổi chính
sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự
thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.
-
Thận trọng:
Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính
kế toán trong các điều kiện không chắc chắn. Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:
+ Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn;
+ Không đánh giá cao hơn giá trị của tài sản và các khoản thu nhập
dụng theo mục tiêu và yêu cầu quản lý. Thông qua hệ thống xử lý thông tin thì các
thông tin được thu thập qua hệ thống thông tin đầu vào sẽ được phân loại, xử lý và
hệ thống hóa để phản ánh được quá trình vận động, thay đổi của từng đối tượng kế
toán, từng mặt, từng quá trình và chu trình hoạt động khác nhau trong đơn vị kế
toán. Kết quả từ quá trình xử lý sẽ tạo ra nguồn dữ liệu cung cấp cho quá trình tổng
hợp để tạo ra thông tin đầu ra thích ứng.
-
Hệ thống thông tin đầu ra:
10
+ Là hệ thống thực hiện việc tính toán và tổng hợp số liệu được cung
cấp từ hệ thống xử lý, để hình thành một hệ thống các chỉ tiêu phản ánh tình hình tài
chính và tình hình hoạt động của đơn vị kế toán, thông qua hệ thống báo cáo kế toán
được quy định và được đơn vị kế toán thiết lập để phục vụ cho yêu cầu quản lý nội
bộ. Hệ thống thông tin đầu ra tạo ra những sản phẩm này sẽ được chuyển tải đến
cho các đối tượng sử dụng tương ứng thông qua các hình thức khác nhau.
+ Chất lượng của thông tin đầu ra được sử dụng để làm căn cứ đánh giá
chất lượng và hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống. Do vậy, để đạt được chất lượng
mong muốn thì tất cả các hệ thống con trong toàn hệ thống phải không ngừng được
xem xét, điều chỉnh và bổ sung trong mối liên hệ lẫn nhau để luôn luôn phù hợp với
môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh, điều kiện hoạt động và nhu cầu sử
dụng thông tin của các đối tượng sử dụng khác nhau.
+ Chất lượng của hệ thống thông tin kế toán nói chung và của từng hệ
thống con nói riêng đều phải được kiểm soát và đánh giá một cách kịp thời thông
qua hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị kế toán. Xây dựng và vận hành hệ thống
kiểm soát nội bộ phù hợp với đặc điểm hoạt động và quản lý của đơn vị kế toán, sẽ
có tác động tích cực đến việc tăng cường và bảo đảm chất lượng thông tin kế toán.
Ngược lại, với một hệ thống thông tin kế toán được nghiên cứu và tổ chức thực hiện
đơn
vị kế
toán
Hệ thống kiểm soát nội bộ
Tác động
[Nguồn: Xây dựng mô hình tổ chức kế toán cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt
Nam, 2011]
Sơ đồ 1.1: Hệ thống thông tin kế toán
1.1.7. Nội dung của tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp
1.1.7.1. Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán, tổ chức hạch toán ban
đầu và tổ chức luân chuyển chứng từ kế toán
Chứng từ kế toán là những giấy tờ và vật mang tin phản ánh
nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và đã hoàn thành, làm căn cứ ghi sổ kế toán.
Theo chế độ kế toán hiện hành, hệ thống chứng từ kế toán bao
gồm những chứng từ có tính chất bắt buộc phải tuân thủ và những chứng từ có tính
chất hướng dẫn để vận dụng.
Trên cơ sở hệ thống chứng từ kế toán, doanh nghiệp căn cứ vào
chế độ chứng từ kế toán hiện hành của nhà nước để quy định việc sử dụng các biểu
mẫu chứng từ ban đầu cho phù hợp với quy mô đặc điểm hoạt động, yêu cầu quản
lý của doanh nghiệp cũng như tính chất của từng loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở
doanh nghiệp. Từ đó tổ chức quy trình lập, luân chuyển và sử dụng chứng từ theo
trình tự:
-
Lập chứng từ kế toán và phản ánh các nghiệp vụ kinh tế vào chứng từ kế
toán
-
+ Loại tài khoản là chữ số đầu tiên của tài khoản trong loại tài khoản đó
+ Nhóm tài khoản là chữ số thứ 2 của tài khoản trong nhóm tài khoản đó
+ Tài khoản cấp 1 là chữ số thứ 3 của tài khoản
+ Tài khoản cấp 2 là những số thứ 4 của tài khoản
-
Hệ thống tài khoản kế toán chia làm 9 loại: (chi tiết phụ lục 1)
Loại 1: Tài sản lưu động
Loại 2: Tài sản dài hạn
Loại 3: Nợ phải trả
Loại 4: Nguồn vốn chủ sở hữu
Loại 5: Doanh thu
Loại 6: Chi phí sản xuất, kinh doanh
Loại 7: Thu nhập khác
Loại 8: Chi phí hoạt động khác
Loại 9: Xác định kết quả kinh doanh
13
Ngoài ra còn có tài khoản ngoại bảng loại 0 có 6 tài khoản cấp 1
Trên cơ sở hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp nhà nước ban hành để lựa chọn
những tài khoản kế toán thích hợp, từ đó xây dựng hệ thống tài khoản kế toán sử
dụng cho doanh nghiệp bao gồm những loại tài khoản cấp 1, tài khoản cấp 2,… để
phản ánh đầy đủ các hoạt động kinh tế tài chính trong doanh nghiệp, đáp ứng nhu
cầu thông tin và kiểm tra, phục vụ công tác quản lý của nhà nước và của doanh
nghiệp đối với các hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp.
1.1.7.3. Vận dụng hình thức kế toán
+
Hình thức nhật ký chung
Bảng tổng hợp
chi tiết
Sổ cái
Bảng cân đối số PS
Báo cáo tài chính
Ghi hàng ngày (định kỳ)
Ghi vào cuối tháng (hoặc định kỳ)
Đối chiếu, kiểm tra
[Nguồn: Quyết định 15/2006/QĐ-BTC, Hà Nội 20/03/2006]
Sơ đồ 1.2: Trình tự ghi chép theo hình thức nhật ký chung
-
Hình thức nhật ký – sổ cái
+ Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được kết hợp ghi chép theo trình thời gian và
theo nội dung kinh tế trên cùng một quyển sổ kế toán tổng hợp duy nhất là sổ
nhật ký – sổ cái.
+ Căn cứ để ghi vào sổ nhật ký sổ cái là các chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp
chứng từ gốc, mỗi chứng từ được ghi một dòng vào nhật ký – sổ cái.
+ Trình tự ghi chép
15
Chứng từ gốc
Sổ quỹ
Bảng tổng hợp
16
Chứng từ gốc
Bảng tổng hợp
chứng từ kế toán
cùng loại
Sổ quỹ
Sổ chi tiết
Chứng từ ghi sổ
Sổ đăng ký
CTGS
Sổ cái
Bảng tổng hợp
chi tiết
Bảng cân đối số
phát sinh
Báo cáo tài chính
Ghi hàng ngày (định kỳ)
Ghi vào cuối tháng (hoặc định kỳ)
Đối chiếu, kiểm tra
[Nguồn: Quyết định 15/2006/QĐ-BTC, Hà Nội 20/03/2006]
Bảng tổng hợp
chi tiết
Sổ cái
Báo cáo tài chính
Ghi hàng ngày (định kỳ)
Ghi vào cuối tháng (hoặc định kỳ)
Đối chiếu, kiểm tra
[Nguồn: Quyết định 15/2006/QĐ-BTC, Hà Nội 20/03/2006]
Sơ đồ 1.5: Trình tự ghi chép theo hình thức nhật ký chứng từ
1.1.7.4. Tổ chức công tác kế toán
Bản thân công tác kế toán bao gồm các công việc về chứng từ,
ghi sổ, tính giá và lập các báo cáo tài chính. Nhiệm vụ của tổ chức công tác kế toán
là tạo ra mối liên hệ giữa các công việc trong từng phần hành kế toán cụ thể. Mức
độ cụ thể hóa tùy thuộc vào quy mô của từng đơn vị cũng như số lượng nghiệp vụ
phát sinh. Tuy nhiên, về tổng thể trong một doanh nghiệp vừa sản xuất vừa thương
mại bao gồm các phần hành kế toán như sau:
-
Kế toán vốn bằng tiền
18
Kế toán vốn bằng tiền có nhiệm vụ phản ánh số hiện có và tình
hình biến động (tăng/giảm) của tiền mặt, tiền gửi ngân hàng (kho bạc) bao gồm cả
tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, đá quý của doanh nghiệp.
-
Kế toán vật tƣ, tài sản, hàng hóa
thuần và thu nhập thuần từ các hoạt động, làm căn cứ để xác định kết quả kinh
doanh.
19
-
Kế toán chi phí
Kế toán các khoản chi phí có nhiệm vụ phản ánh đầy đủ, kịp thời
các khoản chi phí phát sinh trong doanh nghiệp liên quan đến thu mua, tiêu thụ hàng
hóa cùng với các khoản chi phí quản lý doanh nghiệp.
-
Kế toán tổng hợp
Kế toán tổng hợp có nhiệm vụ tổng hợp số liệu, vào sổ cái các tài
khoản. Từ đó tiến hành lập các báo cáo tài chính, kết hợp với kế toán trưởng tiến
hành phân tích quyết toán của doanh nghiệp
1.1.7.5.
Tổ chức kiểm kê tài sản
Kiểm kê là một phương pháp kế toán nhằm mục đích giúp doanh nghiệp nắm
chắc tài sản của mình để có thể tính toán hiệu quả hoạt động kinh doanh, có kế
hoạch mua sắm, dự trữ nhằm đảm bảo cho sản xuất được liên tục, tránh ứ đọng tiền
vốn, vật tư.
Căn cứ vào chế độ kiểm kê áp dụng thống nhất cho tất cả các ngành, lĩnh
vực, doanh nghiệp phải tiến hành kiểm kê tài sản định kỳ cũng như bất thường khi
kết thúc kỳ kế toán, sát nhập, giải thể doanh nghiệp, bàn giao tài sản. Khi phát hiện
-
Kiểm tra, đánh giá, đánh giá lại tài sản, việc tập hợp phân bổ chi phí, tính
giá thành, kết quả sản xuất kinh doanh.
-
Kiểm tra tình hình quản lý, sử dụng tài sản trong doanh nghiệp, việc thực
hiện chế độ vật chất đối với những người liên quan đến quản lý, sử dụng
tài sản trong doanh nghiệp.
-
Kiểm tra tình hình tổ chức công tác kế toán, việc tổ chức thực hiện kiểm
tra kế toán trong nội bộ doanh nghiệp.
Sau khi kiểm tra phải có kết luận kiểm tra một cách rõ ràng, chính xác. Các
vụ việc được phát hiện phải có bằng cớ chứng từ xác minh và dựa vào chế độ tài
chính, kế toán hiện hành. Báo cáo kiểm tra phải nêu được những thành tích cũng
như tồn tại trong công tác kế toán, công tác quản lý của doanh nghiệp, đề xuất biện
pháp hợp lý.
Để kết quả kiểm tra được chính xác, đòi hỏi cán bộ kiểm tra phải có trình độ
và đạo đức, khi kiểm tra phải thận trọng, khách quan.
1.1.7.7.
-
Hình thức tổ chức bộ máy kế toán: có 3 hình thức chính
Hình thức tập trung: Theo hình thức này, toàn bộ công việc kế toán
1.1.8. Các yếu tố ảnh hƣởng đến tổ chức công tác kế toán trong doanh
nghiệp
Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp để tạo ra thông tin hữu ích cho
các đối tượng sử dụng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố liên quan như môi trường
pháp lý, môi trường kinh doanh, môi trường văn hóa. Sự chi phối này hướng việc tổ
chức công tác kế toán theo yêu cầu kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn nhất định
để sản phẩm của kế toán trong doanh nghiệp mang tính xã hội cao và không ngừng
thay đổi, phát triển theo sự phát triển của nền kinh tế, theo sự phát triển của tư duy
khoa học cũng như trình độ dân trí của mỗi quốc gia.
1.1.8.1. Yếu tố về pháp lý
-
Kế toán không chỉ phục vụ cho công tác quản lý ở từng đơn vị kế toán
mà còn phục vụ cho yêu cầu quản lý của nền kinh tế của mỗi quốc gia, nên nó phải
được thiết kế và áp dụng phù hợp với những quy định pháp luật của từng quốc gia.
Xuất phát từ chức năng của kế toán là thông tin và kiểm tra về hoạt động của một tổ
chức, với mục đích bảo vệ quyền lợi của các đối tượng sử dụng thông tin kế toán thì
sự can thiệp của nhà nước vào hệ thống kế toán để đảm bảo sự minh bạch và trung
thực của thông tin kế toán là hết sức cần thiết và thỏa đáng. Vấn đề đặt ra là sự quản
lý của nhà nước tới mức độ nào để từng đơn vị kế toán có thể phát huy được tính
chủ động của mình, khi vận dụng hệ thống kế toán vào thực tiễn hoạt động với hiệu
quả cao nhất.
-
Ngoài ra mối quan hệ chặt chẽ giữa hệ thống kế toán với việc ban hành
và thực hiện của luật thuế, nên việc thiết kế hệ thống kế toán cũng chịu sự chi phối
thông tin, thời điểm cung cấp thông tin, đối tượng nhận và sử dụng thông tin, hình
thức công bố thông tin và cả sự ảnh hưởng của nhà nước đến hoạt động tạo lập và
công bố thông tin.
-
Tổ chức công tác kế toán phải gắn với hoạt động thực tiễn và nguồn
cung cấp về nhân lực hiện có để khai thác và sử dụng được ở mức cao nhất năng lực
chuyên môn, theo sự phát triển của xã hội và của trình độ nhận thức về quản lý hoạt
động kinh doanh trong từng giai đoạn nhất định.
1.1.8.4.
-
Trang thiết bị cơ sở vật chất
Tổ chức trang bị những phương tiện kỹ thuật để xử lý thông tin, trong
điều kiện công nghệ thông tin phát triển sẽ tạo ra được bước đột phá quan trọng,
trong việc đảm bảo tính nhanh nhạy và hữu ích của thông tin kế toán cho nhiều đối
tượng sử dụng khác nhau.
-
Hiện nay, việc ứng dụng tin học vào công tác kế toán đang trở thành xu
thế chung của thời đại và kết quả do việc ứng dụng này mang lại là hết sức to lớn.
Việc ứng dụng này có kết quả tốt hầu như ở mọi loại hình doanh nghiệp. Vấn đề đặt
ra là phải có phương án đầu tư, ứng dụng một cách phù hợp với quy mô và điều
23
thực tế cho sinh viên học tập và nghiên cứu.
-
Phòng thực hành kế toán doanh nghiệp là phòng mà tại đó mô phỏng các
nghiệp vụ, công việc như một phòng kế toán thật tại doanh nghiệp để sinh viên thực
hành.
1.2.2. Lịch sử hình thành phòng thực hành kế toán doanh nghiệp tại các
trƣờng có đào tạo ngành kế toán.
-
Võ Văn Nhị (2011), Xây dựng mô hình tổ chức kế toán cho doanh
nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam.
Một trong những vấn đề quan trọng mà nhà nước cũng như bản thân
doanh nghiệp cần phải chú trọng để có thể tăng cường được khả năng quản lý và
điều hành doanh nghiệp, là vấn đề tổ chức hệ thống thông tin kinh tế thích ứng, có
chất lượng, trong đó thông tin kế toán có vị trí đặc biệt quan trọng. Để giúp cho cơ
quan soạn thảo chế độ kế toán có tài liệu tham khảo khi ban hành chế độ kế toán,
24
cũng như các doanh nghiệp nhỏ và vừa có tài liệu nghiên cứu để xây dựng mô hình
kế toán cụ thể cho các doanh nghiệp. Nghiên cứu gồm 3 phần, phần đầu tiên là xây
dựng mô hình tổ chức kế toán cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam, phần thứ 2
là kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ theo QĐ/48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 của
Bộ trưởng Bộ Tài Chính. Phần thứ 3 tác giả đã trình bày một số báo cáo tài chính và
báo cáo kế toán quản trị áp dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
-
đào tạo ngành kế toán hiện nay quan tâm và phòng thực hành kế toán sẽ đáp ứng tốt
vấn đề này.
- Là nơi trao đổi kinh nghiệm, thông tin giữa giảng viên, sinh viên, các
chuyên gia,… khi tham gia vào quá trình thực hành .
25
1.2.3.2.
-
Ý nghĩa
Phòng thực hành kế toán được mô phỏng giống một phòng kế toán thật
tại doanh nghiệp như vậy nó giúp sinh viên tiếp cận được thực tế một cách tổng
quát nhất.
-
Trong quá trình làm việc thì kế toán viên ngoài việc có kiến thức
chuyên môn tốt thì còn phải biết kết hợp chúng với các trang thiết bị khác nhau, để
thực hiện công tác kế toán vừa chính xác, nhanh và hiệu quả. Và phòng thực hành
sẽ giúp sinh viên trong việc kết nối và sử dụng thành thạo các trang thiết bị, đặc biệt
là các trang thiết bị theo đặc thù nghề nghiệp như phần mềm kế toán, thuế,…
-
Hệ thống hóa lại kiến thức và kỹ năng cho sinh viên trước khi đi làm
việc tại doanh nghiệp.
-
sinh viên tiếp cận và trải nghiệm những kiến thức thực tế đã được đúc kết và xây
dựng thành bài tập thực hành. Chính vì vậy để đạt hiệu quả cao từ phòng thực hành