Đề cương ôn thi môn chính trị học có đáp án - Pdf 34

Câu 1: Đồng chí hãy trình bày những nội dung cơ bản của lịch sử tư tưởng chính trị ở
Trung Quốc thời kỳ cổ đại. Nêu giá trị của nó đối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay.
Bài làm
A,
Trung quốc là một trong những nước có nền văn minh lâu dài vào bậc nhất thế giới. Vào
TK XXI trước công nguyên Trung Quốc đã bước vào XH chiếm hữu nô lệ. Tư tưởng chính trị của
TQ ra đời vào thời kỳ cổ đại và kéo dài suốt trong lịch sử- nhưng nói chung vẫn giữ được những
điểm cơ bản. Những nội dung cơ bản của lịch sử tư tưởng CT Trung Quốc thời kỳ cổ đại:
1, Học thuyết “Đức Trị”
-Đức trị là hệ thống lý luận về “đạo” cai trị dân bằng phương thức chính yếu là giáo dục đạo
đức cho dân với lòng nhân từ độ lượng của người cai trị để chăn dắt muôn dân, tu dưỡng đức hạnh
của người bị trị còn việc sử dụng pháp luật để cưỡng chế là cần thiết nhưng chỉ là chuyện bất đắc dĩ.
-Kiến trúc sư đầu tiên của học thuyết đức trị là khổng Tử (551-479Tcn). Từ cơ sở của học
thuyết nhân. Khổng tử cho rằng XH con người phải được gắn lại với nhau bằng chất keo là lòng
nhân ái. Khổng Tử chủ trương người cầm quyền phải thực thi đức trị. Nghĩa là nhà cầm quyền phải
dùng đức để cảm hóa XH vào kỷ cương nề nếp.
Nghĩa là cầm quyền phải dùng đức để cảm hoá hướng XH vào kỷ cương nề nếp.
Khổng Tử cực lực phản đối dùng pháp luật hình phạt như là công cụ chủ yếu để cai trị. Khổng
Tử cho rằng: cai trị XH bằng pháp luật thì dân sự nhưng không phục, chỉ có cai trị XH bằng đạo đức
(đức trị) thì dân mới phục.
-Nội dung:
+ Phạm trù nghĩa-lợi và vấn đề quản lý Xh: ở Khổng Tử chưa đặt ra vấn đề này một cách rõ
ràng. Mạnh Tử là người đầu tiên sử dụng phạm trù này một cách có hệ thống trong việc quản lý XH.
Mạnh Tử phản đối”lợi” là động lực của sự phát triển XH. Oâng cho rằng nếu mọi người trong XH
đều hưởng về lợi thì sẽ sinh ra tranh giành lẫn nhau, XH khó mà ổn định. Tốt nhất là nên lấy nghĩa
(nghĩa vụ) để động viên mọi người. Từ đó trong XH luôn luôn xác định trách nhiệm của công dân
chứ không bàn nhiều đến quyền lợi.
+ Tiêu chuẩn của người cầm quyền: Đức trị chủ trương người cầm quyền không phải chủ yếu
do tài năng mà chính là do số mệnh. Vua là do trời chỉ định (thiên tử), chống lại vua là chống lại trời.
Ngoài ra để đảm bảo chế độ phong kiến được ổn định thì cần phải cất nhắc những người trong dòng
họ (huyết thống). Đức trị luôn luôn xác định đức là gốc mà tài năng là ngọn. Công thức của họ là:

2, “Pháp trị”
-Pháp trị là hệ thống lý luận về sự cai trị XH bằng pháp luật với sự thống nhất giữa pháp luật,
quyền lực và thủ đoạn.
-Pháp trị bắt đầu từ Tuân Tử nhưng Hàn Phi mới là kiến trúc sư chủ yếu, có hệ thống. Pháp trị
được đề cao ở thời Tần Thủy Hoàng với thời gian ngắn ngủi và không có vị trí đáng kể trong lịch sử
phong kiến trung quốc cũng như trong các nước phương đông
-Nội dung:
+ Các nhà pháp trị cho rằng sử dụng nhân nghĩa không thể trị quốc được mà phải sử dụng
pháp luật mà pháp luật ấy là sự thống nhất giữa pháp luật với quyền lực và thủ đoạn trong đó pháp
luật là gốc còn quyền lực và thủ đoạn là điều kiện để thực hành pháp luật.
+ Pháp luật là của chung mọi người đều phải tuân theo, phải công bằng vô tư làm cho số đông
không được ức hiếp số ít và kẻ mạnh không được ức hiếp kẻ yếu.
+ Pháp luật phải thay đổi theo thời thế, thời thế thay đổi mà pháp luật không thay đổi thì XH
sẽ loạn
Hàn Phi: “sống ở thời này mà sử dụng biện pháp của thời khác đó không phải là phong cách
sử xự của người trí”
(Việt Nam :”ăn theo thuơ,û ở theo thời”)

+ Pháp trị cho rằng bản chất của con người là xấu “ác”, con người vốn sing ra đã mang
đầy tính tham lam, ích kỷ. Do đó thường xâm phạm lẫn nhau. Vậy XH muốn tồn tại thì không thể
không có pháp luật.
Pháp trị tôn sùng sức mạnh của quyền lực chứ không tôn sùng sức mạnh của đạo đức. Hàn
Phi không tán dương nhiều về đạo đúc nhân ái. Oâng cho rằng Xh thịnh trị không phải nhờ vào lòng
nhân ái. Nhân ái không phải là chất keo để gắn mọi người lại với nhau và cũng không phải là chất
kích thích để động viên mọi người vì nhà nước phong kiến. Dân sở dĩ làm việc phụng sự nhà nước
không phải vì nhà nước yêu thương dân cũng như dân thương nhà nước mà chỉ là do dân sợ thế lực
nhà nước mà thôi. Chính nhờ sự thực thi pháp trị nên nhà tần trở thành nước hùng mạnh tóm thu
giang sơn về một mối.
+ sức mạnh tổng hợp của PHÁP-THUẬT-THẾ:


(thượng đồng)
+ Thuyết tam biểu trong chính trị: mọi chủ trương chính trị đúng đắn cần phải bảo đảm những
tư tưởng chính trị sau:

Một là, phải có cơ sở của người đi trước (hữu bảo chi giả)

Hai là, được quần chúng ủng hộ (hữu nguyên chi giả)

Ba là, phải có hiệu quả thực tế (hữu dụng chi giả)
+ Phê thuyết thiên mệnh: thuyết kiêm ái phê phán quan điểm định mệnh cho rằng mọi cái đều
do trời định sẵn sẽ làm cho con người mất hết sự cố gắng vươn lên trong công việc.
4, “vô vi trị”
-Vô vi trị là hệ thống lý luận về sự cai trị bằng “không cai trị”, làm bằng “không làm” không
can thiệp vào “bản tính tư nhiên của đạo”.
-Nội dung:
+ Vô vi: không hành động “không làm” vô vi trị là cai trị không bằngg cai trị.
+ Đạo: quy luật
bản tính tư nhiên của đạo là quy luật tự nhiên.
Đạo trời: diễn ra theo quy luật tự nhiên “tưởng như không làm gì” mà vẫn có hiệu quả vì
mọi cái đều diễn ra theo quy luật của nó.
Đạo người là quy luật XH. Về mặt lý tưởng đạo người cũng có thể như đạo trời tức là
không cần sự can thiệp của con người thì mọi cái vẫn diện ra như những gì mà nó có. Người ta gọi
đó là đạo không làm.
+ Đạo không làm vì mọi cái phát triển theo quy luật của nó. Nó có sức sống của chính mình, tự
nó biết phải làm gì thì không gì không làm, không làm là không làm trài vời quy luật của tự nhiên và
XH, tự nó biết phải làm gì thì “ không gì mà không làm được“, “không làm” tức là tôn trọng quy
trình. Đặc điểm phát triển của nó thì không có gì không do “cai trị” mà ra.
+ Cai trị bằng “không cai trị” là không có gì “không cai trị” và không có gì không do cai trị mà
ra.


không tách rời khởi đức trị. Tuy vậy, đức trị tạo ra xã hội thiên về đạo đức gỉm sút ý thức pháp
quyền, gây trở ngại không ít cho công cuộc xây dựng xã hội hiện nay. Do đó chúng ta phải thực hiện
đồng bộ các biện pháp giáo dục, kinh tế, hành chính và pháp luật để phòng, chống có hiệu quả các tệ
nạn xã hội nhất là trộm cướp, cờ bạc, ma túy, mại dâm, lừa đảo…
Để góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, mọi người phải có
trách nhiệm xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân lấy liên minh GC công
nhân với GC nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng do đảng CSVN lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ
quyền làm chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội chuyên chính với mọi hành động xâm
phạm lợi ích của tổ quốc và nhân dân. Nhà nước ta dựa trên nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân, thể
hiện ý chí, lợi ích và nguyện vọng của nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công
và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan , tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có
nghĩa vụ chấp hành hiến pháp và pháp luật. Cán bộ công chức nhà nước phãi là đầy tớ trung thành
của dân, tận tụy phục vụ nhân dân. Bên cạnh việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN dười sự
lãnh đạo của Đảng, phải thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên, công chức vế chính trị tư tưởng,
đạo đức, cách mạng… để nâng cao chất lượng đội ngụ cán bộ, công chức. Tăng cường hơn nữa công
tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, đấu tranh chống tệ nạn tham
nhũng, quan liêu, tư tưởng cơ hội, thực dụng, bài trừ hủ tục mê tín, lối sống vị kỷ xa đoạ, xa rời quần
chúng… không ngừng nâng cao trình độ chính trị, học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức lãnh
đạo, quản lý và công tác vận động quần chúng…
Câu 2: Đồng chí hãy trình bày những nội dung cơ bản của lịch sử tư tưởng chính trị ở
phương tây thời cổ đại và cận đại. Nêu giá trị của nó đối với việc xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN ở nước ta hiện nay.
Bài làm
A, Những nội dung cơ bản thời cổ đại:
Đây là thời quá độ từ xã hội công xã công xã nguyên thuỷ sang thời kì chiếm hữu nô lệ. Đặc
điểm của thời kì này là mâu thuẫn giữa GC chủ nô với GC nô lệ. (GC nộ lệ phương tây là LLSX chủ
yếu của xã hội, bị đối xử một cách tàn tệ, xã hội đo sự giàu có của nhau bằng số nô lệ mình có
được). Xuất hiện tầng lớp dân tự do mâu thuẫn với chủ nô. Chủ nghĩa DT đại diện cho chủ nô quý
tộc mâu thuẫn với chủ nô dân chủ đại diện cho thị dân tự do. Trong xã hội có nhiều trường phái, học

-HERACLIT: xem trạng thái tự nhiên của con người tự nó đã hoàn hảo, không có vấn đề công
bằng hay không công bằng ở đó. Công bằng do con người tạo ra xã hội con người là một trạng thái
tự nhiên, tự nó, không ai sinh ra, không ai sắp đặt nó, tự nhiên sinh ra có kẻ trí và người ngu cho nên
kẻ trí thống trị người ngu là lẽ tự nhiên, kẻ trí là người quí tộc, nô lệ là người ngu. Oâng cho rằng
quyền lực là quy luật vĩnh viễn. Không bao giờ trong xã hội lại không có quyền lực. Pháp luật nhằm
thực hiện tính tất yếu của quyền lực, xã hội phải phục tùng ý chí của một cá nhân là điều tất yếu cho
sự thống nhất. Theo ông bất bình đẳng là tự nhiên. Một quý tộc phải được trị giá bằng một nhìn dân
thường. Oâng thuộc tầng lớp chủ nô quý tộc, có lập trường duy tâm; không nhớ rằng kẻ nắm tư liệu
sản xuất mới là người thống trị.
-PLATON: xem quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước là quyền lực thống trị của kẻ trí đối
với người ngu. Đó là đặc tính của trí tuệ. Chỉ có người có trí tuệ mới có quyền lực. Trí tuệ chỉ có ở
quý tộc.
-ARISTOTE: quan niệm quyền lực của xã hội cũng là một trạng thái tự nhiên. Nó xuất phát từ
gia đình, quyền của cha đối với con, chồng đối với vợ, anh đối em; xuất phát từ quyền lực đối với xã
hội. Trong xã hội có nhiều gia đình, GĐ này có sự xâm hại đối với GĐ khác. Do đó mỗi GĐ
phải nhượng lại quyền lực của từng gia đình thành quyền lực chung. Người nắm quyền lực
chung là nhà nước. Quyền lực nhà nước là tự nhiên.
-CICÉRON cho rằng quyền lực nhà nước hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, nó là của
nhân dân, của chung chứ không riêng của một ai dù đó là người tài giỏi nhất cũng sinh ra quyền lực
được.
3, quan điểm về thể chế nhà nước:
5


-HÉRODOT: là người đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã phân biệt và so sánh các thể chế của
nhà nước khác nhau. Theo ông có 3 hình thức cơ bản:
+ Thể chế quân chủ: tức là thể chế cầm quyền của một người-đó là vua. Thể chế này có 2 mặt:

Nhược: là sự độc đoán, chuyên quyền, dễ bị xu nịnh, luôn có xu hướng là lạm dụng
quyền lực.

-Nguồn gốc và bản chất của nhà nước: nhà nước ra đời do khế ước xã hội. Nhà nước phải bảo
đảm bình đẳng và tự do. Nhà nước nào vi phạm điều đó thì không còn tư cách để tồn tại. Về luật
pháp: bản chất con người phải phù hợp với trạng thái tự nhiên, luật pháp quán triệt điều đó, chứ
không phải ngược lại. Người ta gọi ông là tác giả của tác phẩm cộng sản tuyệt vời và của18 “bộ luật
tự nhiên”.
-Về tư cách lãnh đạo: mọi chúc vụ của người cầm quyền phải được thực hiện bằng thi cử.
“dòng đầu tiên của một bộ luật là hạn chế quyền lực của người cầm quyền”. (Diderot)
-Về phương pháp thay đổi chế độ xã hội: ông không tán thành phương pháp cách mạng. Tiến
bộ về lí trí sẽ làm that đổi xã hội.
-Phủ nhận vai trò của tôn giáo: nhà thờ không thể dung hoà với chân lí được.
2, VOLTAIRE:
-ông phê phán nhà thờ và chuyên chế. Mọi tội ác trong xã hội là do nhà thờ mà ra.
-Oâng chủ trương tự do tín ngưỡng, báo chí, ngôn luận và sở hữu.
-Oâng lịch liệt chống chiến tranh. Theo ông, chiến tranh còn kinh khủng hơn dịch hạch và điên
khùng.
-Bất bình d0ẳng về tài sản là tất yếu.
3, MONTESQUIEU:
6


-Oâng phê phán chế độ chuyên chế PK. Chuyên chế về bản chất là đối lập với tự do. Theo ông
chế độ chuyên chế là bạo chúa, vua pháp là một gã phù thuỷ.
-Bàn về nhà thờ: nhà thờ là nguồn gốc của tội lỗi. Oâng giải thích sở dĩ la mã cường thịnh là
do ghét chuyên chế và yeu tự do. Sở dĩ lamã bị huỷ diết cũng vì tự do bị huỷ diệt và đạo đức bị suy
đồi song ông cũng giành cho tôn giáo một vị trí nhất định trong việc duy trì đạo đức xã hội.
-Theo ông, nhà nước xuất hiện trong một quá trình lịch sử lâu dài khi mà trong xã hội xuất
hiện tình trạng mâu thuẫn không thể điều hoà nếu không có một cơ quan mà có quyền lực đủ mạnh
để giữ gìn sự bình ổn của xã hội.
-Oâng là người đã xây dựng học thuyết nhân quyền với mục đích tạo dựng các thể chế chính
trị bảo đảm tự do chính trị cho các công dân. Tự do chính trị của công dân là quyền làm mọi cái mà

của nhà nước. Luật của tư nhiên bắt buộc phải tự do nên con người phải tự do.
-Oâng đã luận giải về nguồn gốc và bản chất cùa nhà nước từ quyền lực tư nhiên, ông xác định
con người có quyền lực tự nhiên và quyền lực tự nhiên đó là bất khả xâm phạm. Do quy luật tự
nhiên của xã hội mà nảy sinh ra bất công về xã hội và quyền tự nhiên của con người bị xâm phạm.
Để bảo vệ quyền tự nhiên của con người thì mọi thành viên trong xã hội mới “ký kết”, hình thành
một chính quyền có quyền lực chung. Như vậy quyền lực xuất hiện từ các thành viên của xã hội. Từ
đó ông đưa ra 3 kết luận quan trọng:
7


+ Quyền lực nhà nước về bản chất là quyền lực của dân. Quyền lực của dân là cơ sở, nguồn
gốc của quyền lực nhà nước. Trong quan hệ với dân, nhà nước không có quyền, quyền của nhà nước
chẳng qua là quyền của nhân dân uỷ quyền. Nhà nước có quyền trong “khế ước xã hội”, đó là hiến
pháp những đạo luật cơ bản…
+ Nhà nước-xã hội chính trị-xã hội công dân thực chất là một khếứ¬chính sách xã hội.
+ bảo toàn quyền tự nhiên của con người là tiêu chí căn bản nhất để xem xét tính hợp lí hay
không hợp lí của nhà nước đó là giới hạn căn bãn của nhà nước.
Ba kết luận trên đặt nền móng cho chế độ dân chủ hiện đại.
-Lốc cơ chia nhà nước làm 3 cơ quan với 3 quyền khác nhau:
+ Quyền lập pháp: là sự biểu hiện ýy chí chung của quốc gia và thuộc về toan dân. Nếu những
quốc gia lớn thì cử ra đại biểu nhân dân (nghị viện) do nhân dân bầu ra và phải là những người hiểu
rõ về luật.
+ quyền hành pháp: là quyền thực hiện pháp luật đã được lập ra bởi cơ quan lập pháp, phải có
cơ cơ quan riêng và tách ra khỏi quốc hội.
+ quyền tư pháp: là quyền xét xử tội phạm và giải quyết tranh chaá©p giữa cá nhân được thực
hiện bởi thẩm phán do nhân dân bầu ra.
Theo ông, phân quyền là một tất yếu kĩ thuật, là một tiêu chuẩn không thể thiếu được của
một xã hội dân chủ. Yêu cầu phân quyền sao cho cân bằng, công bằng nghĩa là dùng quyền lực này
để chế ngự quyền lực khác.
Tóm Lại: tư tưởng chính trị ở phương tây thường gắn liền với pháp luật trongkhi tư tưởng

-Quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện trên mọi lĩnh vực và được thể chế hoá bằng pháp
luật, được hòan thiện trong quá trình phát triển KT-xã hội, nâng cao dân trí. Nhà nước tạo điều kiện
để nhân dân thực sự tham
gia quản lí xã hội thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng, liên quan đến lợi ích đông
đảo của nhân dân. Phát huy dân chủ kết hợp chặt
chẽ với tăng cường pháp chế, thực hiện quản lí xã hội bằng pháp luật, nâng cao ý thức chấp
hành pháp luật cho toàn dân tuyên tuyền, giáo dục pháp luật gắn với trách nhiệm, lợi ích và nghĩa vụ
của công dân, tôn trọng và giữ vững kỉ luật, kỉ cương, trật tự xã hội.
-Cán bộ Đảng viên ở bất cứ cương vị nào đều phải chấp hành nghiêm chỉnh cương lĩnh, điều
lệ, nghị quyết của Đảng và pháp luật của nhà nước. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện coi
thường và buông lỏng kỷ luật. Xây dựng đội ngũ cán bộ trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản lí ở các
cấp thật sự vững vàng và kiên định về chính trị gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lói sống, có trí
tuệ kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn sáng tạo, gắn bó với nhân dân. Đảng và nhà nước có
cơ chế và chính sách phát hiện tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, đào tạo và bồi dưỡng, trọng dụng
những người có đức, có tài ở trong và ngoài Đảng.
Tóm lại: việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCNVN thực sự vững mạnh đồng thời
nâng cao hiệu quả và chất lượng lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước đã trở một đòi hỏi bức thiết
của cuộc sống, của sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta vì chỉ có xây dựng nhà
nước pháp quyền đủ mạnh mới có thể bảo vệ và phát huy những thành quả trong quá trình đổi mới
về mọi mặt (CT, KT,văn hoá, QH quốc tế…), mới có đủ khả năng giải quyết vấn đề mới nảy sinh do
mặt trái của cơ chế thị trường, của KT nhiều thành phần mang lại, và mới có khả năng đương đầu và
đập tan chiến lược “diễn biến hoà bình” mà các thế lực chống đối đang ráo riết tiến hành chĩa vào
Đảng và nhà nước ta. để làm được điều đó nhà nước phải:
+ Tiến hành cải cách, hoàn thiện các cơ quan lập pháp, hành pháp vàtư pháp mà trước mắt là
cải cách một bước nền hành chính.
+ Tiếp tục bổ sung và hoàn thiện pháp luật để đáp ứng đòi hỏi quản lí đất nước với KT nhiều
thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế.
+ Thể chế hoá nền dân chủ của nhân dân thành pháp luật, thành cơ chế, thành chính sách, làm
cho dân chủ đi liền với kỉ cương trật tự, dân chủ và chuyên chính không tách rời nhau.
Nếu quán triệt đầy đủ và thực hiện tốt những phương hướng nêu trên nhà nước pháp quyền

trị GC thuộc về bản chất của mọi quyền lực chính trị được thực hiện bằng nhà nước. Khi chính
quyền là của GC cách mạng thì 2 chức năng ấy thống nhất ở sự nhất trí về cơ bản giữa lợi ích của
GC cầm quền và lợi ích quốc gia dân tộc và ngược lại. Dù quyền lực nhà nước tổ chức dười hình
thức “tập quyền”, “tản quyền” hay “phân quyền” hay hỗn hợp các hình thức ấy thì quyền lực nà
nước vẫn mang bản chất của GC cầm quyền. Và là sự thống trị của GC đối với toàn xã hội.
-Quyền lực CT của GC cầm quyền được thực hiện trong một cơ chế gồm 2 mặt:
“Mặt nội dung” với trật tự của cương lĩnh-đường lối, hệ thống pháp luật, hệ thống những
nguyên tắc tổ chứcvà vận hành của hệ thống CT; được thực hiện và thể hiện qua “Mặt thực thể” với
những thành tố tương ứng như: Đảng CT, nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội của quần chúng.
Hiệu quả thực thi quyền lực phụ thuộc vào mức độ chuẩn xác và vận hành có hiệu quả của các nhân
tố cấu thành 2 mặt của cơ chế. Hai mặt của cơ chế thực chất là hệ thống chính trị của GC thống trị
cầm quyền.
-Thật vậy, ta có thể khẳng định quyền lực chính trị có nguồn gốc ra đời cùng với sự xuất hiện
xã hội có GC và quá trình đấu tranh GC. Vì vậy cơ sở xuất phát của quyền lực chín trị là xuất phát từ
nền tảng chế độ kinh tế-xã hội và xuất phát từ lợi ích GC và bảo vệ GC. Đây là 2 cơ sở cơ bản để
chúng ta khẳng định quyền lực chính trị thuộc về ai? GCTS hay nhân dân lao động.
GC công nhân là tập hợp những người làm công ăn lương cho CNTB, hop8n ai hết GC công
nhân bị GCTS bóc lột thậm tệ. Vì vậy, GCCN đã đứng lên thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình lật bỏ
GCTS, xoá bỏ CNTB thiết lập xã hội mới tốt đẹp hơn-chế độ XHCN. Nhà nước được xây dựng trên
cơ sở chế độ sở hữu công cộng về TLSX (thuộc về nân dân lao động). Mà theo lí luận thì ai nắm giữ
quyền lực KT thì nắm giữ mọi mặt trong đó
có quyền lực CT (KT quyết định CT). cho nên nhân dân lao động trong chế độ XHCN nắm
quyền lực chính trị hay nói cách khác quyền lực chính trị trong CNXH cơ bản thuộc về nhân dân lao
động.
Xét đến cùng cũng do xuất phát từ bản chất của GCCN theo quy định bản chất của nhà nước
XHCN mà cái gốc của nó do quy định bởi PTSX XHCN trong đó TLSX thuộc sở hữu toàn dân nên
sau khi ật đổ GCTS, xoá bỏ CNTB, nhà nước XHCN không bai giờ quay lại bóc lột nhân dân lao
động mà ngược lại luôn bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động do đó quyền lực chính trị phải cơ bản
thuộc về nhân dân lao động.
-Về mặt thực tiễn, căn cứ vào tình hình cách mạng Việt Nam ta thấy rằng GCCN Việt Nam

nhiên PTSX TBCN là bóc lột giá trị thặng dư do QHSX dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân TBCN về
TLSX (tức là GCTS nắm giữ TLSX chủ yếu). Do GCTS chiếm giữ TLSX nên GCTS nắm quyền lực
chính trị. Vì thế trong chế độ TBCN quyền lực chính trị không thuộc về nhân dân lao động.
Đặc biệt để duy trì bản chất bóc lột, CNTB sử dụng quyền lực chính trị bảo vệ GCTS là thiểu
số và trấn áp đa số nhân dân lao động. Vậy trong chủ nghỉa TB quyền lực chính trị thuộc vê một số ít
người (GCTS) chứ không thuộc về đa số nhân dân lao động.
Tóm lại: xét chung cho tất cả các chế độ xã hội có GC d0ối kháng (CHNL, PK, TBCN) thì
cac GC thống trị luôn củng cố quyền lực nhà nước để quản lí xã hội, có đầy đủ sức mạnh làm công
cụ, phương tiện trấn áp các GC khác. Quyền ực nhà nước thuộc về bản chất là quyền lực chính trị
của GC thống trị. Quan niệm quyền lực chính trị thuộc về nhân dân lao động “ đã xuất hiện từ thời
cổ đại và được tuyên bố, ghi nhận một cách phổ biến trong hiến pháp của các nước cộng hoà dân chủ
TS nhưng trên thực tế cũng chỉ là hình thức rất hạn chế. Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân lao
động, chỉ thực sự có đượckhi xuất hiện cơ sở khách quan cho sự thống nhất giữa tính GC và tính
nhân dân. Nhà nước trong các chế độ bóc lột dựa trên sự thống trị của chế độ sở hữu tư nhân, GC
cầm quyền bao
giờ cũng là GC bóc lột, một GC có lợi ích căn bản đối lập với lợi ích của nhân dân lao động.
Hơn nữa trong xã hội dựa trên chế độ sở hữu tư nhân không có sự bình đẳng về KT do đó không thể
có sự bình đẳng về chính trịxã hội. Đặc biệt trong xã hội TBCN ngày nay, GCTS nắm toàn bộ tư liệu sản xuất hình nên
những công ty độc quyền, đa quốc gia, xuyên quốc gia chi phối nền KT TG thì càng chứng minh rõ
ràng quyền lực chính trị thuộc về GCTS chứ không phải thuộc về nhân dân lao động.
Trong chế độ XHCN, quyền lực chính trị là cơ bản thuộc về nhân dân lao động bởi lẽ xuất
phát từ 2 cơ sở: chế độ KT của xã hội XHCN mà nét 9dặc trưng nhất là dựa trên chế độ công hữu về
TLSX, nhân dân lao động là người nắm giữ TLSX chủ yếu nên nắm quyền lực KT, CT, văn hoá, xã
hội từ đó nắm được quyền lực nhà nước làm công cụ xây dựng xã hội mới. Tức là nhân dân lao động
nắm được quyền lựcchính trị. Cơ sở thứ 2 là lợi ích của GC cầm quyền cơ bản thống nhất với lợi ích
của nhân dân lao động.
Những biểu hiện cụ thể về nội dung thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân alo động ở
nước ta hiện nay có 4 biểu hiện sau đây:
11


theo hiến pháp và pháp luật. Đặc biệt trong hệ thống bảo đảm quyền lực của nhân dân nói chung và
quyền lực chính trị nói riêng, cán bộ có vị trí cực kỳ quan trọng. Hệ thống quyền lực chi phối việc
xây dựng đội ngũ cán bộ nhưng đến lược mình, đội ngũ cán bộ lại quyết định khả năng hoạt động
của hệ thống quyền lực trong việc thực hiện chức năng cơ bản của mình.
+ Ba là, các tổ chức chính trị-xã hội chiwếm vị trí cực kì quan trọng trong việc phát huy quyền
lực chính trị của nhân dân. Do vậy phải củng cố, xây dựng các tổ chức đó theo hướng trước hết cần
phải có quan điểm và tư tưởng mới; xem mặt trận tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của hệ thống
quyền lực chính trị của nhân dân. Vì vậy trong quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống
chính trị không thể không dân chủ hoá tổ chức và hoạt động của mặt trận của các tổ chức quần
chúng.
Tóm lại, trong bất kì chế độ xã hội nào quyền lực chính trị chỉ được phát huy, được thực hiện
thông qua cơ chế (HTCT). Vì vậy, để phát huy qyền lực chính trị của nhân dân lao động ở nước ta
hiện nay, chúng ta phải không ngừng củng cố đổi mới HTCT. Đó là điều kiện cho phép chúng ta
thực hiện có hiệu quả di chúc của chủ tịch HCM: “Nước ta là dân chu.û Bao
nhiêu lợi ích đều vì dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Chính quyền từ
xã đến chính phủ TW do dân cử ra.
Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên.
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”
Câu 4: Đồng chí hãy vận dụng lý luận về cơ chế thực hiện quyền lực chính trị và thực
tiễn đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị ở Việt Nam để làm rõ luận điểm của đảng ta: “Mục
tiêu chủ yếu của đổi mới hệ thống chính trị là nhằm thực hiện tốt dân chủ XHCN, phát huy
đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân”
(VK VIII trang 71)
12


Bài làm
-như chúng ta đã biết, bất kỳ một GC cách mạng nào bước vào hoạt động chính trị đều nhằm
mục tiêu giành chính quyền mà chính quyền là vấn đề cơ bản nhất của quyền lực chính trị và bất cứ
một bộ môn khoa học chính trị nào đó ra đời đều dựa trên các nguyên lý, quy luật, phạm trù cơ bản

chuyên chính của GC cầm quyền bao gồm: Đảng CS, tổ chức công đoàn tiến bộ.
+ Trong chế đệ XHCN: khác với hệ thống chính trị trong các chế độ có GC bóc lột, hệ thóng
chính trị XHCN bao gồm hệ thống các tổ chức thống nhất nhằm phát huy quyền lực của nhân dân
lao động, cơ cấu tổ chức hệ thống CT XHCN bao gồm 3 nhân tố:

ĐCS giữ vai trò lãnh đạo

Nhà nước pháp quyền XHCN

Các tổ chức chính trị-xã hội: mặt trận tổ quốc,công đoàn, đoàn TN, hội liên hiệp phụ
nữ, hội cựu chiến binh, hội nộng dân.
+thực chất hệ thống CT XHCN là hệ thống chuyên chính vô sản, mục đích nhằm phát huy
quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới xã hội-XHCN.
Xét cề 2 hình thức trên thì nó giống nhau là đều có 3 nhân tố chung nhưng về tính chất thì hoàn
toàn khác nhau. Cụ thể là trong xã hội có GC bóc lột thì hình thức biểu hiện của cơ chế thực hiện
quyền lực CT bao gồm một hệ thống các nhân tố mâu thuẫn đối kháng nhau, còn ở chế độ XHCN
hình thức biểu hiện của
cơ chế thực hiện quyền lực chính trị bao gồm một hệ thống các nhân tố thống nhất để nhằm
phát huy quyền lực chính trị của nhân dân lao động.
13


Nội dung cơ chế thực hiện quyền lực chính trị:
+nội dung mang tính chất tổng quát: xay dựng cơ chế thực hiện quyền lực chính trị phải dựa
trên mục tiêu của quyền lực chính trị. Nói cach khác, mục tiêu của quyền lực chính trị quết định đến
việc xây dựng cơ chế để thực hiện nó.
+ Nội dung mang tính chất cụ thể, bao gồm 2 nội dung:

Đối với GC cầm quyền: GC cầm quyền phải thực hiện được mục tiêu nhưng không
ngừng củng cố quyền lực KT và trên cơ sở củng cố quyền lực KT sẽ củng cố chắc được quyền lực

sau:
+ Thành tựu: thành tựu có tính chất bao trùm của hệ thống chính trị Việt Nam trong thời gian
qua là giữ vững và ổn định chính trị về mọi mặt, cụ thể:

Trên lĩnh vực dân chủ: chúng ta đã mở rộng được dân chủ XHCN trên tất cả các lĩnh
vực nhất là trên lĩnh vực CT và KT

Về vai trò lãnh đạo của đảng: chúng ta đã giữ được sự lãnh đạo duy nhất của Đảng
cộng sản, kiên quyết không chia sẻ cho bất cứ một lượng chính trị nào. (thành tựu nổi bật nhất của
ĐH VII của Đảng đánh giá là: Đảng ta đã từng bước bổ sung và cụ thể hoá thành các chủ trương đổi
mới trên từng lĩng vực khác nhau của đời sống xã hội. Trong quá trình đó, Đảng ta đã được củng cố
về tư tưởng, chình trị và tổ chức; vai trò lãnh đạo của đảng trong xã hội được tăng cường, việc đổi
mới tư duy, tổ chức bộ máy, phương pháp và phong cách của đảng đã mang lạinhững kết quả to lớn;
đường lối đổi mới ngay càng hoàn thiện nhờ vậy con đường đi lên CNXH ngày càng rõ hơn… )
14



Về nhà nước: chúng ta đã giữ vững được cgính quyền trên cơ sở đổi mới, bước đầu đi
vào xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. (việc
quản lý nhà nước bằng pháp luật và theo pháp luật từng bước được xác lập và hoàn thiện.
Những bước tiến đó góp phần làm cho hoạt động của các cơ quan nhà nước các cấp đạt được những
bước tiến quyết định theo hướng
phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường kỷ cương và nâng cao hiệu lực quản lý của
nhà nước).

Về đoàn thể CT-xã hội: mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức CT-xã
hội đã từng bước đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động. (nhiệu hội, đoàn thể hợp pháp
được thành lập theo nhu cầu, lợi ích và theo nguyện vọng của các tầng lớp khác nhau trong nhân
dân, cũnh như những người Việt Nam định cư ở nước ngoài…_

không ít cán bộ Đảng viên thoái hoá biến chất, dao động tư tưởng, tổ chức cơ sở Đảng nhất là ở
nông thôn suy yếu.

Công chức, viên chức nhà nước ý thức pháp luật chưa cao, quan hệ Đảng và nhà nước
chưa được phân định rõ; các đoàn thể quần chúng còn lúng túng trong việc xác địng chức năng,
nhiệm vụ.

Công tác cán bộ: khâu quy hoạch, đào tạo, bố trí sử dụng cán bộ, chuẩn bị đội ngũ cán
bộ kế cận thì có làm nhưng chưa có sự thay đổi căn bản (Nghị quyết BCH TW3 khoá VIII)…
-Phương hướng đổi mới hệ thống CT ở Việt Nam:
+ Phương hướng mang tính chất tổng quát nhằm khắc phục những hạn chế trên phương hướng
mang tính chất bao trùm để xây dựng hệ thống chính trụi nước ta là: phải mở rộng dân chủ hơn nữa
15


trong cơ chế thực hiện quyền lực chính trị, để cho dân chủ XHCN vừa là mục tiêu vừa là động lực
của quá trình phát triển và xây dựng CNXH ở nước ta.
+ Phương hướng cụ thể: yêu cầu phải đi vào đổi mới 3 nhân tố trong cơ chế thực hiện quyền
lực CT, đó là:

Đổi mới Đảng: Đảng giữ vai trò lãnh đạo toàn xã hội, dựa chắc vào dân, thông qua các
tổ chức trong hệ thống chính trị, chủ yếu bằng nhà nước. Có nghĩa là trong hệ thống chính trị vai trò
của ĐCS luôn luôn là hạt nhân lãnh đạo, là điều kiện cần thiết và tất yếu để HTCT giữ vững được
bản chất của GC công nhân. Điều đó đã được chúng minh trong thực tế là nơi nào ĐCS giữ được vai
trò lãnh đạo trong hệ thống chính trị thì nơi đó cách mạng sẽ tiếp tục phát triển và ngược lại. Đồng
thời, Đảng phải đưa ra cương lĩnh, đường lối định hướng trong các chủ trương công tác lớn. Chủ
trương đường lối của Đảng đưa vào quần chúng bằng phương pháp đặc thù: nêu gương tuyên
truyền, giáo dục thuyết phục, kiểm tra và đào tạo cán bộ… Đảng phải được tổ chức và hoạt động
trong khuôn khổ pháp luật. Về đổi
mới Đảng, NQ ĐH IX neu rõ 4 nội dung đổi mới của Đảng trong giai đoạn hiện nay là:


Xác định rõ chúc năng nhiệm vụ của các tổ chức CT-xã hội trong điều kiện thực hiện
nền KT hàng hóa nhiều thành phần để từ đó đưa ra được những phương thức hoạt động phù hợp.

Xây dựng các tổ chức CH-xã hội phải theo nguyên tắc, một mặt là từng thành viên
phải có trách nhiệm tham gia xây dựng tổ chức của mình, mặt khác các tổ chúc CT-xã hội cũng phải
chăm lo bảo vệ lợi cíh chính đáng của từng thành viên trong tổ chức.
-Tóm lại, đổi mới hệ thống CT ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là điều kiện để thực hiện
quyền lực chính trị của nhân dân lao động. Mặt khác, quyền lực chính trị của nhân dân lao động từng
bước được phát huy, là cơ sở bảo đảm cho việc củng cố và đổi mới hệ thống CT Việt Nam và đó
cũng là mối quan hệ phổ biến giữa việc củng cố tăng cường cơ chế thực hiện, nhằm thực thi quyền
lực chính trị của GC cầm quyền trong các chế độ xã hội.
Ngày nay, tiếp tục đổi mới hệ thống CT là nhằm khắc phục những yếu kém tồn tại của hệ
thống chính trị và trở thành đòi hỏi bức thiết để hệ thống chính trị góp phần tích cực vào quá trình
CNH, HĐH đất nước. Tăng cường và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân nhằm thực hiện thắng lợi
mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh “, nền dân chủ XHCN được
xác lập vững chắc.
16


Câu 5: Đồng chí hãy vận dụng mối quan hệ giữa chính trị với KT và thực tiễn đổi mới
của cách mạng Việt Nam để làm sáng tỏ bài học sau: “kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mời
KT với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới
chính trị” (VK ĐH VIII, NXB CTQG Trang 71)
Bài làm
-Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện (1986-1996) và 5 năm thực hiện nghị
quyết ĐH Đảng lần thứ VII. Đất nước ta đã vượt qua 1 giai đoạn thử thách, gay go, khủng hoảng
trầm trọng về KT-XÃ HỘI. Trong những hoàn cảnh hết sức khó khăn phức tạp đó, nhân dân ta
không những đứng vững, kiên trì tiến lên CNXH mà còn vươn lên đạt thắng lợi nổi bật trên nhiều
mặt. Để tổng kết chặng đường đổi mới 10 năm qua, trong ĐH VIII đã đánh giá và rút ra một số bài

Kinh tế quy định tính chất và kiểu quan hệ giữa các lĩnh vực khác nhau trong đời sống
xã hội (đạo đức, pháp luật, tình cảm…)
-Trong khi nhấn mạnh vai trò của cơ sở hạ tầng (KT) đối với KTTT (CT), quan điểm của CN
Mác-Lênin khẳng định rằng chính trị mặc dù bị kinh tế quyết định nhưng CT lại có tính độc lập
tương đối và có sự tác động trở lại KT rất mạnh mẽ.
+ Về mặt lý luận: theo CN Mác-Lênin thì kiến trúc thượng tầng (CT) cũng có sự tác động trở
lại đối với cơ sở hạ tầng (KT) và ý thức xã hội cũng có sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội.
+Về mặt thực tiễn: do nhận thức được quy luật KT khách quan, KTTT (CT) có vai tró định
hướng cho quy luật KT, mang lại phương án tối ưu cho phát triển KT và phục vụ vì lợi ích của GC.
Với ý nghĩa đó, chính trị ra đời tồn tại và phát triển trên cơ sở nó có vai trò to lớn tác động đến kinh
tế theo những quy luật KT khách quan.
17


+ Biểu hiện của CT đối với KT:

Chính trị định hường cho kinh tế phát triển nhưng phải dựa trên quy luật khách quan,
nhận thức được quy luật khách quan. Tuy nhiên muốn định hướng thì chủ thể chính trị phải có
kiến thức, tri thức, trình
độ nhất định để nhận thức đúng quy luật, để định hướng đạt mục tiêu KT phục vụ vho giai
cấp.

Chính trị có nhiệm vụ lựa chọn mô hình chiến lược phát triển KT, mô hình KT đúng,
chính xác thì lợi ích của GC được thực hiện tốt.

Chính trị tham gia vào việc điều tiết, lựa chọn tốc độ phát triển kinh tế. KT phát triển
phải tương ứng với phát triển xã hội nếu không thì có thể gây ra bất ổn về chính trị. Vì vậy, nhà
nước phải điều chỉnh cho cân đối tô1c độ phát triển giữa các ngành, các lĩnh vực của nền KT.

Vai trò tác động của chính trị tác động đến các chủ thể KT: một thành phần KT được

chính trị đề ra, thì chính trị vẫn cản trở hoặc để cho KT phát triển chệch hướng, trái với đường lối
chính trị đã chọn. Ví thế, chính trị cũng phải tự đổi mới, phải có cơ cấu tổ chức phương thức hoạt
động, thiết chế vận hành phù hợp với cơ sở KT.
+ Nghiên cứu về mối quan hệ giữa KT và CT sẽ tránh được 2 khuynh hướng đó là: Tuyệt
đối hoá CT nhất là trong điệu kiện KT hàng hóa nhiều thành phần thì sẽ dẫn tới phủ nhận vai trò
lãnh đạo của Đảng, hoạt động quản lý của nhà nước. Tuyệt đối hoá vai trò của chính trị sẽ dẫn tới
chủ nghĩa duy tâm duy ý chí.
-Hai luận điểm của Lênin về mối quan hệ giữa CT với KT:
+ “Chính trị là biểu hiện tậo trung của KT”: Lênin khẳng định chính trị phả ánh KT nhưng nó
không phản ánh giản đơn; KT như thế nào thì CT phả ánh như thế đó. Song nó không như tấm
18


gương soi. Sự hình thành, tồn tại vàphát triển của chính trị là trên cơ sở những đòi hỏi khách quan
của sự phát triển KT.
o
Chính trị phả ánh tập trung KT có nghĩa là: Nó phải phản ánh được lợi ích KT của GC
và phản ánh được bản chất của một chế độ kinh tế, nó phản ánh cái cốt lõi (cơ bản), bền vững trong
KT.

Nó phản ánh một cách khái quát tất cả các khuynh hướng KT nhưng nó phải làm nổi
bật khuynh hướng chủ đạo.

Nó phản ánh được ý chí sức mạnh, sự đoàn kết của một GC để thực hiện được lợi ích
KT của chính GC mình.
o
Chính trị biểu hiện tập trung của KT nên chính trị phải mang trong mình tính quy định
KT khách quan, nghĩa là chính trị phản ánh những yêu cầu, điều kiện của KT khách quan, sự phản
ánh đó thể hiện trong cấu trúc hệ thóng chính trị, trong phương thúc hoạt động của các thành tố hệ
thống chính trị, trong các quyết sách chính trị.

Mặt khác, trong KT dù cải tổ hay đổi mới như thế nào cũng phải luôn giữ vững hệ tư tưởng chính trị
vì hệ tư tưởng CT quy định phương hướng mục tiêu, bản chất của chế độ xã hội. Lênin viết: “không
có một lập trường chính trị đúng thì một GC nhất định nào đó không thể nàogiữ vững được sự thống
trị của mình và do đó không thể hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong sản xuất”. (lênin toàn
tập, Tập 43 Trang 300)

Trong điều kiện cách mạng XHCN, sự ưu tiên của CT so với KT là tất yếu để xây
dựng CNXH. Giành, giữ và sử dụng quyền lực CT và xây dựng nền KT mới.

Phải có quan đieểm chính trị khi giải quyết cácvấn đề KT.

Sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước đối với phát triển KT là khách quan.

Chính trị phải được ưu tiên và giữ hàng đầu so với KT vì chính trị có khả năng can
thiệp 1 cách tự giác vào quá trình kinh tế khách quan.
Từ luận điểm trên đảng ta rút ra 03 bài học cơ bản sau:
19



CT có ổn định thì KT mới phát triển.

Mọi chủ trương phát triển KT của đảng và nhà nước phải góp phần bảo vệ thành quả
cách mạng đã đạt được như: độc lập, thống nhất, những thành quả đổi mới của nước ta…

Phải có quan điểm chính trị đúng khi xử lý các vấn đề KT như: vấn đề dân tộc và GC,
quan hệ làm ăn với nước ngoài phải vì lợi ích của dân tộc…
-Mối quan hệ giữa CT và KT trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay:
+ Trước ĐH Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), trong công cuộc cách mạng XHCN Đảng ta đã
chủ quan, nóng vội mắc phải nhiều sai lầm về một số vấn đề có tính chiến lược như mô hìnhKT,

Đổi mới các nhân tố trong hệ thống chính trị là đổi mới: Đảng, nhà nước và các tổ chức chính
trị-xã hội trong hệ thống chính trị của nước ta. Đổi mới Đảng là nâng cao năng lực và sức chiến đấu
của Đảng để đáp ứng được vai trò lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới. Đổi mới nhà nước là
nâng cao vai trò điều hành quản lý của nhà nước, xây dựng một nhà nước pháp quyền XHCN, là nhà
nước quản ly,ù điều hành xã hội bằng pháp luật, là nhà nước thật sự dân chủ, nhà nước của dân, do
dân và vì dân. Ngoài ra, các đoàn thể quần chúng nhân dân phải thực sự là cầu nối giữa Đảng-nhà
nước-nhân dân. Đồng thời giải quyết tốt các vấn đề xã hội, giải quyết về quan hệ giai cấp sao cho
phù hợp.
2)
Định hướng XHCN nhưng vời nền KT hàng hóa nhiều thành phần:

20


-nhất quán phát triển KT hàng hóa nhiều thành phần là phù hợp quy luật vận động khách quan
của lịch sử. CNXH là hình thái KT-xã hội cao của lịch sử phát triển của xã hội loài người, và có khả
năng dung nạp nền KT hàng hóa nhiều thành phần.
-Nền KT hàng hóa nhiều thành phần định hướng XHCN quy định cấu trúc, tính chất phương
thức hoạt động của hệ thống chính trị XHCN và các quyết sách chính trị do hệ thống chính trị đưa
ra. Ngược lại, hệ thống chính trị và các quyết sách chính trị phải phản ánh yêu cầu thực trạng và quy
luật khách quan của quốc tế, định hướng cho sự phát triển KT hàng hóa nhiều thành phần
-Đảng ta chủ trương nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, định hướng XHCN, có nghĩa là
mục tiêu CNXH phải giữ vững. CNXH phải tiếp cận nền KThh nhiều thành phần mới phát huy được
tiềm năng của xã hội, tính năng động sáng tạo của các thành phần KT và phù hợp với quy luật phát
triển chung.
3)
Kinh tế hàng hóa nhiều thành phần luôn đặt dười sự lãnh đạo của Đảng:
Khi chuyển sang nền KT theo cơ chế thị trường với nhiều hành phần KT thì có nhiều người
cho rằng nền KT nhiều thành phần tất yếu phải có đa thành phần trong chính trị. Điều này đã được
Đảng ta lý giải là phát

Để giữ vững định hướng XHCN trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần phải có nhà
nước mạnh mới có thể làm hạn chế những khuyết tật vốn có của nền kinh tế thị trường. Đây là một
nguyên tắc, lịch sử cho thấy nhà nước quản lý điều hành làm cho nền KT-xã hội ổn định, nếu không
thì nó sẽ trỏ thành một nền KT-xã hội vô tổ chức, vô kỷ luật. Vì vậy, để giữ vững ổn định xã hội và
21


nền kinh tế luôn luôn phát triển nhà nước phải tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần KT thông
qua chính sách, cong cụ KT ở phạm vi vĩ mô nền KT
5)
Cần phải đổi mới hệ thống chính trị cho phù hợp đổi mới KT:
Chủ thể chính trị của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một hệ thống chính trị
XHCN do Đảng CS lãnh đạo, còn chủ thể KT là chủ thể của các hình thức sở hữu khác nhau. Các
chủ thể Kt đều có một mục tiêu chung là yêu nước nhưng về lợi ích KT-xã hội thì khác nhau và hoàn
toàn không đồng nhất. Để chủ thể chính trị phản ánh tập trung Kt thì trước hết đổi mới và nâng cao
hiệu lực hoạt động của hệ thống chính trị phù hợp với quá trình đổi mới kT. Đó là:
-đổi mới, chỉnh đốn Đảng, tăng cường và nâng cao hiệu lực của các tổ chức cơ sở Đảng và
Đảng viên; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ đời sống KT-xã hội phù hợp với
yêu cầu và quy luật khách quan của nền KT.
-Đổi mới bộ máy nhà nước và hướng tới là xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, nghĩa là
nhà nước quản lý điều hành xã hội bằng pháp luật, là làm cho bộ máy nhà nước đủ mạnh để lãnh đạo
toàn bộ nền KT quốc dân. Nhà nước đủ mạnh thì đủ sức điều khiển bánh xe KT thị trường theo quỹ
đạo XHCN và tiến lên CNXH, CNCS mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho toàn dân tộc.
-Đổi mới các đoàn thể quần chúng nhân dân là làm cho các tổ chức này với tư cách là đại diện
cho lợi ích của nhân dân lao động. Làm được điều đó có nghĩa là góp phần tạo ra động lực cho quá
trình đổi mới, xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN.
Đồng thời với việc đổi mới hệ thốnh chính trị là phải luôn giữ vững và ổn định chính trị.
Kết Luận:
Nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa chính trị với KT và vận dụng đúng đắn mối quan hệ
đó là một trong những vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay.

1, Khái niệm về Đảng chính trị:
Đảng chính trị ra đời trog long xã hội phong kiến, lúc đầu GCTS chỉ là những nhóm, những
phái được nhân dân ủng hộ. Họ có tiếng nói của mình trong những cơ quan đại diện của nhân dân,
sau đó họ tham gia vao quốc hội của xã hội phong kiến. Lúcđó GC PK rất mạnh, nó có thể giải tán
Quốc Hội. Ví vậy, vai trò của Đảng chính trị rất mờ nhạt. Đảng chính trị chỉ khẳng định được địa vị
chính trị của mình khi GC TS nắm được quyền lực chính trị, đặc biệt là sau 2 cuộcchiến tranh thế
giới thì Đảng chính trị phát triển rất mạnh mẽ. Ngày nay định nghĩa về Đảng chính trị có nhiều quan
niệm khác nhau. Song, tựu trung có 2 loại quan điểm để trả lời cho 3 câu hỏi. D0ó là: Đảng là của
ai?;mục đích ra đời của Đảng là gì?;bằng phương pháp nào để đạt được mục đích đó?.
-các học giả TS cho rằng: Đảng là của một số người tự nguyện, có chung lí tưởng, mục tiêu
chính trị, quyền lực nào đó; mục đích ra đời của Đảng là giành quyền lực nhà nước và bằng phương
pháp bầu cử để Đảng tham gia nắm chính quyền.
-Quan đểm của CN Mác-Lênin: Đảng là của một GC, đại biểi lợi ích của một GC, là sản phẩm
của một GC. Mục đích ra đời của Đảng để giành chính quyền nhà nước; bằng phương pháp cách
mạng bằng bạo lực cách mạng. Ngày nay, xu hướng giành chính quyền bằng con đường nghị trường,
bầu cử dân chủ. Nhưng thực tế cho thấy chưa có Đảng nào giành thắng lợi. Chính chế độ đa Đảng và
bằng con ường nghị trương thì có nhiều nước lại bị thất bại và bị mất chính quyền.
2, Vai trò của Đảng chính trị trong d0ời sống xã hội:
-Về tích cực:
+ Đảng chính trị lãnh đạo cácGC và các tầng lớp xã hội trong cuộc đấu tranh chính trị, khi
hoạt động của Đảng phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử thì Đảng sẽ kết hợp tốt giữa lợi ích
GC với lợi ích dân tộc. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh là thời chống pháp Đảng ta thực hiện được
lợi ích GC và lợi ích dân tộc, dân tộc và GC đã lôi kéo được nhiều nhân sĩ, chức sắc tôn giáo, họ từ
bỏ địa vị cao sang của mình theo cách mạng và đứng hẳn về phia cách mạng như: Huỳnh Thúc
kháng, Trần Đại Nghĩa…
+ những Đảng có xu hương tiến bộ thì luôn tham gia tích cực vào đời sống chính trị của đất
nước. Điều này thể hiện nếu Đảng không bảo vệ lợi ích của đất nước, của dân tộc thì Đảng đó không
còn vai trò của một Đảng tiến bộ của GC. Đồng thời, những Đảng có xu hướng tiến bộ luôn quan
tâm lãn đạo các cuộc bầu cử và hướng các cuộcbầu cử đó ngày càng công bằng, dân chủ; quan tâm
việc xây dựng và hoà thiện hệ thống pháp luật để hướng tới nhà nước pháp quyền hiện đại. Đồng

dân tộc, Đảng đã lãnh đạo nhân dân vược qua bao gian nan thử thách đưa cách mạng đi từ thắng lợi
này d9ến thắng lợi khác, viết tiếp những trang sử oai hùng của dân tộc. Sự lãnh đạo đúng đắn và
sáng suốt của Đảng là nhân tố quyềt định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Đó là, Đảng lãnh
đạo nhân dân tiến hành cách mạng thàng tám thành công lập nên nước Việt Nam DCCH, đánh thắng
các cuộc đấu tranh xâm lược, xoá bỏ chế độ thực dân PK, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc
thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc tổ quốc
Việt Nam XHCN.
-Chúng ta biết rằng, chế độ một Đảng hay nhiều Đảng là sự phản anh kết quả so sánh lực
lượng trong đấu tranh chính trị, đấu Tranh GC. Nó là sản phẩm của điều kiện lịch sử cụ thể ở từng
nước. Ơû nước ta không có sự cần thiết khách quan để lập nên cơ chế chính trị “đa nguyên, đa
Đảng”. Chấp nhận “đa nguyên, đa Đảng” thực chất là mở đường cho sự ra đời và tồn tại của các
Đảng phái phản động trong và ngoài nước có điều kiện ngóc đầu dậy một cách hợp pháp chống phá
sự nghiệp cách mạng, đi ngược lại lợi ích của nhhân dân lao động và của toàn dân tộc. Vì vậy, không
lẽ gì nhân dân ta chiến đấu thống nhất đất nước đi lên CNXH nay lại chấp nhận cho những lực lượng
phản động, thế lực thù địch trong và ngoài để xoá bỏ mọi thành quả cách mạng, nắm quyền thống trị
buộc nhân dân ta trở lại kiếp sống nô lệ lầm than.
-Xuất phát từ bài học kinh nghiệm quốc tế: sự sụp đổ của chế độ XHCN ở LX và đông Aâu.
Đó là, các thế lực thù địch tung ra luận điệu xuyên tạc (vi phạm dân chủ, vi phạm nhân quyền, thiếu
tự do hoá chính trị vì chế độ một Đảng lãnh đạo…) hòng ép buộc chúng ta chấp nhận “đa nguyên, đa
Đảng” chỉ nhằm mục đích xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, từ đó xoá bỏ chế độ XHCN ở nước ta.
bằng trí tuệ và kinh nghiệm xương máu của mình, toàn Đảng, toàn quân, tòn dân ta ý thức sâu sắc
trách nhiệm giữ vững và tăng cương vai trò lãnh đạo của Đảng. Đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn
đối với cách mạng Việt Nam.
2, Những biện pháp chủ yếu:
Cách mạng nước ta đã chuyển sang thời kì mới: “tiếp tục xây dựng CNXH, bảo vệ tổ quốc
XHCN và đẩy mạnh công nghiệp hoá, HĐH đất nước”. Công cuộc CNH, HĐH đất nước theo định
hướng XHCN do Đảng khới xướng là một sự nghiệp lớn lao; song rất khó khăn, gian khổ nhất là
trong bối cảng phong trào cộng sản và CN quốc tế lâm vào thoái trào, CNTB vẫn đang còn những
sức sống mãnh liệt, đang lũng đoạn nền chính trị và KT TG. Tình hình đó đặt ra yêu cầu khách quan
là phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng. Đây là bài học cơ bản xuyên suốt của cách mạng Việt

của Đảng. Sai lầm đường lối, chính sách hoặc có đường lối chính sách đúng mà thực hiện không tốt
hoặc không thực hiện, thậm chí còn làm sai thì không giữ được lòng tion của nhân dân đối với Đảng.
Đồng thời từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN và đổi mới Đảng để Đảng ngang tầm với vai
trò, nhiệm vụ lãnh đạo xã hội, thật sự đại diện cho lợi ích của nhân dân lao động và của dân tộc.
+ Kiện toàn một bước tổ chức, bộ máy của Đảng và nhà nước theo tinh thần NQ TW 7 (khoá
VIII) là khắc phục đượctình trạng cồng kềnh, chồng chéo, kém hiệu lực, hiệu quả làm cho tổ chức
Đảng phù hợp với điều kiện của một Đảng cầm quyền. Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của
Đảng là làm cho nhàa nước trong sạch vững mạnh, thật sự là nhà nước của dâ, do dân và vì dân.
Nâng cao chất lượng toàn diện, trước hết là chất lượng chính trị của tổ chức bộ máy nhà nước cũng
chính là giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng. Đồng thời ngăn chặn và bài trừ tệ quan
liêu, tham nhũng, lãng phí; nâng cao hiệu lực quản lí, điều hành đất nước là làm cho nhà nước thật
sự là trụ cột của hệ thống chính trị. Làm được các vấn đề trên thì vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng
càng được củng cố vững chắc.
-Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng và trong bộ máy nhà nước
trên cơ sở nâng cao tinh thần trach nhiệm và ý thức chấp hành kỉ luật của cán bộ Đảng viên. Thực
hiện tốt phê bình và tự phê bình theo tư tưởng của HCM và tinh thần nghị quyềt TW 6 lần 2 (khoá
VIII); thực hiện nghiêm túc quyền Đảng viên về cung cấp thông tin, quyền
chất vấn cấp uỷ và cán bộ lãnh đạo, quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của cán bộ lãnh
đạo, của tập thể cấp uỷ không để xảy ra tình trạnh thao túng quyền lực của cán bộ lãnh đạo cao nhất,
cấp uỷ chỉ là cái bình phong nơi hợp thức hoá ý muốn của cá nhân.
-Tiếp tụ đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của mặt trận và cácđoàn thể nhân dân sát
cơ sở, sát nhân dân nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn lợi ích và nguyện vọng của đoàn viên, hội viên
về viếc làm, đới sống về yêu cầu phát huy dân chủ và tính công khai; đồng thời với việc tổ chức kiện
toàn bộmáy của các đoàn thể nhân dân trên cơ sở gọn nhẹ và hiệu quả. Làm được những vấn đề
25


Trích đoạn Quyết sách chính trị đề ra mụctiêu và định hướng cho cách mạng (kể cả GC VS và GC TS) Đây là nội dung cơ bản nhất, quan trọng nhất Minh chứng là quyết sách chính trị cùa Đảng ta
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status